VĂN HỮU

Số 24 Mùa Xuân 2014

____________________________________________

 

Trần thị LaiHồng 

 

NHỮNG CÁNH MAI VÀNG

 


          Trong ước mơ đem quê hương lại gần, Vườn Quê Xa mang khát vọng tạo dựng lại phần nào những dấu tích từng in đậm trong đời, đặc biệt qua cây hoa trái rau cỏ. Năm nay Giáp Ngọ 2014, thời tiết có bất thường nhưng cả hai mươi cội Mai trong vườn rủ nhau lần lượt nở, không cùng đúng hẹn vào dịp Tết, nhưng cũng vui Xuân, dù có chút muộn.

Nh́n hoa, nhớ ba mươi mấy năm trước, khi bước chân phiêu dạt đến định cư tại thành phố nhỏ Vancouver tiểu bang Washington xanh măi ngàn xanh Tây Bắc Hoa Kỳ, vùng ôn đới, mùa Xuân ngập tràn Hoa Đào: trắng Phú Sĩ, hồng Sakura Nhật, hồng Quan San, hồng thẫm Mộc Qua… Thiếu vắng hoa Mai nên quá nhớ, tưởng đêm mộng Mai vàng đến trổ bông, bèn viết một bài nhắc lại màu hoa thân thương quen thuộc: Những Cánh Mai Vàng.

 

Mùa Đông năm đó lạnh khác thường. Trận băo băng bao trùm trọn dọc bờ biển Tây Bắc Hoa Kỳ vào khoảng hai tuần trước Tết Nguyên Đán. Trời trong suốt không gợn mây, thứ trong suốt buốt giá của pha lê. Tuyết phủ khắp nơi, không trắng xóa màu sữa đục mà là thứ tuyết thủy tinh long lanh chói chang dưới ánh mặt trời.

Những rặng thông tùng bách xanh um của tiểu bang Washington evergreen state được tráng thêm một lớp tuyết pha lê, sừng sững bất động, ngời sáng uy nghi phong cách bên ḍng Columbia cực Nam tiểu bang. Bên kia sông là Portland, thành phố Hoa Hồng, thủ phủ tiểu bang Oregon.

Vancouver trồng nhiều hoa Đào dọc theo các con lộ. Những cây Đào mùa Đông trụi lá vươn cành gầy khẳng khiu giang tay đứng chịu giá băng, cũng can cường không kém đám thông tùng bách ṿi vọi.

Mỗi sáng tôi thường đi bộ dưới rặng Đào trên quăng từ băi đậu xe đến trường Đại học. Tôi may mắn được nhận giúp chương tŕnh giảng dạy Anh ngữ cho người tỵ nạn, vừa làm việc toàn ngày vừa học vào buổi tối để lấy thêm vài chứng chỉ.

Rặng Đào là những người bạn thầm lặng không lời nhưng thật thân thương. Chúng vẫn được nghe tôi tỉ tê nhiều chuyện xẩy ra nơi quê hương bên kia bờ Thái B́nh Dương. Mẹ gửi thư cho biết căn nhà đường Quang Trung Nha Trang đă được chiếu cố làm nhà nghỉ cho các đại cán; dăy nhà nhiều pḥng khu Xóm Mới th́ lại thành khách sạn. Mẹ lang thang Huế Nha Trang Sài G̣n nay đó mai đây nhưng không hề nghĩ chuyện sẽ qua Mỹ đoàn tụ, mà chỉ muốn ở lại tới lui thăm viếng chăm sóc khu mộ gia đ́nh. Chị báo tin đứa cháu trai tuổi vừa mười tám đi nghĩa vụ tận Xứ Chùa Tháp sau hai năm trở về với đôi nạng gỗ. Anh học tập cải tạo măi tận Sơn La năm năm chưa về.

