TRẦN THIỆN HIỆP

 

Nguyễn Mạnh Trinh
 

ĐỌC "MẶT TRỜI LƯU VONG"

THƠ TRẦN THIỆN HIỆP

 



         
Đời lưu vong thường buồn. Dù bước chân lữ thứ đă được soi bằng những tia mặt trời rực đỏ. Và thơ, để diễn tả đời sống trôi dạt ấy, cũng thường chất ngất sầu muộn. Nh́n cỏ cây trên đất lạ, cũng mừng tượng héo hon, thơ "Mặt Trời Lưu Vong" của TRẦN THIỆN HIỆP, không nói về nỗi buồn mà chính nó khởi đi từ hiu hắt và là nỗi u hoài không nguôi.

Buổi sáng, nh́n ngọn núi Rainier bạc đầu tuyết phủ, chợt soi gương để thấy mái tóc ḿnh thanh xuân thuở nào bây giờ đă phơ phơ trắng. Buổi chiều, trên đá dựng mờ sương nghe sóng vùng vịnh thét gào, bỗng bên tai nghe mênh mang biển âm thanh ̣a vỡ đến thiên cổ càn khôn. Trong không gian, thời gian ấy, thơ Trần Thiện Hiệp đă kết tinh ngôn ngữ từ đó, giàn trải ư t́nh từ đó. Những bài thơ của " Mặt Trời Lưu Vong", rơ rệt từng bước chân kiếm t́m, để kỹ thuật xử dụng âm điệu phải trở thành những cung âm mang lại trời hứng cảm. Trong mênh mang lạnh của những sợi dây sắt se cộng hưởng, thơ lên đường với cảnh thổ buốt lạnh của đời người lữ thứ.

Một điều nhận thấy trong thơ Trần Thiện Hiệp, là cảnh vật diễn tả trong ngôn ngữ thơ bằng h́nh tượng và cảnh vật thực tại của thiên nhiên đă có những khoảng cách thật ngắn, thật gần. Cả hai, nối liền nhau bằng cây cầu cảm xúc. Thiên nhiên, có nét phác họa của những bức tranh thủy mặc ngày xưa, mờ mờ sương khói để làm nổi bật chính con người trong khung cảnh ấy. Mưa, Nắng, Núi, Biển, Rừng, Phố, tất cả được tạo dựng bằng đường nét mơ hồ, của cảnh gần gợi nhớ đến trời đất ở xa.

Ở một định nghĩa nào đó, thơ "Mặt Trời Lưu Vong" gần cận với ư tưởng vụt qua, của nỗi buôn tha hương trầm lắng tích lũy thành. Nói môt cách khác, như nhà văn Mai Thảo đă phát biểu "Thơ của tâm cảnh ngậm ngùi, quê xa ngàn dặm. Thơ của đất trời này ta ở nhưng tấm ḷng chẳng ở".

Thơ đôi khi phải như những nét chấm phá thủy mặc . Ngắn, gọn, cô đọng nhưng gợi ư gợi h́nh cực độ. Thơ Haiku, thơ nhị thập bát tú của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, là những ví dụ tiêu biểu của phương cách ấy. Tất cả, phải gợi đến những nỗi niềm mênh mang vừa loăng tan ra biển trời rộng nhưng cũng cô đặc lại thành một hạt cát nhỏ nhoi. Trong hạt cát có chứa trời cao biển thẳm. Trong hạt cát có chứa vô vàn cuộc sống vi sinh. Với Trần Thiện Hiệp, thơ cũng đang ở trong mức cố gắng để thu lại đất trời vào trong một hạt cát cực kỳ nhỏ bé. Thơ có những nhịp cầu để bước chân đi xa hơn, gợi ư đến những trời viễn mộng. Ngôn ngữ, vần điệu, h́nh ảnh, với tất cả dụng công, để làm nổi bật lên sự cố t́nh ấy. Nói với núi, để so sánh với chính ḿnh, trong nhịp thay đổi ruộng dâu biến thành biển xanh, của con người đăm chiêu đứng nh́n thời thế thế thời:

