TRẦN THIỆN HIỆP

 

Nguyễn Thuyết Phong
 

MÙI THIỀN, HƯƠNG NHẠC

TRONG THƠ TRẦN THIỆN HIỆP

 

GS Nguyễn Thuyết Phong (1983)


         
Mở trang 61 ra, tôi bỗng rùng ḿnh. Vội xếp lại. Kỷ niệm cũ hiện ra... Cái trưa hè Ohio tĩnh mịch đến độ nhịp rung động của từng tế bào tôi có thể nghe. Bài thơ Tâm Nhạc của nhà thơ Trần Thiện Hiệp trong tập Cây Lá Phận Người (Canada Việt Publication, 1987) là một cao điểm của tâm thức trở về.

Trong cái êm ả của không gian hôm nay, bài thơ đầy dáng vẻ nhẹ nhàng, giản dị, không ngờ lại có một sức chứa đầy đặc và súc tích với hằng trăm những h́nh ảnh của một thời đă qua. Rung động hơn hết trong tôi khi đọc đến chung trà sen khói tỏa, trời quê hương trong ḷng. Mười bốn năm qua, câu thơ này vẫn hằn trong trí tôi như một bức tranh điêu khắc ngoạn mục. V́ tôi bắt được cái bầu trời quê hương ấy trong thơ anh và tôi vẫn mang nó trong ḷng. Bài Tâm Nhạc là một thể hiện sinh động của không gian nhân sinh, một tao ngộ kỳ diệu, một nỗi niềm chợt đến, chợt đi, một sự lắng nghe thiền nhạc và, quan trọng hơn hết, là một phương thức giải tỏa nỗi khổ đau qua đạo thiền.

Hôm nay tôi muốn viết về thơ Trần Thiện Hiệp, không phải v́ tôi muốn ngợi ca bao nhiêu bài thơ của anh hay của nhiều tác giả dầm thơ trong khổ đau, trong lưu đày, hay trong t́nh yêu sướt mướt, ră rời. Ngón mềm rẽ tóc lê thê, dỗi hờn em có sẽ dần vơi, hay một ai đó có thể đi xa hơn trong tôi vẫn yêu em, t́nh sầu, mười năm t́nh lận đận v.v... Hiện tương ấy rất "hấp dẫn" và có nhiều trong thơ cũng như nhạc khắp nơi. Ở đây tôi muốn nh́n thơ Trần Thiện Hiệp qua lăng kính thiền vi xem thử anh đă tranh đấu với chính ḿnh như thế nào để đi t́m manh mối của khổ đau, giải quyết (nếu không muốn nói một cách tự hào hơn: giải thoát) nỗi khổ đau cho riêng ḿnh, hoặc để tự nâng cao khả năng tâm linh (không nhất thiết phải siêu h́nh) của ḿnh. Tôi cũng muốn t́m hiểu xem Trần Thiện Hiệp dă vận dụng như thế nào những nhạc điệu trong thi ca của anh. Âm nhạc trong thơ anh khiến tôi đặc biệt chú ư từ lúc tôi được anh tặng tôi bài thơ đầu tiên viết bằng lối chữ thật hoa mỹ.

Tuy nhiên, nếu muốn hiểu rơ về một tác giả, tôi thấy cần phải tiến tới, tiếp cận những góc cạnh khác nhau của các bài thơ nhỏ, lớn, dài, ngắn để hiểu được ư thơ, tứ thơ, kết tập thơ, và mục tiêu tối hậu của tác giả. Tất cả đều có ư nghĩa bổ sung cho nhau. Đọc thơ th́ có những bài ta thích, muốn đọc đi đọc lại nhiều lần các bài ấy, v́ ta chủ quan. Có khi cũng do ta bắt gặp một cách hết sức vô tinh một câu thơ nào đó khi trên đường đi t́m một bài thơ có chủ ư. Trong 14 năm qua quen biết nhà thơ, tôi đều trải qua những kinh nghiệm hữu ư lẫn vô t́nh đó.
 


Thiền vị trong thơ oan nghiệt
 

Một hôm tôi di chuyển kệ sách trong pḥng làm việc ở Đại Học California, Los Angeles, bỗng làm rơi tập thơ Mặt Trời Lưu Vong xuống sàn nhà. Bài thơ đầu tự mở ra, tôi mới tự hỏi: Lạ này! Tập thơ mang môt tựa đề nghe như uất hận, mà bài mở đầu lại mang một tính chất khác?

