MÔNG CỔ

Cát Bụi Cuộc Đời

Tuư Việt

 

 

PHẦN   II

Sa Mạc

 

 

Vị trí địa lư của Mông cổ khá xui xẻo.  Nó vừa nằm sâu trong đất liền, lại bị lọt giữa hai cái gọng kềm khổng lồ Nga và Trung Hoa; bao nhiêu đất đai mầu mỡ đều ở trong tay của hai ông láng giềng này cả rồi. Giới thiệu với du khách Mông cổ chỉ có những vùng sa mạc bao la ở phía nam, giáp biên giới Trung hoa. Lẽ ra đó là biên giới Nội Mông, nhưng từ lâu vùng này đă bị Trung cộng nuốt chửng.  Hỏi chính quyền có muốn lấy lại phần đất này không th́ được biết không, vả lại chính các bộ tộc trong vùng Nội Mông lâu nay đă kết hôn cùng các bộ tộc thuộc Trung cộng và lần lần họ cũng quy thuận theo Tàu rồi.

 

Đó là những dăy cồn cát dài ngút ngàn lóng lánh màu bạch kim dưới ánh nắng chiều.  Dầu vậy, trông nó không có vẻ rực rỡ hay phô trương hào nhoáng mà có vẻ chịu đựng và âm thầm.  Những hạt cát mịn màng đă chịu đựng những trận cuồng phong, thổi tung lên từ muôn hướng, về đến đây th́ hết sức lực, đành rơi xuống... Từng hạt, từng hạt gom lại, ẩn nhẫn, nương náu cùng nhau, chung nhau số phận đ́u hiu, buồn như sa mạc.

 

 

 

Cồn cát Khongor, dài 180km, rộng 25km, 600 m trên mặt nước biển 

 

 

Du khách, lạc đà và cồn cát

 

     

Đó là khoản cách dài 650 cây số từ Ulaanbaatar.  Ra khỏi thủ đô không bao xa đuờng đi không c̣n tráng nhựa nữa.  Những đọan đường không gập ghềnh mà xe cứ lắc lư như ngồi vơng.  Nh́n ngút mắt chỉ đồng trống mênh mông, tận chân trời là những đỉnh núi nhấp nhô.  Nắng dần lên, nóng dần lan, song một cơn gió thoảng qua mang lại cái  mát dễ chịu.  Qúa trưa gió bắt đầu mạnh.  Gió phần phật, gió vun vút, gió rầm rầm, gió xoáy tung bụi đất lên cao từng cột, gió tung cát mù trời ...

 

 

Một trại trọ trong sa mạc, mỗi ger là 1 pḥng ngủ

 

 

 

 

Bên trong ger

                         
 

Chiều xuống, chỉ mới vượt qua hơn 1/3 đoạn đường.  Trạm dừng chân là một "trại trọ" thay v́ khách sạn.  Các pḥng ngủ là những trại h́nh tṛn như căn nhà của dân Mông cổ, gọi là ger.  Tôi xin được dùng chữ ger để diễn tả v́ dùng chữ lều hay trại đếu không h́nh dung được nó như thế nào. Ger là căn nhà của dân du mục Mông cổ.  Tiêu chuẩn mỗi cái có đường kính 6.5mét, cao chừng hai mét đến nóc. Chung quanh có tường bằng gỗ hay tre đan theo h́nh  thoi do đó có thể xếp lại được.  Bao quanh tường là ba lớp vải, lớp ngoài có thể chống thấm, lớp trong để làm đẹp, giữa là một lớp vải bố bằng len  rất dày để cho ấm.  Bên trong ger, giữa trung tâm là cái bếp, đồng thời là cái ḷ sưởi.  Giường ngủ được kê hai bên phải và trái, đều là giường chiếc.  Phía trước mặt có  thể để thêm giường ngủ nếu cần, nếu không th́ đó là nơi đặt bàn thờ  hay tài sản của gia đ́nh. Nóc nhà cũng một ṿng tṛn, đường kính chừng 1 mét,  được chống bằng hai cái cột cách nhau bằng đường kính ṿng nóc.  Từ nóc nối vào tường là các song gỗ (đ̣n tay), thường có 64 song.  Nếu muốn làm ger rộng hơn th́ phải gia tăng các ṿng tṛn đồng tâm từ nóc để gia tăng số "đ̣n tay".  Cái ger lớn nhất Mông cổ hiện nay là một nhà hàng tại cố đô Kharakhorum, đường kính 35mét.

