|
HÀ THÚC SINH,
Cuộc Hành Tŕnh Dài Nửa Thế Kỷ Thơ
1.
Ta lục lại trong ngăn kéo cũ Bụi và buồn lẩn khuất mớ thư xưa
Ḷng đă mở sao người không dám bước vào, sợ ǵ khi ḍng đời vẫn trôi, những hệ luỵ ràng buộc giữa người và người, người và đời như giọt sương mai lấp lánh trên những nụ hoa tàn tạ rơi vào quên lăng. Ngăn kéo cũ, mớ thư xưa tưởng như đă bị chôn vùi, khuất lấp theo cát bụi thời gian, tưởng như đă nằm im trong ngăn kéo kư ức, bỗng sống dậy mănh liệt ở mọi nơi mọi miền, trầm sâu vào ḷng dân tộc.
Hai câu thơ của Hà Thúc Sinh sâu lắng và đầy hoài niệm, mở toang cánh cửa một thời gian đă qua. Thời trăn trở, bất an, điêu linh, nghiệt ngă. Thời quê hương ngập tràn khói lửa chiến tranh. Thời của những hồi chuông báo tử. Thời của người lính trận sống sót trở về nh́n lại cảnh cũ người xưa. Thành phố hấp hối từng giờ. Ḷng người nặng trĩu sống c̣n. Có chăng là trong ngăn kéo cũ c̣n lại mớ thư xưa bám đầy bụi bặm ố vàng, chất chứa nỗi buồn muôn thuở.
2.
Tôi quen với Hà Thúc Sinh h́nh như qua sự giới thiệu của Phạm Nhă Dự, Tô Đ́nh Sự. Lúc đó, tôi đóng quân ở mật khu Lư Văn Mạnh, Gia Định, giáp ranh tỉnh Hậu Nghĩa, thỉnh thoảng có phép leo trực thăng về Sài G̣n, tạt qua tạp chí Khởi Hành đường Phạm Ngũ Lăo thăm nhà thơ Viên Linh và nhà văn Dương Trữ La tức Tâm Đạm, bán nguyệt san Thời Nay thăm Khánh Giang. Ghé qua cầu chữ Y hàn huyên tâm sự với Ngô Nguyên Nghiễm, Nguyễn Thành Xuân; đường Nguyễn Tiểu La với Nguyễn Lê La Sơn, Thuỵ Miên; Ngă Ba Ông Tạ với Hà Thúc Sinh.
Nhà anh khang trang, xinh xắn, sân sau trồng liễu rất đẹp, thơ mộng - nơi mà Nguyễn Bắc Sơn mỗi khi say thường ngồi thiền dưới gốc cây, liễu rủ trên đầu trông giống như…Khô Mộc đại sư. Hà Thúc Sinh độc thân, một ḿnh một cơi, tính t́nh lại phóng khoáng, hào sảng nên bạn bè văn nghệ lui tới rất đông, đủ mọi binh chủng khắp bốn vùng chiến thuật : Vũ Hữu Định, Hoàng Đ́nh Huy Quan, Tô Đ́nh Sự… ở miền Trung; Phù Sa Lộc, Trần Kiêu Bạt, Trương Tử Tâm… ở miền Tây. Sài G̣n có Ngô Nguyễn Nghiễm, Chóe, Lưu Vân, Phạm Nhă Dự… Vài món nhắm, vài két bia do anh em góp chung, ngồi bệt trên thềm xi măng, bàn chuyện thế sự, chuyện chiến tranh, chuyện văn nghệ văn gừng… rượu vào lời ra rôm rả. Chính tại ngôi nhà này Hà Thúc Sinh đă giúp Hoàng Đ́nh Huy Quan tục bản tập san Sóng, giúp Nguyễn Bắc Sơn in tập thơ Chiến Tranh Việt Nam và Tôi.