Xếp bằng ngồi thế thiền sư
Bóng nghiêng vách lạnh. Thấy dư nợ trần
Tâm bất định. Ḷng phân vân
Lẫn trong tạp niệm vạn lần hoài nghi


Những từ thiền sư, nợ trần, tâm bất định, và tạp niệm là những từ Phật Giáo được áp dụng trong 4 câu. Đây là số lượng chuyên ngữ rất lớn được đưa vào chỉ trong cả 4 câu đầu của bài thơ đầu của tập thơ. Tôi đập tay vào trang thơ và tự hỏi thầm với chính ḿnh: đây rồi! Từ ngữ tạp niệm rất hay, rất chính xác, nói theo Phật học: bất khả tư nghi! ( không c̣n nghĩ, biện luận cách nào khác được). Tôi rất thich từ đó. Niệm là suy nghĩ, Tạp niệm là trái nghĩa với chính niệm mà người Phật tử phải tu tập, thực hành trong bát chánh đạo ( tám con đường đúng phải theo, tương đương với 10 điều răn trong đạo Thiên Chúa).

Tôi c̣n thắc mắc, nên phải đi t́m. Tôi thấy nhiều những chuyển ngữ Phật Giáo ẩn hiện đó đây trong cả 3 tập thơ mà tôi có trong tay: Niệm Di Đà, tâm kinh, kiếp, nghiệp, luân hồi, tiền thân, bến mê, sợi sắc không, vô nhiểm, vô phiền, v.v...c̣n bao từ ngữ được đưa vào rất độc đáo. Nếu kiếp, nghiệp hay luân hồi là những từ tương đối thông dụng, dễ hiểu, th́ vô nhiễm là một từ rất triết, rất cao siêu. Tuệ Trung Thượng Sĩ dưới đời Trần được xem là bậc thiền sư có đặc tính vô nhiễm. Ngài và các vị vua Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang là các vị chủ trương nhập thế, tức đi vào cuộc đời mà không bị đời lay chuyển (nhiễm). Mục đích của các ngài là đưa đạo Phật đến gần với đời sống hằng ngày hơn, dễ tiếp nhận hơn. C̣n chuyện sắc không lại khác: đây là triết, là điểm tựa cho nhiều bài thơ của anh. Đây là triết học về sự đối dạng (vô thường) mà kinh Bát Nhă (Prajina) là một kinh chủ yếu của đạo Phật hay bụt, (Buddha): sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc. Điều mà tôi không hiểu là Trần Thiện Hiệp học Phật từ hồi nào. Và tôi cũng không hề nghe anh nhắc về chuyện ấy. Thú vị là ở chỗ ấy.

Tuy nhiên không thể giấu giếm được rằng thơ Trần Thiện Hiệp là sự thể hiện một cuộc chiến đấu nội tâm gay gắt. Tôi thấy trong thơ Trần Thiện Hiệp một sự xung đột lớn:

Rừng phong băo nổi cơn triều động
Tôi đứng giữ trời. Tôi đứng đây


V́ anh thấy đầy uất hận, nghẹn ngào về cuộc đời quá khứ của anh. Anh thấy thẹn với núi sông, anh thấy ḿnh nhục nhă, anh thấy thủ đô đầu hàng như ảo mộng, anh phải đào ngũ bỏ quê hương, anh ra đi như mộng ảo, anh lỗi lời thề. Tôi ngồi xuống, đọc nốt tập thơ. Rồi 2 tập kia: Vẫn Nỗi Dày Ṿ, Trùng Trùng Vây Bọc. Niềm Đau Đầy, Rừng Cháy, Vết Hằn, Tự Do Trong Hồn Tôi Di Dân, Phiến Sầu Do Thái, Từ Đổi Đời, Bỗng Thành Du Mục v.v...nghe như lời lẽ của một nhà thơ đấu tranh, chất chứa đầy thù hận, đi từ dày ṿ đến nổi dậy. Rồi lại, đau đớn trong ḷng một nỗi tha hương:
 


Ngày đất lạ đối diện cùng chua xót

Anh, cũng như bao nhiêu người khác, đă trải qua cái nỗi thăng trầm, cái hệ quả của một cuộc chiến quá lâu dài vừa chấm dứt. Trong thơ anh chứa đựng nhiều nỗi oan nghiệt. Đứng bên này hay bên kia quan điểm về cuộc chiến, kẻ thắng, người bại đều nằm trong lịch của Phật Giáo.