 

Rải rác trong các khu vực ngoài thành phố Ulaanbaatar đều có các trại trọ như thế.  Tùy theo quy mô đầu tư, mỗi trại trọ có thể có từ mười đến 40 ger.  Đêm đầu tiên khi vào vùng sa mạc, tôi trọ tại một trại tư nhân, có 10 ger. Chủ nhân là một cặp vợ chồng trẻ, có hai con và có hai cô phụ việc là những học tṛ làm việc vào mùa hè.   Từ thành phố đến đây hết 250 cây số đường sa mạc.  Mùa hè chiều xuống rất chậm, 9 giờ tối vẫn c̣n ánh nắng mặt trời.  Nắng tắt, ánh điện chạy bằng năng lượng mặt trời cũng lung linh huyền ảo giữa chốn đồng không mông quạnh bao la.  Một tiếng đồng hồ sau, điện tắt.  Bóng đêm tràn lan…

 

Nửa khuya, ánh trăng hạ tuần đă ngả màu vàng yếu ớt không đủ làm sáng một phần của khoảng không bao la và trống vắng như sa mạc.  Bóng ger im ỉm trên mặt đất lẫn cát sỏi, buồn như cô phụ. Im lặng, hoàn toàn im lặng, không một tiếng dế kêu, không tiếng sương rơi, không tiếng lá xào xạc. Nửa đêm về sáng gió ngừng thổi để lại cái lạnh buôn buốt đủ cho du khách cảm thấy thích thú quấn ḿnh vào chăn, đắm ḿnh trong giấc ngủ b́nh an như những con chiên bên máng cỏ.

 

Mùa hè ngày thức dậy sớm, b́nh minh đă ló dạng nhưng đây đó vẫn c̣n những tiếng thở đều đặn của du khách đang đắm ḿnh trong giấc ngủ say.  Không một tiếng chim kêu, không tiếng gà gáy sáng, không tiếng chó sủa khan, không tiếng người rủ nhau ra đồng làm việc, không ai trỗi khúc nhạc mừng ngày mới. Ngoại trừ ánh nắng ban mai nhấp nhánh như là một âm thanh báo hiệu sự thức dậy, khắp nơi vẫn lặng im, ngay cả bầy thú được thả ra cũng không một tiếng kêu vui mừng. Tám giờ sáng, du khách trở dậy, lục tục lên đường, trả lại cái im vắng, lặng lẽ, mênh mông cho trại trọ, có ai hẹn ngày trở lại không?

 

Ơn trời phật, cuối cùng du khách cũng đến được nơi muốn đến.  Nh́n lại đoạn đường sau lưng thật không hết bàng hoàng.  Cả một vùng sa mạc bao la, nh́n từ phải sang trái không thể ước lượng bao nhiêu trăm cây số, trước mặt th́ ngút ngàn trời đất, có lúc băo cát làm mờ đục cả không gian như sương mù San Francisco, không có một biển chỉ đường hay một dấu hiệu cho biết vùng này là vùng nào, c̣n cách đích đến bao xa; thế mà tài xế vẫn lái xe băng băng.  Nh́n trong xe, không thấy bản đồ cũng không thấy la bàn, tôi thắc mắc không biết khi nào th́ quẹo phải, khi nào th́ quẹo trái và phải chọn lằn xe nào khi có ba bốn lằn xe chồng lên nhau,  tài xế đáp căn cứ vào màu sắc và h́nh thể dăy núi trước mặt để chọn hướng!!!