Bạn hữu có người trước công chức nay cách chức xuống cấp ngày ngày lội bộ đi chà đồ nhôm lê la các khu chợ kiếm thêm chút chất tươi cho gia đ́nh, trong khi vợ trước đây giáo viên nay chạy kiếm mối mua bán đổi chác hàng ngoại và t́m móc nối đường giây chui. Một bạn giáo sư trung học trước được miễn dịch v́ là con một, nay bị kết tội có nhận ân huệ của ngụy nên phải học tập tẩy năo, vợ và hai con nhỏ đôn đáo tay xách nách mang một mủng bánh kẹo bán rong bán dạo qua ngày. Những bà con trước có nhà riêng nay phải thu gọn một pḥng, để các gia đ́nh ngoài Bắc vào ở chung hoặc chiếm ngụ, nên bị lùa đi kinh tế mới. Một bạn dược sĩ trước có dược pḥng nay phải hiến tặng nhà nước để đổi chân dạy Đại học lương tháng chỉ bằng giá một ống kem đánh răng Colgate ở Mỹ, và căn nhà khang trang phải cúng dường cho thủ trưởng.

C̣n bao nhiêu, bao nhiêu người nữa, thay h́nh đổi dạng, không c̣n là nhà giáo, nhà văn, bác sỹ, kỹ sư, kiến trúc sư, chuyên viên… mà là bà bán hàng rong, chị bán bánh ú bánh tét bán chè bán cháo vỉa hè, bác phu xích lô, chú chạy xe ba gác, anh lái xe ôm, may ra là anh chàng sách bán chạy bên lề đường…

Chuyện sách, có chiến dịch phần thư khanh nho chẳng khác chi thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu đốt sách chôn nho. Đám công an lùng sục nhà này qua nhà nọ lôi hết sách báo gọi là đồi trụy, gom về châm lửa thiêu rụi, mong đốt được tâm thức, tư tưởng trong đầu thiên hạ, trong tâm người, quyết xóa cho kỳ được dấu vết văn hóa một thời hưng thịnh của miền Nam.

Hàng xóm láng giềng tránh né nh́n nhau chẳng dám chuyện tṛ sợ những cặp mắt cú vọ lạ hoắc chung quanh. Không ai được rời nơi cư ngụ về quê nếu không có giấp phép di chuyển.

Một diễn biến ngấm ngầm âm ỷ nhưng lan tràn thật mạnh, là vượt biên vượt biển, mua băi, đi chui... Vượt biên đường bộ băng rừng lội suối qua Miên qua Thái, bất chấp mọi nguy cơ ŕnh rập sẵn sàng đổ ập. Người người ào ạt hàng loạt vượt biển chui hay vượt biển đăng kư, bán chính thức hay công khai theo quy định của nhà nước cấu kết vơ vét với chủ ghe chủ thuyền. Không thiếu những vụ “bể mánh” công khai hay ngụy tạo nổ ḿn vỡ tàu, để xác người trôi dạt tấp vào bờ, từ Vũng Tàu, Tiền Giang Hậu Giang, Cần Thơ, Bến Tre, Rạch Giá… Gia đ́nh ly tán, lận đận khốn đốn ba ch́m bảy nổi chín lênh đênh trên biển Đông nhung nhúc hải tặc; có khi vượt thoát, lắm lúc bị lừa bị lộ, bị bắt về vào tù cải tạo chỉnh huấn, có khi lạc hướng dạt vào vô định, hết nhiên liệu, sạch lương thực, người chết đói trở thành nguồn sống cho kẻ c̣n lại…

Trọn gia đ́nh người bạn từ thuở c̣n chung đường đến trung học, là phu nhân của một vị tướng, cũng như trọn gia đ́nh Kỹ sư Trưởng Khu Công chánh Miền Trung, từng cùng chia ngọt xẻ bùi dưới lằn đạn Mậu Thân 1968 tại Nha Trang, và nhiều gia đ́nh khác, đă ra đi không trở lại. Không đạt nguyện ước t́m tự do tại một quốc gia nào, hẳn những bạn này đă thực sự tự do vĩnh viễn trong giấc thiên thu dưới ḷng biển lặng.

