VĂN HỮU

Số 19 Mùa Đông 2012

____________________________________________

 

Bích Hoài 

 

Về Hạnh Phúc

 

 

     

Hạnh phúc, hắn nói (hắn đây là người bạn chí thân của tôi, thân như bóng với h́nh), không biết ở bến bờ nào, ở thời gian nào. Nó là một ảnh tượng nhạt nḥa, một áng mây mờ ảo, một làn khói mỏng manh, một giọt sương lóng lánh mau tan.

Tiền tài, danh vọng, cho dù chúng ta có được, cũng không đem đến hạnh phúc. T́nh yêu, gia đ́nh, việc làm, thường đem đến cho chúng ta nhiều sự căng thẳng thần kinh hơn là niềm vui. Cho nên chúng ta khó hiểu được ư nghĩa của hạnh phúc. Và chúng ta dấn thân đi t́m nó. Vậy mà, như trong bản nhạc của Trần Ngọc Sơn:

Hạnh phúc lang thang như mây,

Cho hồn héo gầy, khi ta c̣n đây,

Từng đêm qua trong giấc mơ,

Vẫn mong chờ có em về.

 

Nhưng, hắn nói tiếp, phải chăng chúng ta thường đi lạc lối. Con đường đi t́m hạnh phúc chênh vênh, bất trắc, sai lầm.

Các nhà thơ là những người hay nêu ra vấn đề mộng và thực. Hăy nghe nhà thơ Lăm Thúy hỏi:

Hạnh phúc dường như nói để chơi

Phải chăng không có thực trên đời?

 

Cô đương kim Chủ tịch Văn Bút VN Hải Ngoại miền Đông Bắc Hoa Kỳ, ở Virginia, có danh vọng mà nhiều nhà văn khác không có, c̣n hoài nghi về hạnh phúc, chứng tỏ hạnh phúc khó đạt tới một cách trọn vẹn.

Nh́n về phương đông, nh́n về phương tây, từ xa trong quá khứ, Oliver Burkeman đưa chúng ta đến một nhóm người khác thường có mối suy tư cá biệt, lạ lùng về cuộc đời. Cho dù là những nhà tâm lư học thực nghiệm, những chuyên viên khủng bố, những Phật tử, những người tư vấn tài chánh trong thương trường, những triết gia Hy Lạp, hay những nhà dẫn dắt tinh thần trong đời sống hiện đại, tất cả đều biện luận rằng trong cuộc sống cá nhân của chúng ta, hay nới rộng ra, trong xă hội, có một nỗ lực thường xuyên mưu cầu hạnh phúc và sự thành công, nhưng chung qui lại làm chúng ta thảm hại. V́ thế, có hai con đường đối chọi trong lựa chọn, một dẫn dắt chúng ta đến thất bại, bi quan, bất an, lưỡng lự và một là chúng ta để hết cuộc đời trong cố gắng tránh những thứ đó.

Và cuốn The Antidote (Thuốc giải độc) của Oliver Burkeman, một cuốn sách khêu gợi tư duy, chống trực giác, nâng cao tri thức, hướng dẫn con người trí tuệ được xuất bản.

Oliver Burkeman là một kư giả và cũng là một nhà văn chuyên về tâm lư học. Cuốn sách của Burkeman đă mở đầu với lời trích dẫn của Edith Wharton: “Có nhiều cách đi đến bất hạnh, nhưng chỉ có một con đường t́m được sự thoải mái, và đó là ngưng chạy theo hạnh phúc.

Mục đích của Burkeman là t́m sự hạnh phúc cho những người không chịu đựng nổi sự áp bức chính thống của “tư tưởng tuyệt đối” và tự ḿnh cố tŕnh bày những nhân vật tách khỏi cuộc ganh đua phe phái nghẹt thở của đời sống hiện đại.

Những kết luận của Burkeman được biểu hiện trong lời hay ư đẹp của Lăo Tử. triết gia Trung Hoa, trong Đạo Đức Kinh, theo đó th́ “ Khi quốc gia được cai trị nhẹ tay, người dân tự nhiên, mộc mạc. Khi quốc gia được cai trị hà khắc, người dân thất vọng, lánh xa. Họa bắt nguồn trong phúc. Phúc ẩn ḿnh trong họa.” (Kỳ chính muộn muộn, kỳ dân thuần thuần. Kỳ chính sát sát, kỳ dân khuyết khuyết. Họa hề phúc chi sở ỷ. Phúc hề họa chi sở phục). Và Burkeman biện luận, chúng ta nên hưởng thụ cuộc hành tŕnh càng nhiều càng tốt và xử trí với cái cuối đường khi nó đến. Đó là một ư tưởng đơn giản, nhưng lại là một ư tưởng tươi vui và làm đẹp ḷng người.