 

 

Sa mạc bao la

 

 

 

 

Cồn cát ở Bayangobi
 

Dẫu đă thành thuộc, đă có kinh nghiệm 24 năm chạy sa mạc, cứ mỗi 15-20 cây số, tài xế phải dừng xe, t́m gặp một cư dân địa phương để hỏi xem ḿnh có đi đúng đường không.  Tua gai giải thích đó là tục lệ của sa mạc, dù biết rằng ḿnh đi đúng đường cũng cần phải tái xác định với người cư ngụ tại địa phương. Các công ty du lịch rất tin tưởng vào tài năng của các tài xế chạy sa mạc bởi v́ họ vừa là người dẫn đường, vừa là tài xế, vừa là kỹ thuật viên khi xe có chuyện trục trặc.  Lên xe là trao sinh mạng của ḿnh cho tài xế, lỡ xe bị hư dọc đường hoặc bị tai nạn, hoặc tài xế có mệnh hệ ǵ th́ chỉ có một khả năng duy nhất là chết khô, không thể kêu cứu ai giúp, không điện thoại, không trạm thông tin, không trạm liên lạc, không bạn đồng hành...

 

 

 

Lên xe là trao sinh mạng cho tài xế

 

 

 

Nếu lỡ bị lạc trong sa mạc th́ chỉ có một khả năng duy nhất là ...chết khô

 

Thỉnh thoảng trên đường đi cũng gặp những bầy cừu, dê, ngựa hay lạc đà nhẩn nha gặm những ngọn cỏ khô, như thế là biết có người ở gần đâu đó, ít ra du khách cũng bớt căng thẳng phần nào.  Nhưng gần đâu đó có khi là 5-10 cây số bởi v́ chủ nhân thường cho súc vật đi ăn xa đến vậy, chiều họ sẽ cỡi ngựa đến lùa súc vật về. Nh́n đàn cừu và ngựa có khi lên tới hàng trăm con, tôi thắc mắc tại sao chủ nhân không bán chúng đi để lấy tiền vào thành phố đầy đủ tiện nghi mà sống th́ được trả lời "cái tâm hồn người ta như thế, họ chọn sống với thiên nhiên, tinh thần thanh thản, thoải mái, họ không muốn vào thành phố"

“Thế khi họ bịnh th́ sao?”

 

“Thật là lạ, hầu như họ không hề ốm đau ǵ cả mà chỉ có người ở thành phố mới bị bịnh.  Nhưng nếu không may bị bịnh th́ họ sẽ chữa trị bằng cách chọn các thức ăn có tính cách trị bịnh.  Nếu bịnh nặng th́ ăn thịt ngựa, họ cho rằng thịt và sữa ngựa rất qúy, không những tăng cường thể lực mà c̣n có thể trị được một số bịnh nào đó.  Vài hôm nữa các bạn sẽ có dịp ghé thăm một gia đ́nh du mục và sẽ có dịp nếm sữa ngựa.  Sữa ngựa có nồng độ cay như bia, uống nhiều có thể say đấy.  Đặc biệt, muốn vắt sữa ngựa, người ta phải  dẫn hay cột con ngựa con bên cạnh con ngựa mẹ, sau đó mới bắt đấu vắt sữa.  Làm thế để ngựa mẹ tưởng con con đang bú, b́nh thường ngựa mẹ chẳng cho ai chạm vào vú của nó (xem h́nh trên).  (Tôi đă thử sữa ngựa và đă bị nổi mề đay đến ba hôm mới hết.)

 

 

Vắt sữa ngựa

 

 

Là sa mạc nhưng ở đây may mắn có nguồn nước và có mưa cho nên có cỏ cho súc vật.  Nguồn kinh tế của cư dân là chăn nuôi.  Những con vật vừa là gia sản, vừa là thực phẩm cho gia đ́nh.  Họ ăn thịt và các thực phẩm từ sữa thú quanh năm suốt tháng, chẳng có một ngọn rau hay một thứ quả ǵ cả.  Thông dụng  nhất là thịt cừu.  Họ trữ thịt bằng cách xắt mỏng, tẩm một ít gia vị rồi phơi khô hoặc hong khói bếp. 