Không biết cây cỏ có cảm xúc khi nghe những mẩu chuyện đó chăng nhưng có lúc tôi bắt gặp cḥm lá lao xao run rẩy như thổn thức, có khi cành gầy sà lên vai như vuốt ve an ủi, hay cong nghiêng trên nỗi đau chim xa bầy, cảm thông tâm sự.

 

 

Một sáng đang đếm bước dưới rặng Đào thủy tinh, tôi chợt đứng sững. Một cành Đào khá lớn nằm sóng soài chắn lối. Đêm qua trời trở lạnh và tuyết rơi thêm. Cây chĩu nặng băng. Nhựa trong châu thân cũng đóng băng nên cành ḍn không chịu nổi sức nặng đành gẫy gục.

Tôi h́ hục kéo cành Đào trở lại băi đậu, mở cửa xe đẩy vào băng sau. Hôm đó vào làm việc trễ, ḷng thấp thỏm bồn chồn. Tan tầm, tôi chạy một mạch ra lấy xe về, và lại h́ hục kéo cành Đào vào căn pḥng nhỏ, t́m một thùng nhựa lớn đổ nước cắm vào. Vừa làm, vừa thầm th́:

-Mi với ta là cành ĺa cội. Ta lưu lạc tới đây sau cơn băo dữ nơi quê nhà. Mi lưu lạc vào đây sau cơn mưa tuyết ngoài trời. Thôi th́ mi với ta là bạn, ít nhất cũng vào những ngày cuối Đông này, trong khi chờ đợi mùa Xuân. Lại một mùa Xuân tha hương…

Thẫn thờ nh́n ra cửa, tôi khe khẽ bài Xuân Tha Hương của Phạm Đ́nh Chương: Ngày xưa… Xuân thắm quê tôi, bao nhánh hoa Đào đẹp tươi… Mẹ tôi sai uốn cây cành, vun xới hoa màu… Hát chưa hết câu th́ giọng đă nghẹn. Cảm giác xót xa quen thuộc quặn lên mỗi khi tưởng tới quê hương và mẹ hiền. Phải, mùa Xuân. Mùa Xuân sắp trở lại. Bên kia Thái B́nh Dương có c̣n từng rừng Vạn Thọ rực rỡ vàng rộ, ngàn hoa Thược Dược óng ả trắng đỏ tím hồng, những đóa Mẫu Đơn đài các kiêu sa, những khóm Cúc Đại Đóa huy hoàng, những gị Thủy Tiên trong như ngọc trắng như ngà, những chậu Phong Lan vương giả, những cành Đào thục nữ từĐà Lạt hoặc Hong Kong đưa về góp mặt cùng vô số loài hoa khác đón mừng Xuân… và nhất là Hoa Mai vàng…

Tôi thốt kêu:

-Ồ, Hoa Mai!

Cúi nh́n cành Đào, tôi thủ thỉ:

-Mi là Anh Đào, Đào Quan San, không phải Hoàng Mai. Không cùng họ mà chỉ bà con.

Anh Đào sinh trưởng vùng ôn đới phơi phới tươi cười trong khí lạnh, trong khi Hoàng Mai chỉ vui quen nóng ấm ẩm ướt nhiệt đới. Anh Đào họ Hường Rosaceae, có trắng hồng nhạt hoặc hồng thẫm, mà Quan San/Kwanzan thuộc chi Prunus serrulata, đa số xuất phát từ quê huơng Thái Dương Thần nữ. C̣n Hoàng Mai/Ochna intergerrima họ Lăo Mai Ochnaceae, thường có màu vàng, màu vàng thiêng liêng tôn quư in sắc cờ quê hương ta…

Có tiếng động ngoài cửa kính. Một con hải âu vừa rơi xuống, nằm bất động ngoài bao lơn. Tôi chạy nhanh ra mở cửa, nâng xác chim mang vào pḥng. Con hải âu màu trắng xám nhạt, thân cứng đơ v́ buốt giá, một cánh bị thương, nhưng ngực phập phồng thoi thóp ấm. Tôi lấy thuốc bôi vào vết thương, cởi chiếc khăn quàng len dày quấn quanh ḿnh chim, ôm ủ nó vào ḷng. Hơi ấm giúp con chim biển hồi sinh, mắt hấp háy nghi ngại nh́n, đôi cánh run rẩy.