"Núi kia đầu bạc, ta bạc đầu
Núi ta, ta núi ai nặng sầu
Ngh́n năm, núi đứng nh́n dâu bể
Ta nửa trăm năm trong bể dâu"
(Lời Với Núi)


Lưu vong là rời khỏi nơi chốn thân quen của ḿnh. như cây cỏ bị bứng gốc rể đem trồng nơi đất lạ, nên thơ lưu vong thường chứa đựng nỗi niềm nuối tiếc. Đời sống bây giờ, ở mà vẫn chỉ là giả tạm, c̣n trong đáy ḷng chân thực vẫn chỉ có một nơi chốn để về, đó là quê hương.

 

"Mặt Trời soi bước lưu vong,

Trong ta nguyên vẹn tấm ḷng với quê.

Dặm người đă dựng lời thề.

Mốt mai ta chết tro về biển Đông."

Thơ chung quyết đă có một nơi chốn để đến và trở về. Như xác thân khi xuôi hai tay về với đất, sẽ lạị thành tro bụi để ḥa lẫn với nước biển Đông ngược tới quê nhà. Trần Thiện Hiệp đă muốn vượt qua rào cản của không gian, đăm đăm nh́n xuyên qua ngàn dặm biển khơi. Dù cố gắng làm mới thơ ḿnh bằng những câu thất ngôn ngắt đoạn nhưng trong thơ vẫn tỏa ra một không khí cổ kính, của những tảng đá lạnh buốt ngàn năm:

"có như
trôi giạt góc biển sầu
sóng dâng
ngh́n trượng nỗi niềm đau
thơ rơi
tan loăng chiều vô vọng
theo gió tàn thu biệt cơi nào
ta gọi tên ta
tiếng vọng cùng
núi rừng mộ huyệt
vẫn mông lung
tựa lưng vách đá
thân cùng đá
hai khối niềm riêng một lạnh chung
(Lạnh chung)


Đời của người xa xứ nhiều hệ lụy. Điều ấy chúng ta đă coi như một sự hiển nhiên chẳng thể chối bỏ. Buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, bất cứ khoảng thời gian nào, và ở nơi chốn nào, ở thành phố xứ người đă nhiều năm sinh sống, với những con đường, những dốc lên, những ngỏ về, đă thành những môi trường để ở đó, suy tư đă vượt  khỏi không gian thời gian và thăng hoa. Có lẽ, với thơ, chẳng có hàng rào nào, biên giới nào mà chẳng thể vượt qua. Với những trái tim đồng điệu, với những rung cảm có nhiều cộng hưởng, th́ nỗi niềm chất ngất nhớ thương cũng chỉ là mẫu số chung của những đời người lúc nào cũng nghĩ về với ngóng tới quê hương. Đêm trừ tịch, một ḿnh đối bóng. Giấy bút và cả tâm hồn cũng lạnh buốt, bởi tâm tư chất ngất nhớ thương. Đâu đó, vẫn thấy lại bóng nhà xưa, và những hồi gió mưa của một thời đă qua trong trí nhớ của cuộc đời:

"Thắp ngọn nến soi ḷng, đêm trừ tịch
Rượu cạn dần, tiếp nối những bâng khuâng
Giấy với bút im ĺm tranh tĩnh vật
Lạnh âm u tự đáy vực vô cùng

Muốn viết hết ngàn điều c̣n thương nhớ
Ở góc hồn ủ dột mái tranh xưa
Vẫn là vậy, mười ba xuân lữ thứ
Chữ nghĩa buồn cũng theo gió theo mưa"
(Cũng Là ghi Nhớ)


Thơ Trần Thiện Hiệp dường như muốn ẩn giấu trong ngôn ngữ những điều tâm sự. Thơ có lúc nói một ḿnh, độc thoại, có đôi lúc nói với người tinh, với con, nhưng tựu chung, cũng là để nổi bật những suy nghĩ của ḿnh từ cuộc sống. Nói với em, với tất cả lăng mạn của một tâm hồn, chia đất chia trời, chia mưa nắng, chia trăng sao:

"...Ta sẽ chia em nửa đất trời
Nửa rừng thu quạnh nửa trùng khơi
Riêng ta một nửa vầng trăng lạnh
Ủ trọn vào thơ của nửa đời

Ta sẽ chia em những hạt mưa
Ru em vào mộng giấc rèm thưa
B́nh minh chia nửa em hong tóc
C̣n nửa tan vào gió đong đưa...