 

 

Cho súc vật uống nước

 

 

 

Dê cừu tự kiếm ăn trong sa mạc

 

 

Đặc biệt họ ăn thịt con marmot, một loài vật cùng họ với sóc, nhưng sống trong hang đào dưới đất.  Những con vật này rất nhanh nhẹn và rất nhát.  Chỉ cần thoáng thấy bóng hay nghe tiếng động là nó tót ngay vào bất cứ cái hang nào gần nhất cho nên tôi chưa có dịp nh́n nó tường tận.  Muốn bắt nó, người ta phải đội nón có mặt và đôi tai lừa bởi v́ khi thấy mặt lừa con marmot sẽ mất phản ứng, đứng ngớ ra, trố mắt nh́n, người ta chỉ việc chụp lấy, bỏ vào giỏ.  H́nh con marmot bên đây được trích từ trang wikipedia.

 

 

 

Ngoài cừu, dê, ḅ, họ c̣n nuôi con yak, một động vật tương cận với ḅ để lấy thịt, sữa và lông.  Họ  làm phó mát từ sữa yak, đấy là một thực phẩm đắt tiền, có lẽ v́ lượng sản xuất th́ ít mà lại hợp khẩu vị với mọi người.

 

 

Con yak

 

Rải rác trong sa mạc vắng người nổi lên những đống đá lớn nhỏ không đều nhau.  Ra đó là các ovoo, một biểu tượng của niềm tin tôn giáo.  Các ovoo thường được các nhà sư tạo nên bằng cách cắm một khúc cây xuống đất rồi đặt vài viên đá dưới gốc.  Những người đi đường qua đó sẽ biểu lộ niềm tin của ḿnh vào đấng thiêng liêng bằng cách đi ba ṿng, ḷng cầu nguyện, và quăng ba ḥn dá vào đó. Các ovor cứ thế mà lớn lên dần dần, cái nào càng lớn là càng lâu đời. 

 

 

                                 Ovoo

 

Cư dân trong sa mạc không biểu lộ một biểu tượng tôn giáo nào, nhưng nói chung, trước thế kỷ 20, Phật giáo là quốc giáo, với 1/3  nam nhân là tu sĩ. Trong hai tự viện lớn nhất của Mông cổ (Onggi và Erdene Zuu) c̣n lưu giữ hai thánh phẩm tượng trưng cho tín ngưỡng của ho.  Thứ nhất là cái xương sọ của một vị cao tăng được dùng để làm chén uống nước hay sữa cho các vị cao tăng đang tại thế.  Họ cho rằng khi uống nước đựng trong cái xương sọ này th́ tất cả tinh túy, thông minh, sáng suốt của vị tăng đă khuất sẽ theo đó mà nhập vào ḿnh, và giúp cho ḿnh sớm giác ngộ.  Thứ hai là khúc xương đùi của một thiếu nữ đă chết, được dùng làm cái kèn để thổi trong các đám ma.  Người ta tin rằng âm thanh phát ra từ cái kèn này sẽ giúp linh hồn người chết sớm tiêu diêu miền cực lạc. (Thật đáng tiếc, cái máy h́nh của tôi đă bị người ta móc túi mất rồi nên chi tôi không có h́nh để chứng minh cho lời ḿnh nói.)

 

Niềm tin là thế, nhưng cuộc sống rày đây mai đó không cho phép người du mục theo đúng nguyên tắc tôn giáo.  Với họ, khi đă hoàn tất cuộc sống trên trần thế, gia đ́nh sẽ tôn trọng mặc niệm, xong đem người chết ra để ngoài đồng hoang cho chim ăn. Đơn giản có thế, sống th́ có mặt, chết về với cát bụi trong dạng này hoặc dạng khác.  Tuy nhiên, không phải đơn thuần chết là làm thực phẩm cho chim mà thôi.  Những kẻ sống thiếu đạo đức, sống với tâm ác độc muốn hại người th́ lúc chết chim cũng lánh xa không thèm ăn.  Chúng sợ ăn thịt những kẻ này cũng bị lây tính ác và đo đó kiếp sau chúng cũng bị đoạ lây. V́ thế chúng để vậy cho xác thối, rữa ra rồi tan thành đất.  Nghĩ lại, người Việt có câu "thứ đồ diều tha quạ mổ" để chỉ những kẻ lang chạ , trắc nết ... thật là không đúng.  Thứ này khi chết rồi diều cũng sợ không dám tha, quạ cũng xa, không dám mổ, đừng tưởng diều quạ không có linh tính hoặc súc vật vô tri, vô giác.