Vâng. Anh đi đến một giải tỏa nhanh chóng, nếu không muốn nói là đột ngột cho người đọc thơ Trần Thiện Hiệp. Anh thấy cơi ḷng chuyển hóa, giữa trùng trùng ngờ vực với chân nguyên ngay trong tập thơ đầu tay. Trong đạo Phật, nguyên lư trùng trùng duyên khởi là một nguyên lư khoa học gắn liền với kinh Bát Nhă nói trên. Trong đạo Phật không có Thượng Đế, đấng tạo vật, mà là một con đường (đạo) hướng dẫn sự giác ngộ, giải thoát bằng thiền định, bằng suy luận khoa học về sự biến thiên và cấu thành.

Phải chăng nhờ vào sự nhiễm tinh thần đạo Phật mà anh đă hóa giải được nỗi khổ cho riêng ḿnh - đúng ra, đó là nỗi khổ đau không riêng ǵ cho anh mà của nhiều người xa quê hương như chúng ta? Thiền mà tôi muốn đề cập trong bài viết này chính là thiền vị, thiền môn, hơn là thiền định. Như ta biết, phương pháp tu thiền là phải ngồi (tọa thiền). Điều này có phảng phất trong thơ Trần Thiện Hiệp, nhưng không nhiều. Nhưng mùi thiền (thiền vị) hay nói một cách khác, tinh thần đạo Phật, th́ trăi ra một chu vi rất rộng, thậm chí có những bài thơ có thể được xem là công án Thiền (meditation theme trong tiếng Anh, hay koan trong tiếng Nhật). Các thiền sư đời Trần thường áp dụng "công án" thiền (tức là các bài thơ ngắn, thường chỉ có 4 câu) để các thiền giả suy nghĩ tiếp hoặc đưa ra một phản đề. V́ thế, như anh nói, phải vạch sương mù đi t́m đạo ( Đêm Bát Nhă ). Một ư tưởng như thế tôi cho rằng hết sức ngoạn mục! Ta hăy đọc bài Tâm Cảnh để thấy công án thiền này:

Nhánh hương lễ sớm vờn bay
Đón nhận thêm năm buổi sáng này
Tâm cảnh vẫn là tâm cảnh
Có từ hoàng hạc xa lầu mây

 


Âm nhạc: Hai khía cạnh cũ và mới

Tôi phổ bài thơ Tâm Nhạc là một t́nh cờ. Chuyện ấy cách đây đă 14 năm. Phải thú thật, lúc ấy tôi chưa hiểu ǵ về nhạc thơ Trần Thiện Hiệp, hay nói một cách khác, "khả năng âm nhạc" của Trần Thiện Hiệp. "Khả năng âm nhạc" mà tôi muốn nói ở đây cần được minh xác. Không nhất thiết phải là nhạc sĩ, nhạc công hoặc ca sĩ mới có khả năng âm nhạc. Khả năng âm nhạc có ít nhiều trong bất cứ cá nhân nào (dù khả năng đó hay hay dở. Ở đây, nếu là nhà thơ, cần thiết phải biết phương pháp vận dụng nhịp tiết, làn điệu, hay thể loại.

Đối với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, làn điệu là một khía cạnh ít được chú trọng hoặc không khả hữu. Nhưng riêng với tiếng Việt, nó vô cùng quan trọng. V́ làn điệu là bản chất của nó, v́ nó là một ngôn ngữ có dấu giọng (tonal language). Trần Thiện Hiệp đă vận dụng khả năng âm nhạc của anh thật tài t́nh.

Nhưng trước hết phải nói đến tính khách quan của vấn đề: nhà thơ có yêu nhạc, muốn thưởng thức nhạc, hoặc biết thưởng thức nhạc hay không? Tôi phổ bài thơ Tâm Nhạc là do một trong hai duyên cớ: (1) nhà thơ biết thưởng thức nhạc và (2) t́nh cảm của một cá nhân trong cộng đồng Seattle đă dành cho tôi. Đây là sự đáp lại. T́nh cảm tôi không thể nào quên khi lần đầu tôi đến nói chuyện và tŕnh diễn cho khán giả, đồng bào ở đó mà tôi lấy làm trang trọng và yêu quí. Đây c̣n là mối tri âm, tri ngộ, và tri thiền qua bài thơ này. Đây cũng là động lực để về sau tôi muốn t́m hiểu thêm về âm nhạc và thiền trong thơ Trần Thiện Hiệp.