Ở hải ngoại ai cũng biết Hà Thúc Sinh là nhà văn, là nhạc sĩ qua trường thiên bút kư Đại Học Máu viết về ngục tù Công Sản Việt Nam, tập truyện Ông HO, Tống Biệt 2000, Cơm Cà Dưa Muối, Đêm Hè, Về…và những ca khúc viết trong tù, nhạc đấu tranh, t́nh ca…, ít ai biết anh là một nhà thơ, sống chết với thơ. Hà Thúc Sinh làm thơ lúc c̣n rất trẻ, từ đầu thập niên sáu mươi đă có thơ đăng trên các tạp chí văn nghệ uy tín tại Sài G̣n, và đă xuất bản bốn thi phẩm trước tháng tư năm một chín bảy lăm, ngày mất nước : Trí Nhớ Đau Thương, Đá Vàng -1969. Điệu Buồn Chúng Ta -1971, Dạo Núi Ḿnh Ta -1972. Riêng tập Dạo Núi Ḿnh Ta tái bản năm 1973, ít nhà thơ nổi tiếng nào ở miền Nam thời đó bán hết thơ và tái bản thơ như anh. Qua Mỹ anh cho in thêm hai tác phẩm thi ca: Viết Giữa Đường -1988, Hoà B́nh và Tôi -1995.
3.
Đă mang cái nghiệp vào thân Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Hai câu thơ Kiều của thi hào Nguyễn Du ứng vào con người nhà thơ Hà Thúc Sinh. Thơ là cái nghiệp, lỡ sa chân vào rút ra rất khó, như ma tuư, thuốc Lào “đă chôn điếu xuống lại đào điếu lên” theo đuổi bám riết, ẩn hiện như h́nh với bóng. Năm mươi năm làm thơ, in sáu tập gần năm trăm bài, trải dài trên các nẻo đường quê hương, vượt qua biên giới ra hải ngoại, bay khắp bốn phương trời. Thơ là sự khám phá, sáng tạo, không dừng lại chấm dứt; luôn luôn đẩy ta về phía trước, phía mặt trời mọc. Thơ thành cây gậy nhỏ chống mà đi trên sinh lộ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay:
Ta cũng biến thơ kia thành gậy nhỏ Chống mà đi trên sinh lộ một thời Như em có xác thân là gậy nhỏ Để đạp trên đường định mệnh mà chơi.
[Thư Về Tiểu Muội Họ Vương – HTS]
Thơ là em. Em là thơ. Thơ - Em là định mệnh vượt trường giang dậy sóng hội tụ về một điểm Chân - Thiện - Mỹ. Chữ chơi ở đây dùng rất đắc địa, bảng lảng như mây trời, bao la như vũ trụ. Và, thi sĩ có phải là chim phượng hoàng phủ cánh bao trùm đến tận cơi vô cùng :
Ta sắp vượt một trường giang dậy sóng Không cầu nào có thể bắt qua Đây là lúc phượng hoàng sắp phải Đem cánh ḿnh phủ lấy bóng trời xa.
[Thư Về Tiểu Muội Họ Vương – HTS]
Thơ Hà Thúc Sinh ví như ngôi nhà ba gian, mái lợp âm dương, bên trong bài trí nửa cổ nửa tân, kết hợp hài hoà hai nền văn hoá Đông Tây:
Bầy ngựa truyền kỳ phóng từ bút lông y Bỗng mịt mù biên cương trời đất Ta chống gậy thơ thẩn bên vườn Thấy nhạn lưng trời không bay Khép mắt vẫn thấy mây nổi Ôi! Cội nguồn của sông là núi Chợt thấy đâu đây Trên một chỉ tay.
[Khi Xem Một Hoạ Sĩ Vẽ Ngựa – HTS]
Cổ điển hay hiện đại? Mới hay cũ? Sao lạ quá. Không khí xưa, h́nh ảnh xưa, cách dùng chữ rất xưa như bút lông y, truyền kỳ, nhạn lưng trời … lại nằm trong một bài thơ tự do. Thật ra, ngôn ngữ chỉ là phương tiện để diễn đạt tư tưởng xưa - nay, mới - cũ; là sự phân tích có tính cách chủ quan của người phê b́nh, phải nh́n thật sâu bên trong từng chữ từng câu thơ mới hiểu được sự vi diệu của ngôn ngữ. Đốt ḷ hương cũ không phải để quay lại, t́m về, loay hoay với quá khứ hay tiếc nuối thời gian đă mất; mà là ôn cố tri tân, soi sáng sinh lộ dẫn đến một chân trời mời.
