Lê Thu Hương

ANH LÀ QUÊ HƯƠNG

 

Khoảng mười giờ sáng ngày 29 tháng tư năm 1975 sau khi đến thăm người anh bà con đường vào hồ tắm Chi Lăng, anh cho biết may ra gia đình tôi có thể thoát ra khỏi Việt Nam, tránh giặc Cộng bằng đường máy bay, những chiếc máy bay trực thăng của quân đội Mỹ có bổn phận di tản thân nhân của họ.

 

Tôi và cậu em chạy vội về nhà. Sau vài câu nói ngắn ngủi với mẹ, tôi dẫn hai con nhỏ, Kim gần năm tuổi và Lan gần bốn tuổi ra xe, chiếc xe màu be nhạt đang đậu trước cửa nhà hàng xóm. Chị Nga và ba tôi với bé Quỳnh hơn hai tuổi cùng chui vào chiếc xe bé tí. Trống ngực tôi đập mạnh, mặt tái lại vì không có thì giờ từ giã người thân. Kim, Lan và Quỳnh yên lặng, gương mặt lộ vẻ sợ hãi. Mặt mọi người căng thẳng lo âu.

 

Tôi không hiểu sao lúc đó tôi và em lại dẫn các con nhỏ dại ra khỏi nhà. Một quyết định liều lĩnh của tôi, một con nhỏ mít ướt. Tôi như con gà mẹ trong bước đường cùng, đánh chuyến bài chót, tử sinh một lần. Khoảng mười phút sau chúng tôi tới địa điểm. Những hàng rào kẽm gai bao quanh, bên ngoài hàng rào khoảng vài người cũng như gia đình tôi đứng nhìn khoảng đất trống bên trong hàng rào. Chẳng có chiếc máy bay nào cả, bên trong hàng rào chừng vài chục người lính súng trong tay đi qua đi lại. Tôi cầm tay hai con ngao ngán nhìn quanh. Ngoài đường vài chiếc xe chạy vụt qua.

 

Nắng nhè nhẹ. Ra khỏi xe tôi tìm chỗ đứng cạnh hàng rào kẽm gai nhìn xem có cách nào vào bên trong khoảng đất trống. Cảm giác lơ lửng như người tìm vận may biến mất vì tôi biết rằng nếu máy bay có đáp xuống bãi trống, tôi cũng không đủ sức để chạy hay leo lên máy bay. Còn cái hàng rào kẽm gai làm sao tôi và con nhảy qua được. Chung quanh tôi phần lớn là đàn ông. Tôi đứng đó lòng trống rỗng, biết mình rồi cũng về nhà mà thôi.

 

Ba ngày trước tôi dẫn con cùng chị Liên và em Cát tìm đường ra Phú Quốc với hy vọng gặp ba mấy đứa nhỏ, rồi trở về Sàigòn đem toàn gia đình ra đảo. Không ngờ mới đến Phú Lâm chúng tôi phải trở về vì quân ta và quân giặc đang quần nhau trên các thửa ruộng xanh rờn. Cả ngày chờ ngoài xe, đói lả chúng tôi trở về nhà. Tuy thất vọng nhưng lại mừng còn gặp mặt cha mẹ, chị em.

 

Thời gian qua nhanh hay chậm và tôi đứng đó bao lâu tôi cũng không biết. Tôi nhìn con, nhìn khoảng đất trống, nhìn các người lính bình thản trong bộ quân phục, tôi tự nhiên thấy yên lòng. Yên lòng như những ngày trong Tết Mậu Thân. Các người lính của ngày 29 tháng tư năm 1975 thật bình tĩnh cho tôi cái cảm giác rằng chuyện Việt Cộng vào thành phố là chuyện không thể tin được. Thành phố của tôi đây, nhà cửa người thân tôi đây, các người hùng bảo vệ quê hương tôi đây.