Chia em ngần ấy điều ta có
Để đổi men cay chén rượu mời
C̣n ǵ chia nửa ? Đời hư ảo
Xin nhận cho đành trọn cuộc chơi
(Ngần Ấy Cho Em)


Nói với con, về cái tuổi xa quê hương, khởi nghiệp bằng đôi bàn tay trắng. Tất cả chuyện cũ xưa, đều như hat bụi bay xa không dấu tích. Bi phẩn, chán chường, những ngày cuối năm tính sổ đời luân chuyển thành bại; bỗng dưng thơ đă thành những biểu hiện của một đời sống mờ sương ở xứ người:

"...Hỏi đau, th́ vẫn ngàn dao chém
Hỏi hận, mịt mùng đáy biển sâu
Tuổi đủ nghiệm điều tri-thiên-mệnh
Bại, thành, vận nước, cuộc bể dâu

Mỗi Tết, ba ngồi ôn chuyện cũ
Để hồn bay lẫn khói trầm hương
Cành xuân gió sớm rơi hàng lệ
Mà ngỡ ḿnh rơi hạt lệ sương

Rót chén rượu nồng xưa có bạn
Nay nh́n đáy cốc buồn mênh mông
Phương này đón Tết phương xa nhớ
Rượu đắng không sao ấm được ḷng
(Tết Về Tâm Sự Với Con)


Trần Thiện Hiệp viết "Mặt Trời Lưu Vong" bằng những cảnh tượng và biến cố biến nó thành biểu tượng.

 

Nói thành thật, những biểu tượng ấy chẳng phải t́m kiếm đâu xa mà nó gần cận chúng ta, với biểu tượng cây cỏ, với mưa nắng trăng sao, và cũng đôi khi được nhắc tới từ thi ca từ tận ngàn xưa. Thiên nhiên hữu t́nh của vùng Tây Bắc, đă được phác họa với đường nét của tranh thủy mặc. Trong mờ mờ sương, có nỗi niềm. Trong bảng lảng khói, có tâm tư lan tỏa. Chẳng phải ngẫu nhiên, thơ Trần Thiện Hiệp có nét bềnh bồng khói sương. Chính trong nỗi mông lung ấy có con người đang lũi lầm sống tha hương, lúc nào cũng ngóng về quê nhà.

Nếu có người nh́n thi ca ở khía cạnh phù phiếm trêu hoa ghẹo nguyệt, và nếu có người muốn t́m kiếm sự độc đáo tân kỳ của ngôn ngữ qua những xử dụng phóng túng tột độ th́ cũng có người nhận thấy ở thi ca có nỗi niềm đồng điệu để chia xẻ cảm thông với những mẫu số chung của chất ngất muộn phiền trong đời lưu vong. Thơ Trần Thiện Hiệp đă sẳn sàng nhiều tâm sự để chia xẻ. Và như thế, có cần ǵ những làm dáng ngôn ngữ để thơ thành điều kỳ lạ. Và trong ư tưởng tích cực, thơ đă phần nào làm bớt đi nỗi vô vị của đời biệt xứ. Như thế, thơ chẳng phải là những vần điệu trêu hoa ghẹo nguyệt mà chính là tấm ḷng chân thật đă tỏ bày bằng chính ngôn ngữ của thiên nhiên thơ mộng của vùng trời Tây Bắc, mà chính người thơ đă ở nhưng ḷng chẳng ở.


Nguyễn Mạnh Trinh
Orange County 10/91

 

 

art2all.net