Bức tranh thuỷ mặc với đôi nét chấm phá thần kỳ, bầy ngựa, thiền sư chống gậy, bầy nhạn… h́nh ảnh tịch liêu, tĩnh lặng, thiền vị có vẻ như an nhiên tự tại, phiêu hốt, nhưng lại biến động dữ dội, hỗn mang trời đất. Thi sĩ chống gậy thơ thẩn bên vườn nh́n nhạn lưng trời, nh́n mây trôi; mở mắt khép mắt là cả một sự biến dịch âm dương giữa tĩnh và động như sự trầm tư, trăn trở, thao thức về cội nguồn của một kiếp nhân sinh. “Ôi! cội nguồn của sông là núi. Chợt t́m thấy đâu đây. Trên một chỉ tay”. Chỉ tay là của ta, chúng ta, là con tim, cái tâm; và có phải cái tâm của con người sẽ định đoạt ḍng sinh mệnh của một dân tộc.
4.
Hầu hết các văn nghệ sĩ Miền Nam đều ở trong quân đội. Hà Thương Nhân, Thành Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Thảo Trường, Dương Hùng Cường, Viên Linh, Trần Hoài Thư, Hà Thúc Sinh, Phan Bá Thuỵ Dương, Tô Đ́nh Sự, Duy Lam, Phạm Nhă Dự, Trần Phù Thế… Người lính, dù là hội viên hội văn nghệ sĩ quân đội hay ở ngoài, họ đều tự do viết, tự do tŕnh bày tư tưởng, tự do đăng báo, tự do in sách, không bị ràng buộc cấm đoán bởi cấp trên, quân đội hay chính quyền. Bàn viết là ba lô khi dừng quân nghỉ ngơi vài phút; là tấm ván thùng đạn pháo binh ở hậu cứ, hay bất cứ một nơi nào, ven rừng góc núi cao nguyên đồng bằng. Khác với thiên đường máu miền Bắc, văn nghệ sĩ là văn nô, viết rập khuông sự chỉ đạo của đảng cộng sản. Ca tụng đảng, ca tụng Hồ Chí Minh, ca tụng Mao Trạch Đông, Stalin. “Vui biết mấy khi con tập nói. Tiếng đầu đời con gọi Xít Ta Lin - Tố Hữu”. Viết, cái mà đảng gọi là chệch hướng, sẽ bị trù dập, tự phê, tự kiểm, đấu tố. Nặng hơn, đảng chụp cho cái mũ phản động, sẽ bị thanh trừng, tra tấn, tù tội. Vụ án Nhân Văn Giai Phẩm vẫn c̣n sờ sờ trước mắt. Những kiện tướng văn học thời đó như Trần Dần, Lê Đạt, Nguyễn Hưu Đang, Phùng Quán, Phùng Cung… kẻ cứa cổ tự tử, người bị nhục h́nh, khổ sai, biệt giam, về nhà sợ cho đến chết. Nhà văn Nguyễn Tuân đă từng tâm sự với lớp văn nghệ trẻ Hà Nội: ”Sở dĩ tao c̣n cầm bút và c̣n sống đến bây giờ là v́ tao biết sợ chúng, mày ạ”. Riêng có một người, duy nhất một người, nhà thơ Hữu Loan, kẻ sĩ Bắc Hà, hào khí ngất trời không chịu khuất phục, đầu hàng. Uy vũ bất năng khuất. Ông bỏ đảng, bỏ vệ quốc quân, bỏ chức tước trở về quê cày ruộng, cuốc đất, vác đá, kéo xe cút kít…Làm đủ nghề thấp kém nhất để nuôi vợ con, tránh xa loài quỷ dữ. “Những tai trâu huấn nhạc. Những mắt lợn thưởng tranh. Bọn nghệ nô. Đem hết tài. Khuyễn. Mă (Hữu Loan)”.
