Tôi được đọc
bài thơ Chiếc Áo Cũ của nhà thơ Lâm Anh hai
năm trước trên tờ báo giấy tạp chí văn học nghệ thuật Thư
Quán Bản Thảo do nhà văn Trần Hoài Thư và nhà văn Phạm Văn
Nhàn chủ trương. Tôi thích đọc thơ, nhưng chỉ thích một hai
câu thơ trong một bài, nhưng khi đọc Chiếc Áo Cũ
tôi bị cuốn hút vào không gian thời gian ngày xưa cũ. Tôi
đọc một mạch không ngừng nghỉ, tim bồi hồi xúc động. Thơ mà
như truyện, cô đọng, bi phẫn, như một biển mù sương, một
rừng muộn phiền của một thế hệ người lính miền nam. Thơ mà
như một bức tranh muôn màu sắc, thơ mà như một cuộn phim.
Tôi có cảm tưởng Lâm Anh trong cơn đồng thiếp, trang trải
hết nỗi muộn phiền xót xa bầm dập của anh, của bạn bè anh,
của người thân, của những người sống sau vĩ tuyến 17. Tôi
mang bài thơ trong hồn, đọc cho bạn bè và nghe tiếng thở dài
cùng những nghẹn ngào. Một bài thơ năm chữ, giàu nhạc điệu,
giàu hình ảnh, giàu suy tư qua các chữ rất đời thường. Những
con chữ đủ để anh lặng câm, đủ để chị rơi lệ, mẹ cúi mặt,
cha nhăn mày và tôi thở nhẹ, lặng thầm. Thượng Đế rất xa và
bất hạnh quá nhiều. Hòa bình không cơm áo, không nhà ở, và
bị hành hạ đến tận cùng kiếp con người.
…
Ta đứng thay áo mới
Như mặc vào vạn phương
Áo thơm mùi rạ ấm
Ô không! Mùi máu xương
….
Ta sờ tay vô túi
Mới hay rằng trong áo
Có bóng chiều ải quan
Có bóng người thua trận
Chân bước về hoang mang
….
Ôi ai về trong áo
Mang thánh giá trên lưng
Mang mộ sầu trên mặt
Râu tóc đầy dao găm
…
Chiếc Áo Cũ như một niệm khúc, như tiếng hát
bi thương, như một bài kinh cầu hồn.
Nhận được điện thư của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên cho biết nhà
văn Trần Hoài Thư đang xuất bản tập thơ Quá Giang Thuyền
Ngược. Vài ngày sau trong tháng sáu 2010, nhà văn Trần Hoài
Thư gửi tặng tôi tập thơ Quá Giang Thuyền Ngược của Lâm Anh.
Tập thơ dầy 157 trang, tôi thích các bài thơ ngắn, cô đọng,
tràn đầy ngậm ngùi.
Thân phận nhà thơ
Cũng vì người
Ôi ! Mặt trời vẫn mọc ở phương Đông
Loài chim khôn còn hót được trong lồng
Thì dù ta chỉ còn đôi cánh lá
Cũng vì người mà trổ hết mùa bông
Tình yêu thấp thoáng trong thơ Lâm Anh
Xuân Ý
Tình đã già-Tờ lịch đã trẻ con
Xin em hãy vì hoa mà Nguyên Đán
Để anh như chim khuyên còn luyến tổ
Chẻ rừng ra bay tuốt những nụ chào
…
Em không về…mẹ vẫn chiều đi chợ
Rau trong vườn vẫn ngó cải thơm tươi
Chỉ tội nghiệp dưới tàn cây mận trắng
Chiếc lá rụng nào cũng giống lá tình thư
…
Em không về …những hàng tre bụi trúc
Vẫn nghiêng theo chiều gió bấc gió nồm
Chỉ tội nghiệp cứ mỗi mùa lúa chín
Nỗi đợi chờ ủ trong rạ trong rơm
…
Tình mẹ muôn thuở
…
Bạc tóc cũng dụi vào lòng mẹ
Muốn khóc to thời buổi lên ba
Mẹ cười nước mắt pha màu khói
Một vầng trăng trong bếp hiện ra
…
Tiếng loa loa xé lòng nát ruột
Kinh-tế-mới tìm áo ấm cơm no
Mẹ đã gù lưng thêm gánh nặng
Lên rừng vá áo giúp cho con
Mũi kim như mũi đời tê điếng
Mẹ nhìn trời ngỡ chiếc-áo-quan
(Bài ca sau ngày hòa bình)
thân phận bạn bè…
…
Có đứa ngoi lên từ cõi chết
Trở về áo máu giữa nhà giam
(Bài ca sau ngày hòa bình)
Nhưng nhiều nhất vẫn là một đời sống tẻ nhạt, sầu buồn và
quá nhiều bất hạnh của anh. Lâm Anh chỉ còn mượn con chữ thì
thầm vớì chính mình những đau thương chung ngày hậu chiến.
…
Ta bỗng khùng điên từ dạo đó
(Bài ca sau ngày hòa bình)
Viết bài này tôi không có chủ đích phê bình hay phân tích,
tôi muốn giới thiệu thơ Lâm Anh đến bạn đọc với lòng yêu mến
các giòng thơ và tâm hồn một nhà thơ. Thi/văn sĩ Trần Hoài
Thư viết về Lâm Anh trên trang giới thiệu tập thơ Quá Giang
Thuyền Ngược: “…Thơ ông chính là hơi thở. Và hơi thở
chính là thơ ông. Ông gánh dùm khổ nạn. Ông chở dùm hạnh
phúc. Ông mang dùm quê hương. Ông tải dùm mồ hôi và nước mắt.
Ông hít thở dùm sương mù, sương muối ở vùng heo hút Cát Tiên.
Ông hứng dùm bát trăng trên vùng núi đồi trùng điệp. Ông mặc
dùm chiếc áo cũ tang thương.”
Chúc nhà thơ Lâm Anh có sức khoẻ, và sáng tác. Đa tạ môt tấm
lòng yêu mến con chữ Việt trong những buồn thảm ngày hậu
chiến.
Lê Thu Hương