 

Tại sao tôi lại bỏ chạy thế này. Tôi làm họ mủi lòng, tôi làm họ đau xót trong gìờ phút chót. Tôi thật hèn nhát. Tôi chỉ biết lo cho bản thân tôi mà quên họ, những anh lính hy sinh đời họ cho tôi, gia đình tôi ngày nào. Ngày mai, nếu chuyện động trời sẽ đến. Giặc tràn vào đây, các anh lính này sẽ chết. Trong cơn hồng thủy này khi họ nằm xuống ai là người kề cận thương yêu. Mắt tôi cay cay, tôi đang phản bội những người cầm súng, tôi đang phản bội quê hương, tôi đang phản bội chính tôi và tôi đang phản bội lý tưởng tôi hằng theo đuổi. Tôi là ai đây, tôi mê man, tôi đau khổ trong gìờ phút chót. Tôi chọn nghề gõ đẫu trẻ, tôi chọn làm vợ lính, tôi không muốn làm việc với người ngoại quốc, tôi ôm trọn một Việt Nam trong tim.

 

Tôi đứng đó mà như không đứng đó...cho tới khi nghe một giọng nói ấm, trầm bên tai. Giọng anh chàng lính trẻ: “Nhà là chốn bình an nhất. Cô nên đem con về, vì chỉ vài phút nữa đây, chốn này không còn bình yên nữa.”
 

Nỗi sợ hãi làm tôi không thốt nên lời cám ơn. Tôi chạy tìm Cát, em trai tôi, ba tôi, chị tôi cùng các con về nhà. Vừa lái xe ra khỏi nơi đó vài phút, tôi nghe tiếng súng nổ lạch tạch bên tai như những tiếng pháo ngày tết. ..

 

Hình ảnh người đó, một người lính trẻ, tôi gặp kế vòng đai phi trường Tân Sơn Nhất, cái nhìn như một người thân, cử chỉ đĩnh đạc nghiêm túc, lời nói thân tình. Tuy anh là người lạ, sao như có tình máu huyết trong tôi. Anh hiên ngang, can trường đối diện kẻ thù của những giây phút chót, tôi hèn nhát tìm đường mang con mình lìa quê.

 

Hình ảnh anh, người chiến sĩ trong giây phút cuối cùng của miền Nam đã theo tôi gần một phần tư thế kỷ. Trong tim một người nữ, người đàn bà với hai đứa con gái nhỏ đứng ngơ ngác kế hàng rào kẽm gai. Anh lại gần nói nhỏ: 'Nhà là nơi bình an nhất'.

 

Anh cho chúng tôi sự sống trong khi anh lại gần cõi chết. Mỗi khi nghĩ đến Việt Nam, hình ảnh Anh lại ngời sáng trong tôi như một vì sao trong vòm trời đen tối. Anh là Việt Nam trong tâm hồn tôi từ đó. (Anh với chiếc mũ sắt màu ô liu, bộ quân phục cùng màu, gương mặt thông minh.)

 

Hằng năm khi nắng bắt đầu sưởi ấm cỏ cây, khi thuỷ tiên nở sớm đang xếp hàng ngoài ngõ, muôn ngàn cánh đào hồng bay bay trong không gian, hình ảnh Anh lại trở về sinh động trong tôi. Tôi thầm nhủ muôn triệu lần, giá quê hương có nhiều người như Anh, nước mình đâu rơi vào cảnh đọa đầy. Anh là cội tùng trong giông bão. Cho dù một phần tư thế kỷ nữa có trôi qua, hình ảnh anh vẫn sáng ngời như ánh sáng hải đăng cho con tàu tìm bến, trong câu chuyện của ba đứa con gái nhỏ và người mẹ năm xưa.

 

Xin cảm tạ Anh ...xin cảm tạ Anh ...xin cảm tạ Anh.

 

Lêthuhương

( trích Văn Hữu số 16, Xuân 2012)

 

 

 

trang lê thu hương

 

art2all.net