Hà Thúc Sinh là lính nên anh viết nhiều bài thơ về lính. Thơ anh không moi gan nuốt mật, không “phanh thây uống máu quân thù” như cái loa tuyên truyền của cộng sản. Chất lính trong thơ anh đầy t́nh dân tộc: khoan dung, nhân ái và rộng lượng kể cả với người bên kia chiến tuyến:
Giao thừa sao mà vội Hăy khoan đă chú mày Cứ đóng xa vài dặm Mà ăn uống no say.
Ta cũng người như chú Cũng nhỏ bé trong đời Có núi sông trong bụng Mà bất lực hôm nay.
[Nghinh Địch Hành – HTS]
Tâm thức của người yêu nước thương dân, ôm núi sông trong bụng mà lực bất ṭng tâm, nhắm mắt buông tay. Không c̣n ǵ đau khổ nhục nhă cho bằng cảnh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn. Cùng là người Việt Nam máu đỏ da vàng, chia cắt bởi một ḍng sông ô nhục, hai bên hai chủ nghĩa hai con đường. Người lính Miền Nam chiến đấu bảo vệ cuộc sống của người dân và lư tưởng tự do dân chủ. Chú bộ đội Bắc Việt chiến đấu cho tham vọng cuồng điên của bọn cộng sản Miền Bắc, cộng sản Nga Tàu. Gọi là chú v́ họ c̣n quá trẻ, mười lăm mười sáu tuổi bị cưỡng bức vào ḷ lửa chiến tranh, sinh bắc tử nam. Này chú bộ đội, tạm thời xếp lại chuyện binh đao, giao thừa sắp đến hăy bày tiệc đón mừng xuân mới. “V́ nói thật cùng chú. Trăm năm có là bao. Binh đao sao biết được. Sinh tử có là bao - HTS”.
T́nh đồng đội sống chết có nhau, không bỏ anh em, không bỏ bạn bè là tâm niệm của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà. Đời quân ngũ nay đây mai đó, đứa Cà Mau - Năm Căn, đứa B́nh Long - B́nh Giả, gặp nhau cụng ly chết bỏ, quên đời. Người lính chiến đấu hết ḿnh và chơi hết ḿnh. Địa vị, chức tước, tiền bạc, có nghĩa ǵ khi khi bom đạn dày xéo quê hương. Tuổi trẻ có mặt khắp chiến trường, người thương tật ở Khe Sanh, kẻ vùi thây nơi tuyến đầu Quảng Trị: thiên đàng hay địa ngục?
Chó không buồn sủa quạ im hơi Thơ thẩn anh gà giữa phố chơi Góc núi nào hay trên biển cát Có xương lẫn máu bạn hiền tôi
[Khi Bước Chân Xuống Quảng Trị, Nhớ Bạn – HTS]
Hăy cụng ly chết bỏ Tôm cua cá lươn ṣ Lương ta c̣n nguyên vẹn C̣n nguyên cái Seiko
Cửu Long Giang ra biển Sẽ chẳng trở về đây Chiến tranh hề gặp gỡ Có chắc lần thứ hai
Mai mỗi thằng mỗi ngả Thằng Cà Mau, Năm Căn Thằng B́nh Long, B́nh Giả Thằng địa ngục, thiên đàng.