Tôi nói khẽ:

-Mi cũng lạc bầy như ta. Mi từ đâu tới? Có phải bên kia bờ Thái Dương? Ta ở bên ni bờ, ngày đêm lắng nghe nhịp thở của biển khơi dào dạt mà mơ trôi về bên tê để nh́n lại h́nh ảnh Xóm Cá Rạch Giá Bến Đá Cần Thơ Cồn Dừa Mỹ Tho con đ̣ Xứ Huế giọng quê Sông Cầu áo nâu Sông Hồng…

Đôi mắt chim lim dim, có vẻ mơ màng nghĩ ngợi. Tôi nh́n ra cửa sổ mà như nh́n vào hư vô, khẽ hỏi con chim nhỏ, nhưng là tự nhắc nhủ nhớ lại:

-Mi từng bay qua vùng biển Đông, thấy những con thuyền nhỏ không người dập dềnh vật vờ trôi dạt trong sóng gió, thấy mấy đảo hoang với bao xác người c̣n thoi thóp? Mi có từng tung cánh qua những vùng nước xanh thẳm để lướt sóng về những đêm trăng trên Vịnh Hạ Long, lượn trên Cảng Hải Pḥng hay Đồ Sơn lộng gió, vượt vùng sỏi đá miền Thanh Nghệ Tĩnh vào thăm ḍng Bến Hải là nơi từng ngăn cách hai miền ngày đêm than khóc cuộc tương tàn Nam Bắc?

Tôi say sưa không ngừng và chẳng kể chim có nghe có hiểu, cứ nói như với chính ḿnh:

-Này hải âu, chắc mi cũng từng về miền Trung, miền thùy dương bóng dừa ngàn thông rủ bóng đôi bờ bên ḍng sông Hương, có hàng Phượng rợp hoa rực đỏ, rồi theo con thuyền viễn xứ xuôi Thuận An vào Nam, vượt đèo Hải Vân và băi Lăng Cô, tiến vào Quy Nhơn đến Sông Cầu rồi Nha Trang là miền quê hương cát trắng, đảo cánh trên Tháp Bà cổ kính, dừng chân trên Ḥn Chồng cheo leo hay nghỉ đêm trên Ḥn Yến chênh vênh có hàng ngàn tổ yến, rồi thuận đường xuôi gió băng qua băi cát trắng Thủy Triều vào Vịnh Cam Ranh…

Vuốt ve cánh chim trắng xám, tôi vỗ về:

-Ta tin rằng đôi cánh của mi từng in bóng trên những đồi nhấp nhô cát khô Phan Rang, lướt qua những ngọn Tháp Hời loang lổ rêu phong, nghiêng ḿnh trên bờ biển Phan Thiết trù phú, rồi đáp xuống Băi Sau hay Băi Trước của vùng nước Vũng Tàu một thời dập dềnh bao xác người vượt biển bị đắm tàu…

Mi không bay sâu vào nội địa nhưng chắc chắn tầm mắt từng in h́nh ảnh thương cảng Sài G̣n đêm đêm ngọn xanh ngọn đỏ, hay Bến Ninh Kiều trong những chiều gió lộng vang giọng Dạ Cổ Hoài Lang… Ta biết mi từng nếm vị tôm cá thơm ngon vùng biển G̣ Công hoặc suốt dọc đồng bằng chín khúc Sông Tiền Sông Hậu, để có lúc dừng cánh trên Băi Hà Tiên hiền ḥa hoặc lưu lại Côn Sơn hay Phú Quốc…

Tôi nâng con hải âu ngang tầm mắt, hướng về cành Đào:

-Mi có thấy mà Xuân trên quê hương ta không? Mùa Xuân có hoa Mai vàng, hoa Đào hồng, Thủy Tiên trắng, cây nêu xanh, bánh pháo đỏ, trái bưởi tṛn, bánh chưng vuông…Ôi hải âu, trái tim ta quá nhỏ không kham nổi khối t́nh tự quê hương. Ta mơ thấy lại màu hoa Mai vàng…

 

 

Một tuần sau, con hải âu hoàn toàn b́nh phục. Cành Đào lấm tấm nụ hồng căng mọng, sẵn sàng mừng Xuân.

Buổi chiều ba mươi Tết đi làm về, thấy con hải âu đứng cạnh cành Đào, mắt hướng ra bầu trời ngoài khung cửa, tôi cào nhẹ lên đầu chim:

-Ta biết mi nhớ vùng trời tự do ngoài kia dù băng tuyết c̣n phủ đầy. Thôi, về với bầy bạn, nhé!

Tôi mở cửa. Con hải âu ngập ngừng tiến ra, hiếng mắt nh́n tôi rồi nhún ḿnh đập cánh tung bay. Tôi nh́n theo cho đến khi màu trắng xám lẩn vào màu chiều mới quay vào, kéo chiếc ghế dài, duỗi chân nằm, không buồn mở đèn.

Trong giấc ngủ chập chờn mộng mị, tôi thoáng nghe có tiếng động nhẹ ngoài bao lơn. Tôi tưởng thấy một đàn chim trắng đáp xuống, bao quanh một con xám trắng. Lao xao. Ríu rít. Con hải âu mắc nạn kể cho bầy bạn về những mẩu tâm t́nh và ước muốn của cô gái Việt. Một con hỏi:

-Hoa Mai là hoa ǵ? Có ai thấy hoa đó hồi nào, ở đâu? Chúng ta có thể ngắt cho nàng một cành nhỏ…

-Ở đây không có Mai. Mai chỉ sống những vùng nắng ấm và nhất là vùng Đông Nam Á, nơi có khí hậu nóng ẩm gió mùa. Tôi có lần bay qua đó và được dịp thấy Mai nở đầy vườn mọi nhà vào đầu Xuân. Mai bà con với Đào nhưng khác họ khác màu…

-Ta thử hỏi mấy cội Đào ngoài kia, xem các nàng có thể nhuộm đổi màu vài hoa chăng?

Một chú hải âu nhanh nhẹn bay sang mấy cội Đào trong sân nhà bên. Chim trở lại lắc đầu thất vọng:

-Các nàng không pha được màu vàng!

Bầy chim chụm đầu vào nhau lao xao ríu rít. Một con nhắc đến tên chàng họa sĩ đồng hương của cô gái Việt ở bên kia ḍng sông Columbia, thành phố Hoa Hồng thuộc tiểu bang Oregon.

Tôi chợt tỉnh giấc v́ lạnh. Đêm qua ngủ quên cửa chỉ đóng hờ một nửa nên khí lạnh tràn vào. Nhỏm dậy bật đèn. Một giờ khuya. Giao thừa đă đi qua. Một năm mới bắt đầu.

Có mùi hương thoang thoảng thoáng nhẹ. Quay nh́n cành Đào, tôi kinh ngạc:

-Ồ, Hoa Mai! Những Cánh Mai Vàng! Bên cạnh mấy đóa Quan San hồng hơn hớn cười tươi, có một đóa màu vàng: Hoàng Mai!

Những Cánh Mai Vàng! Chính màu vàng thiêng liêng tôn quư in trên sắc cờ quê hương thân thương. Tôi đứng sững lặng trong xúc động rợn người và nước mắt lưng tṛng, quên cả đóng cửa.

Khi bước ra với tay kéo cánh cửa kính, một chiếc lông chim trắng xám phết vàng từ bệ cửa rơi trên thảm. Nhặt ngắm. Ngẩng nh́n bầu trời ngoài khung cửa đen thẳm, tôi tưởng thấy được dáng con hải âu nổi bật trong đêm đang nhẹ nhàng lướt qua, vừa bay vừa nh́n vào.