Ai nghe thơ Trần Thiện Hiệp, hẳn để ư chú tâm của tác giả về phương pháp tượng thanh: Rượu ṿ gơ nhịp nhặt lơi, nhịp vơng đong đưa, có điệu ḥ hẹn thề, văng vẳng tiếng cầm, tâm nhạc theo tơ đồng, hay tiếng mơ đưa. Tôi thấy trong ấy có "ư thức" trước đă về âm nhạc và tiết tấu âm nhạc. Ư thức về sự nhặt (presto), lơi (rubato) rất quan trọng trong bất cứ loại âm nhạc nào trên thế giới, anh dùng từ âm nhạc rất " sỏi": Thí dụ, trong nhạc tài tử miền Nam có "nhịp lơi tư lơi " Người không rành nhạc th́ không biết dùng thuật ngữ này. Cụ thể mà nói, các bài thơ mang nhịp 3/4 đều có trong thơ anh. Nhịp 1/4 thường là chủ điểm của những bài thơ lục bát (mà tôi cho rằng anh rất tuyệt trong sở trường này).

Trăng tṛn em ngủ đồi trăng
Ru em ngon giấc xin bằng lời thơ


Trái lại, các bài C̣n Em Vườn Hạnh, Rừng cháy, Thuở Trầm Hương, hay Đêm Bát Nhă( chưa xuất bản) th́ ứng dụng nhịp 3/4 một cách tuyệt đối. Xin mạn đàm một tí về nhịp 3 trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. Có người hiểu lầm là trong âm nhạc dân tộc không có nhịp 3. Tôi xin xác định là có. Nhưng nhịp 3 thường lồng vào trong nhịp 4 để t́m một nguyên lư hài ḥa, hoặc giả không quá đơn thuần, rập khuôn như trong các truyền thống khác. Trong thi ca Việt Nam v́ thế phản ánh khía cạnh này, Trong thơ Trần Thiện Hiệp thi đương nhiên xuất hiện, nhưng xuất hiện rất đa dạng. Có khi như nhịp của đồng dao (Đêm Bát Nhă), có khi nghe như khúc điệu valse (Tâm Nhạc, Nắng Hạ, C̣n Em Vườn Hạnh)

Trong trí nhớ
Tiếng thở dài
Giữa tàn phai
Cơn sóng biển
Lời kinh điển
Tiếng mơ đưa
Ngày Đại Thừa
Đêm Bát Nhă


hay:

Đôi chim trời tránh tuyết
Rỉa cánh trên cành phong


Ngoài ra c̣n có một loại nhịp tiết khá phức tạp như trong các bài Tâm Thức hay Trầm Tưởng. Nếu tiết tấu các bài thơ khác được xem như nằm trong khuôn khổ cổ điển, các bài này thể hiện như âm nhạc hiện đại. Nó vượt ngoài khuôn thước qui định cả nhip tiết lẫn làn điệu, làm người đọc thấy một cái ǵ là lạ, ban đầu thấy khó nghe, nhưng dần dà rồi cảm thấy nó như một khám phá mới lạ, hay hay. Số lượng chữ trong mỗi câu khác nhau một cách lạ lùng, t́nh cờ, làm làm người đọc phải bỡ ngỡ đến thích thú.

Làn điệu lên bỗng xuống trầm một cách tự do, ngẫu hứng. Có lúc tưởng như đùa (challenge) với thi ca :

đêm giao thừa
đốt lửa uống rượu một ḿnh
suy tư chắp nối
về xuân quê nhà, Tết tha phương