[Hành Quân Qua Bến Phà Mỹ Thuận, Gặp Bạn Đánh Chén, Say Mèm – HTS]
Thơ lính Hà Thúc Sinh bi tráng, khinh bạc, khí khái, đầy hiện thực đi thẳng vào tâm cảm người đọc. Không sơn son trét phấn, tô hồng tô đỏ, không tôn vinh nịnh bợ trơ trẽn, đồng hoá tổ quốc với Lê Nin - Liên Xô, với chủ nghĩa ngọai lai phi dân tộc. “Ôi! đường đến với LêNin là đường về tổ quốc. Biết ơn tài sáng tạo Liên Xô. Đưa sóng ḷng ta vượt cơi bờ. Ta đứng reo giữa ngh́n tinh thể. Ôi chị Hằng Nga cô gái Nga - Chế Lan Viên”. Những cái lưỡi gỗ của bọn văn nô phương bắc mửa ra những câu thơ hèn hạ, nhục nhă như loài ḅ sát đă giết chết tinh tuư thơ, và tự đâm vào trái tim ḿnh, tự hùy.
Rượu, thuốc thâu đêm , đời lính gặp nhau chỉ có thế làm vui sau những lần hành quân gian khổ, những trận đánh khốc liệt. Có khi tiền lính tính liền chia nhau ly rượu điếu thuốc rồi ngậm ngùi chia tay mỗi người mỗi ngả, bạn về vùng địa đầu giới tuyến, ta trở lại sông rạch Cửu Long, tiếp tục cuộc hành tŕnh trên con đường vô định.Thơ chiến tranh không có không khí chiến tranh, không có cảnh máu đổ xác người bom đạn. Thơ chiến tranh Hà Thúc Sinh không hận thù, không kích động hận thù mà đầy ắp t́nh bạn, t́nh đồng đội, t́nh người thể hiện trung thực tính nhân bản của văn nghệ sĩ miền Nam:
Dằn ly xuống chiếu cười gượng cười Ta biết rằng chưa ấm bụng ngươi Bực thay bạn đến từ muôn dặm Mà rượu hề không đủ say chơi
[Buổi Chiều Ở Nhà Mời Bạn Đánh Chén, Nửa Chừng Hết Rượu - HTS)
Ven sông một đồn binh đóng Cố tri trong lớp tân binh Cách nhau một hàng dậu sắt Nh́n nhau úa lệ thân t́nh
Mời bạn chưa tàn điếu thuốc Việc binh trở gót quay vào Đêm nay trong thành phố lạ Hồn ta biết gửi nơi đâu.
[Thăm bạn - HTS]
5.
Hoà b́nh là khát vọng muôn đời của dân tộc Việt Nam. Hoà b́nh là con chữ lạ mặt nằm im trên trang giấy, bài viết, lời ca, trên cửa miệng mọi người, thực chất là ảo vọng, hoang tưởng, chỉ có trong giấc mơ. “Hoà b́nh đến trong giấc ngủ. Hoà b́nh đến trong cơn mê sảng. Hoà b́nh đến trên đôi vú em anh đă từng mơn trớn. Anh đă từng yêu em và mớ gọi hoà b́nh - TVS”. Tuổi trẻ khát khao hoà b́nh. Nhưng chiến tranh có phải là giải pháp duy nhất để đưa đến hoà b́nh? Câu trả lời chắc chắn là không. Vậy mà bọn cộng sản Việt Nga Tàu đă nướng cả dân trong bể lửa chiến tranh. Tâm trạng của tuổi trẻ Miền Nam về giấc mơ hoà b́nh vào thập niên sáu mươi, bảy mươi được Hà Thúc Sinh tŕnh bày trong bài Xin Hoà B́nh Hăy Đến:
Xin hăy đến đây Hỡi hoà b́nh lạ mặt yêu dấu Xin đừng cho tôi những buổi sáng giết nhau Xin đừng cho tôi những buổi trưa hối hận Xin đừng cho tôi những buổi chiều ăn năn Xin đừng cho tôi những buổi tối trống vắng
Xin hăy đến đây Hỡi hoà b́nh lạ mặt yêu dấu
Có biết rằng chúng tôi mồ côi người từ buổi sơ sinh Có biết rằng chúng tôi đời chờ người từ ngày khôn lớn
Xin hăy đến đây đi Hỡi ḥa b́nh lạ mặt yêu dấu Sao người cứ kiêu hănh như giai nhân hoài hoài lỗi hẹn Khi tuổi xuân chúng tôi chỉ có một lần Làm sao chờ được trăm năm Mà đến trăm năm c̣n ǵ xương máu anh em
Xin hăy đến đây Hỡi hoà b́nh lạ mặt yêu dấu Bởi tuổi trẻ chúng tôi thiếu người đă phải sát nhân Bởi tuổi trẻ chúng tôi thiếu người nên bàn tay bẩn Bởi tuổi trẻ chúng tôi thiếu người trở thành nô lệ Bởi tuổi trẻ chúng tôi thiếu người nhiều kẻ chết sớm
Xin hăy đến đây Hỡi hoà b́nh lạ mặt yêu dấu Hăy thành thật đến với chúng tôi Như chúng tôi thành thật t́m kiếm người Hăy lâu dài ở với chúng tôi Như chúng tôi lâu dài một đời chờ người …
6.