 

 

*****

Chuyện đă qua ba mươi mấy năm tưởng như mới sáng nay, nguyên vẹn cảm xúc mỗi độ Xuân về. Chàng họa sĩ ngày nào của chim hải âu không c̣n nữa, nhưng Xuân Vườn Quê Xa năm nay vàng rực Hoàng Mai. Cội lăo nhất do chàng trồng ngay vườn trước tự rụng lá để ra hoa và nở trước, rồi đến cội bên hiên và lần lượt mấy cội quanh nhà:

Từng cánh từng cánh bung
Huy hoàng hương sắc đón mừng Xuân

Nhớ bài Tạp Thi của Nguyễn Du trong Thanh Hiên Thi Tập có mấy câu thật hợp cảnh hợp t́nh:

Diệp lạc hoa khai nhăn tiền sự
Tứ thời tâm kính tự như như…
Lá rụng hoa cười tươi trước mắt
Bốn mùa tâm sáng cứ như như…

Hoa cười đem niềm vui cho người rồi hoa ĺa cành, mang lại nỗi buồn cách biệt hay chỉ nhắc nhở lẽ thường sinh tử, để thấy thiên nhiên có Xuân đâm chồi nẩy lộc bung hoa, có Hạ xanh thẳm lá cây, có Thu đổi sắc màu thêu gấm, rồi Đông trắng tuyết… để cứ luôn như như an nhiên bất tận. Lại tưởng mấy câu trong bài Ngẫu Hứng Giữa Đường/ Đồ Trung Ngẫu Hứng của Nguyễn Du:

Tự do tự tại bất tri tử
Hoa lạc hoa khai vô hạn Xuân
Bách niên đáo để giai như thị
Hồ thủ mang mang nhất phiến trần.

 

Tự do tự tại chết nào hay

Hoa tàn hoa nở vô hạn

Xuân Trăm năm rồi cũng cùng như vậy

Ngoảnh lại mang mang hạt bụi trần.

 

Tôi yêu hoa khi tươi mươi bung rộ, mà c̣n yêu hơn nữa bởi

…hoa rơi vẫn đậm nét cười

ĺa cành c̣n gửi lại lời tin yêu…

 

Nhưng khi nh́n
 

Đầy thềm hoa rụng, biết người ởđâu?

( Nguyễn Du, Kiều, câu 272)

 

Người ở đâu? Quê hương nơi nào?

Người vẫn quanh đây, trong không gian này, ngay khoảnh khắc này, trong nắng sớm mưa chiều mây hải đảo gió ngàn khơi lời chim ca hương hoa thanh thoát… trong Hôm Mai hai mà một, trong trăng khuyết lẫn nguyệt rằm. Và năm tháng hiển lộng trên ngàn Mai gió cuốn đang lả tả rơi rụng, cho trọn một kiếp tṛn ṿng về nguồn cội.

Và quê hương là đây, chính nơi này, Vườn Quê Xa dựng lại quê hương để luôn có quê hương, luôn về quê hương thân thương…

Từ hội chứng say Xuân, ngất ngây cùng cây cỏ hoa lá và nhất là với Những cánh Mai Vàng trong Vườn Quê Xa, tôi cảm thấy tràn đầy hạnh phúc với những ǵ đang có và không có, bởi nghĩ rằng khi không có tức là đă có chính trong tâm ḿnh, và ân sủng đó c̣n sâu đậm hơn những ǵ đang có chung quanh.

 

 

Hơn một loài hoa đă rụng cành…

H́nh chụp của Lai Hồng, 26 tháng 2, 2014
 

 

Tiểu bang Hoa Florida, giữa Xuân Giáp Ngọ
Viết xong đúng vào ngày 30 tháng Tư, 2014


Trần thị LaiHồng

 

Trang Văn Hữu

 

art2all.net