Trong cuốn sách, ở chương một, chúng ta thấy một diễn giả nói về cái bí mật của hạnh phúc nhân sinh. Đó là tiến sĩ Robert H. Schuller, một mục sư 83 tuổi, với nước da màu cam, không có chút nào làm nổi bật sự khả tín của ông ta. Qua câu chuyện, người ta hiểu “một điều sẽ măi măi làm thay đổi cuộc đời của chúng ta.” Diễn giả nói: “Hăy loại bỏ ngôn từ ‘bất khả thi’ ra khỏi cuộc đời của các bạn! Loại bỏ hẳn! Loại bỏ măi măi.” Diễn giả nói tiếp: “Các bạn hăy làm chủ vận mệnh của ḿnh! Hăy suy tư bao quát và có giấc mơ rộng lớn hơn!”

Cái lô-gích trong triết lư của Schuller chính xác ra không phức tạp. Nó bao gồm suy tư về hạnh phúc và thành công, loại bỏ bóng ma của buồn thảm và thất bại, và rồi niềm hạnh phúc và sự thành công sẽ đến. Nói tóm lại, hăy nắm lấy động cơ thúc đẩy.

Ngay cả cho rằng hạnh phúc là một mục tiêu đáng giá th́ một hố bẫy tệ hại chờ đó làm giảm cơ hội đạt đến hạnh phúc. Triết gia John Stuart Mill nhận xét “Hăy tự hỏi xem ḿnh có hạnh phúc không và bạn sẽ không thấy hạnh phúc.” Dường như là hạnh phúc chỉ được nh́n gián tiếp qua khóe mắt hơn là nh́n trực diện.

Anh bạn tôi lưu ư, tương tự như thế, chúng ta nhớ, trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC, nhà văn Bỉ Amélie Nothomb được hỏi quan niệm của cô về hạnh phúc. Amélie không trả lời khẳng định là có hay không. Cô chỉ nói là cô sống trong cuộc đời. Mà trong cuộc đời có hạnh phúc. Hàm ư là cô có hạnh phúc một cách gián tiếp. Cái tam đoạn luận đó có đúng hay không th́ tùy theo phán đoán của mỗi người.

Chúng ta có khuynh hướng nhớ lại rằng ḿnh có hạnh phúc trong quá khứ hơn là ư thức được ḿnh có hạnh phúc trong hiện tại. Hạnh phúc thực ra không thể định nghĩa bằng ngôn từ. Ngay cả giả thiết rằng ḿnh có thể định nghĩa hạnh phúc, chung cuộc lại có rất nhiều định nghĩa khác nhau, bằng với số người trên quả địa cầu. Hạnh phúc và t́nh yêu là hai ư niệm liên kết với nhau nhưng khó định nghĩa nhất. Chẳng thế mà Xuân Diệu đă hỏi: “Làm sao cắt nghĩa được t́nh yêu?”

Các tôn giáo cũng không bao giờ nhấn mạnh rơ rệt về vấn đề hạnh phúc, ít nhất là trên thế giới này. Các triết gia chắc chắn là không đồng ư với nhau về quan niệm hạnh phúc. Bất cứ nhà tâm lư học tiến hóa luận nào cũng sẽ nói với chúng ta rằng thuyết tiến hóa ít quan tâm đến hạnh phúc của chúng ta, ngoài việc đoan chắc rằng chúng ta không thờ ơ hay khốn khổ trong ư muốn tạo ra hạnh phúc. Các triết gia thuộc trường phái Khắc kỷ ở Hy Lạp và La Mă nhấn mạnh đến những lợi ích của việc luôn luôn suy ngẫm về khía cạnh tiêu cực của sự việc, gần với giáo lư của nhà Phật thuyết giảng sự an tâm đích thực nằm trong mối lo âu về sự bất an. Họ nhận định rằng chúng ta không bao giờ thực sự đứng trên một nền đất vững chắc, giống như truyền thống memento mori (có nghĩa là nhắc đến cái chết hay nhắc đến những thất bại và lỗi lầm của con người) của thời Trung cổ, một truyền thống ca tụng những lợi ích trong đời sống khi không bao giờ quên lăng cái chết. Quan niệm này gắn liền với các nhà văn đời mới mà tác phẩm gần đây dựa trên ḍng tư tưởng chính yếu của khoa tâm lư học nhận thức, luận về bản chất tự khuất phục của tư duy thực chứng. Quan niệm này cũng giải thích tại sao các nhà tư tưởng trong giới kinh doanh của thế hệ mới đang cố vấn cho các công ty hăy bỏ rơi sự ám ảnh đặt ra chỉ tiêu mà thay vào đó nên lo đến sự bất trắc có thể xảy ra. Trong những năm gần đây, vài nhà tâm lư học đạt tới kết luận cho rằng chủ nghĩa bi quan thường có thể là lành mạnh và phong phú hơn chủ nghĩa lạc quan.