 

Chim ăn thịt động vật

 

Đất đai mênh mông, nhưng sống mùa hè phải lo mùa đông: năm nay dọn nhà đi đâu, phải theo hướng nào, ai chỉ đường cho họ?  Xin thưa, màu sắc của loài hoa dại trên sa mạc là kim chỉ nam cho ho. Loài hoa này mỗi năm trổ một màu khác nhau, khi màu trắng, khi màu vàng, màu hồng v..v.. Căn cứ vào màu hoa mà người du mục quyết định sẽ đi theo hướng nào khi mùa đông đến.  Ví dụ, nếu hoa nở màu trắng, họ sẽ đi về hướng bắc, nơi có núi thấp hơn, có ít gió hơn v..v... và hầu như họ chưa bao giờ chọn sai hướng.  Ngày nay, du mục chỉ c̣n một hướng: mùa hè cứ thoải mái ra các miền quê xa để hưởng hương đồng, cỏ sa mạc, mùa đông tất cả phải du về thành phố hay các đơn vị làng xă, để trốn lạnh và để cho con cái đi học.

 

Tiếng là thành phố hay làng xă, nhưng mỗi khu tập trung như thế chỉ là một thôn nhỏ với chừng vài mươi nóc gia, có một trạm xăng, có văn pḥng cơ quan nhà nước, chẳng thấy khu buôn bán hay cửa hàng cửa họ hay chợ búa ǵ cả.  Tuy nhiên trên lộ tŕnh du lịch cũng có một vài địa điểm  bán các sản phẩm địa phương cho du khách. Thôn lớn hơn th́ có trường học.  Trường học ở đây bao luôn từ lớp một cho đến lớp 11.  Hệ thống giáo dục của họ là cấp 1 bốn lớp, cấp hai bốn lớp và cấp ba ba lớp.  Được biết năm học tới nhà nước sẽ cải tổ giáo dục theo hệ 12 năm như các nước khác trên thế giới.

 

 

H́nh trên đây là thành phố Kharakhorum, cố đô của Mông cổ.  Đây là kinh đô của Mông cổ vào thời đại Thành Cát Tư Hăn.  Biết bao nhiêu thế kỷ đă trôi qua mà thành phố vẫn thế; con người có đổi thay theo thời trang thời đại, nhưng nhà cửa, cơ xưởng  sản xuất không có ǵ khác hơn.  Có thể coi thành phố này là kiểu mẫu phố thị của Mông cổ.  Nhà không quay mặt ra đường mà được xây bao quanh lại với nhau thành từng lốc, mỗi lốc có chừng năm ba gia đ́nh.  Nhà không có số, phố không có tên, địa chỉ gởi thư bằng bưu điện là khu vực. Tôi nghĩ người ta sống vậy cũng phải v́ thành phố có bao lớn, cư dân cũng chẳng bao nhiêu.  Hết một phần ba dân số(chín trăm ngàn) tập trung tại thủ đô Ulaanbaatar, 2/3 c̣n lại trải rộng trên một triệu rưỡi cây số vuông, thế th́ cần ǵ tên đường hay số nhà!

 

 

 

Một khu tập trung(hay làng) của Mông cổ

 

 

Mông Cổ , Cát Bụi Cuộc Đời

Trang Túy Việt

art2all.net

 

 

              

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THƠ VĂN
 

ART2ALL.NET

 

LINKS : H́nh ảnh Mông Cổ