Trong bốn câu trên, không câu nào đồng nhất về số chữ :3. 6. 4. 7. Thật lạ lùng đến nỗi kỳ diệu! Chúng ta không t́m thấy môt qui định về nhịp điệu nào cả. Có thể ngắt câu theo ư ḿnh: đêm giao thừa / đốt lửa/ uống rượu một ḿnh v.v...mỗi tiết đều có thể có ư nghĩa cả. Tôi rất thích bài này, nghe như một bài hịch mà có đoạn lại nghe gần như bài văn tế, thí dụ: về bạn bè tản lạc mất c̣n, tù đày không có án...bóng ḿnh mờ dần theo đám lửa tro than. Trong bài Tâm Thức cũng thế. Những làn điệu và nhịp tiết không nhẹ nhàng như Trầm Tưởng hay Đường Hồng Trần. Nó nghe ra gay gắt hơn, ví như một dàn nhạc gơ (percussion). Nhưng Trần Thiện Hiệp có lư như một nhà thơ nhiều kinh nghiệm. Anh đă cho ư tưởng và âm nhạc đi với nhau, v́ trong bài Tâm Thức có sỏi đá, chênh vênh, tháng tư trường sơn dậy lửa, nghe ra loảng xoảng. Nhưng bản nhạc giao hưởng nhẹ dần ra để dứt ở đoạn cuối với tiếng sáo vi vu ḥa nhịp mơ, trên tàng cây ngọn cỏ thơm nồng. Đây là phương thức kết có nhân có nghĩa, hợp với phong cách và thẩm mỹ quan Việt Nam. Cứ mỗi hôm đi làm về, ngang qua con sông cạn mang tên Chagrin (U Buồn) tôi lại nhớ bài thơ trên khi nh́n xuống ḍng sông và đọc thầm trong trí nhớ: ngược ḍng sông cạn mùa khô...

Thơ Trần Thiện Hiệp không chỉ để ngâm, hát, mà c̣n để đọc. Tôi thường nghe giọng ngâm thơ nồng ấm của Lệ Hiền và các ngâm sĩ vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Tôi cũng được nghe giọng hát đầy tính trang nghiêm, thiền vị của Hoàng Trọng Minh qua bài Tâm Nhạc. Tuy nhiên, một số bài chỉ nên đọc v́ giọng đọc sẽ thích hợp hơn. Mà có lẽ không ai có thể diễn tả hay như chính nhà thơ! V́ nó "thật" với tâm t́nh của chính tác giả. Mối giao thoa giữa âm nhạc và ngôn ngữ Việt Nam đủ để chuyển điệu nhạc thành giọng đọc trong trường hợp này.
 

***
 

Tôi kết thúc bài viết này trong t́nh cờ, v́ hôm nay tôi được hân hạnh ngâm thơ Trần Thiện Hiệp cho các trại sinh Về Nguồn họp trại ở vùng Washington, DC. Tiếng mưa rơi bên ngoài ḥa trong nhạc, thơ. Về lại trại đêm trong rừng tôi cảm thấy sung sướng rằng ḿnh được ngâm thơ, cũng như đàn và hát dân ca trong một khu rừng ở Mỹ.

Thơ và nhạc Việt Nam đang tỏa ra khắp nơi. Nếu quê hương ḿnh c̣n có thể mang theo trong ḷng như bài Tâm Nhạc diễn tả, th́ dù vạn dặm xa quê ḿnh cũng có thể vui và hănh diện rằng tiếng thơ, tiếng nhạc có thể vượt lên, vượt đi xa. Ḷng yêu quê hương, mùi thiền, hương nhạc bay lên cao, trong t́nh yêu van vật (Đêm Bát Nhă). Và chỉ có thiền mới dạy cho ta giải tỏa được những khổ đau, thù hận. Càng đọc thơ Trần Thiện Hiệp, càng đi về phía sau trong những tập thơ anh, ta mới càng thấy những khía cạnh rất "người", những quan điểm rất tích cực, một con người không c̣n nỗi lưu đày trong thù hận đau thương, với lời kêu gọi ḷng thương nhân loại, với t́nh- thương-trăm-trứng, và sự trả lời về nỗi dày ṿ từ lâu, trở về: trở về với quê hương để thấy đám trẻ thơ đến trường bước đi luân vũ, chúng lớn lên không nhớ ǵ thù hận cũ, giữa cha ông mấy thế hệ tương tàn (Vẫn Nỗi Dày Ṿ). Trong tâm thức "trở về" ấy, anh sẽ măi măi thấy tia nắng sớm soi khung hồn thanh tịnh (Hạnh Phúc Nào Chợt Đến).

Nguyễn Thuyết Phong
Ohio cuối hè 99

 

____________

 

 

a2a mời xem "Tâm nhạc", thơ Trần Thiện Hiệp, nhạc Nguyễn Thuyết Phong:

 

https://www.art2all.net/tho/tranthienhiep/tamnhac.htm



 

 

art2all.net