Căn bản của tất cả quan niệm trên nằm trong nguyên tắc mà các triết gia của thập niên 1950 và 1960, như Alan Watts đáp ứng lại Aldous Huxley, dán cho nhăn hiệu ‘luật nỗ lực nghịch đảo’ hay ‘luật hướng hậu’ là khái niệm cho rằng, trong mọi phạm vi, từ đời sống cá nhân của chúng ta đến khoa chính trị học, tất cả những cố gắng làm cho mọi việc thành đúng phần lớn lại là làm sai. Hay, theo như lời của Watts, “Nếu bạn cố gắng ở trên mặt nước, bạn sẽ ch́m xuống đáy; nhưng nếu bạn cố gắng ngụp xuống nước, bạn lại nổi lên và sự bất an đó là kết quả của những toan tính tạo sự an toàn. Trong nhiều trường hợp, theo Huxley, “Chúng ta càng ra sức làm với ư thức một việc nào đó, chúng ta càng kém đạt được thành công.”

 

Quan niệm về hạnh phúc theo tôn giáo và triết học

1.- Phật giáo: Các h́nh thức hạnh phúc là chủ đề cốt lơi của giáo lư nhà Phật. Để có sự giải thoát tối hậu khỏi sự khổ đau, Bát Chính Đạo đưa Phật tử đến Niết Bàn, một trạng thái b́nh an vĩnh cửu. Hạnh phúc tối hậu chỉ đạt được bằng cách vượt qua ái dục dưới mọi h́nh thức. Phật giáo cũng khuyến khích ḷng yêu thương và sự trắc ẩn, ước vọng tạo hạnh phúc và phúc lợi cho chúng sinh.

2.- Công giáo: Ư nghĩa sơ khởi của hạnh phúc trong các ngôn ngữ của Âu Tây bao hàm vận may, cơ hội hay sự việc ngẫu nhiên phát sinh. Cuối con đường của kiếp nhân sinh nằm trong hạnh phúc được Thomas Aquinas mô tả như là sự Phong Chân Phúc của Chúa trong đời sống tiếp theo. Những phức tạp của con người, như lư trí và nhận thức, có thể tạo ra hạnh phúc, nhưng h́nh thức đó chỉ là nhất thời. Trong cuộc sống tạm, sự chiêm ngưỡng Chúa là niềm hân hỷ tối cao. Beatitudo, hay toàn phúc, có được không phải trong đời này mà trong đời sau.

3.- Khổng Tử: Khổng tử chủ trương không chỉ có học qua sách vở mà c̣n chú trọng đến giao tiếp xă hội. Đó là cái đức lớn của nhân loại. Có lẽ Ngài là nhà tư tưởng đầu tiên biện luận rằng chúng ta có cái năng lực tự biến cải. Ngài nói chẳng cần biết cha mẹ thuộc đẳng cấp nào, nếu chúng ta không tu dưỡng đức nhân, chúng ta không xứng đáng là con người quyền quư và không có thể tham chính. Sách Đại học đưa ra ba cương lĩnh: minh minh đức, thân dân và chỉ ư chí thiện; tám điều mục: cách vật, trí tri, thành ư, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ.

4.- Mạnh Tử: Khoảng 2.300 năm trước, Mạnh Tử, khi t́m cách tư vấn cho những nhà lănh đạo chính trị, những vua chúa, thuyết phục họ rằng trí óc đóng một vai tṛ trung gian giữa thân xác (bản thân sinh lư) và huệ năng (bản thân tinh thần). Khi có được những ưu tiên đúng giữa hai cái đó là thành hiền nhân, hiền triết. Ngài biện luận rằng nếu chúng ta cảm thấy hài ḷng hay thích thú trong việc nuôi dưỡng “sinh lực” với “những nhu cầu chính đáng,” cái sức mạnh đó sẽ cô đọng lại. Chúng ta kinh nghiệm niềm vui khi thực hành đại đức, đặc biệt là qua âm nhạc.

5.- Thánh Augustine và Thomas Aquinas: Theo hai bậc chân tu này, cái bước cuối cùng của con người là hạnh phúc. Tuy nhiên, trong khi những người theo chủ nghĩa thực lợi nhắm vào hậu quả như là phương tiện đạt tới hạnh phúc th́ Thomas Aquinas cho rằng hạnh phúc không thể đạt tới được chỉ bằng lư luận đơn thuần về những hậu quả của hành vi, mà c̣n đ̣i hỏi một sự theo đuổi những nguyên nhân đúng của hành vi, những thói quen hợp với đạo đức. Những thói quen và hành vi đó đưa tới hạnh phúc, qua luật thiên nhiên và luật thiêng liêng, tạo ra bởi nguyên nhân đầu tiên là Thượng Đế. . . . . . . . . . . . . . . .

Hắn ngừng lại, nh́n tôi, mỉm cười: “Thôi th́ nói đông nói tây, làm anh bối rối. Tuồng như là tôi đă đưa anh quá xa vào một rừng cây âm u, rậm rạp, không có lối về. Chẳng qua đó là lời dẫn nhập lê thê trong vấn đề hạnh phúc, giống như một ca sĩ cải lương nói lối dông dài trước khi ca mùi mẫn sáu câu vọng cổ.

V́ một sự ngẫu nhiên nào đó, tôi có trong tay một tuyển tập truyện ngắn, vừa mới xuất bản của nhà văn nữ Linh Vang, cuốn Bến Hạnh Phúc, và đó cũng là tựa đề truyện ngắn đầu tiên của quyển sách. Câu chuyện rất nhẹ nhàng. Một mối t́nh không đam mê, cuồng nhiệt. Một cô gái có cha mẹ ly dị. Ly dị chẳng là một vấn đề ǵ to tát ở cái xă hội đương thời. Mười bảy tuổi, nàng rời bỏ mẹ theo cha, một người cha độc đoán, quyết định mọi chuyện theo ư ông, đến sinh sống ở một nơi khác. Người mẹ ẩn nhẫn ở lại, không một lời oán trách. Ở đây, trong truyện, không có hận thù công khai. Mọi người cứ để cho ḍng đời tuôn chảy. Ra đi, nàng cũng cam đành bỏ lại một mối t́nh thanh mai trúc mă mới chớm nở. Nhưng rồi ông bố mất đi. Ở tuổi 29, nàng đă có sự nghiệp, nhưng cũng làm một chuyến trở về thăm mẹ, t́m lại cảnh cũ, người xưa. Một bụi cây hoa lilac, giống như ngày xưa khi nàng ở nhà, đón chờ người lữ khách trở về. Người con trai của mối t́nh đầu, lớn hơn nàng một tuổi, vẫn c̣n đó đợi chờ. Chàng giờ đây là một bác sĩ. Đợi chờ là cái giá của đau buồn cam chịu. T́nh mẹ, t́nh yêu vẫn c̣n đó trong thầm lặng. Lời trách móc của cô con gái hỏi sao trong bao nhiêu năm mẹ không t́m con, không liên lạc thư từ, điện thoại, cũng rất nhẹ nhàng. Trong cuộc sống, nàng chỉ vâng theo lời cha. Cha nàng đă cắt đứt các mối dây liên lạc của ông, của con gái, ngăn chặn các cuộc gọi điện thoại, liên lạc thư từ với mẹ. Những bức thư mẹ nàng viết cho nàng đều bị gửi trở về. Trước kia, ông đă phản đối mối t́nh của cô con gái, v́ thấy sự cách biệt địa vị giữa hai gia đ́nh.

Bà mẹ và ông bố đă lầm lẫn lấy nhau khi không có t́nh yêu. Cô con gái là con của một người khác. Một bí mật vừa mới được tiết lộ cho nàng.

Mọi nhân vật trong truyện đều bị cuốn vào mắt băo, quay cuồng, để chỉ định h́nh lại vào lúc cuối, ở bến hạnh phúc.

Hạnh phúc ở cuối con đường, ở cuối cuộc hành tŕnh kéo dài 12 năm. Cái hạnh phúc đó cũng không lấy ǵ làm to tát. Nhưng có hạnh phúc vẫn hơn.

Hạnh phúc ở đây cũng nhẹ nhàng như câu chuyện. Người ta không thể trách người cha. Người ta không thể trách người mẹ. Người ta cũng không thể trách cô con gái. Những lầm lẫn trong cuộc sống bị xóa tan với cái chết của người này, với sự tiếp tục sống của người kia. Ḍng đời cứ thế trôi đi. Người ta phải hướng về tương lai. Một tương lai cũng bí ẩn như quá khứ, v́ ở đâu cũng có sự bất ngờ.”

 

Bích Hoài

 

Trang Văn Hữu

 

art2all.net