Ba mươi tháng tư năm một chín bảy lăm: Ngày bi thảm nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam. Ngày Cộng Sản Bắc Việt áp đặt chết độ độc tài toàn trị lên Miền Nam . Độc lập không độc lập. Tự do không tự do. Hạnh phúc không hạnh phúc. Toàn những khẩu hiệu mị dân, lừa bịp, dối trá được nhà thơ Hữu Loan gọi là “Thảo nguyên âm thanh. Thảo nguyên áp phích”. Ngày mà “Nam kỳ khởi nghĩa tiêu công lư. Đồng khởi vùng lên mất tự do”. Ngày mà quân dân cán chính miền Nam bị bắt nhốt vào trại tù súc vật khắp ba miền Nam Trung Bắc, bị gông cùm xiềng xích, bị hành hạ tra tấn, bị xô xuống chín tầng địa ngục. Người không c̣n là người khi bị tước đoạt quyền sống, quyền được nói, quyền được tự do suy nghĩ, hành động. Cộng sản chủ trương diệt chủng đạo đức, văn hoá, biến con người thành cây cỏ, súc sinh, ngạ quỉ:
Tù ra đi kẻ trước người sau V́ che tay không thấy mắt băo người Ôi cái thời chim ó lộn chim cu Mắt trẻ thơ long lanh màu phản trắc Băo mắt! Băo mắt! Nó thổi qua không ai c̣n ngon giấc
[Băo Mắt – HTS]
Đất nước nhuộm một màu ảm đạm, thê lương, người dân sống trong tâm trạng bất an, nghi ngờ lẫn nhau, ăn ngủ không yên. Trẻ thơ được dạy cách báo cáo chỉ điểm giết người. Con tố cha. Vợ tố chồng. Xă hội đảo điên, ngược ngạo . Đúng là “Ôi cái thời chim ó lộn chim cu. Mắt trẻ thơ long lanh màu phản trắc”.
Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Hà Thúc Sinh ở tù gần năm năm qua các trại tù Trảng Lớn, An Dưỡng, Suối Máu, Hàm Tân. Cộng sản gọi trại tù là trại học tập cải tạo, gọi người tù là cải tạo viên để che mắt người dân cũng như dư luận quốc tế. Cuộc sống trong tù được anh viết khá đầy đủ chi tiết trong trường thiên Đại Học Máu. Trại tù cộng sản khét tiếng tàn độc dă man, phi nhân nhất thế giới, không thua ǵ các trại tập trung dân Do Thái của Đức Quốc Xă, hoặc các trại tù trừng giới Gulag của Liên xô. Người tù ăn ít làm nhiều, bữa ăn lưng chén bo bo, sắn, bắp với nước muối, làm việc hành xác nặng nhọc như kéo cày thay trâu, vác đá, gỡ ḿn, đào ao, đốn gỗ…lâu ngày kiệt sức chết dần ṃn:
Tiếng c̣i thổi gom tù thành bó Một bó người quẩy trăm bó con Chui khỏi bụi chiều lên khắp nẻo Nh́n hai tay kiến cắn đỏ ḷ Ngó về phía ḷ than hoang phế Nỗi âm u như mộ giữa đồng Bước vội vấp ngă lăn ra đất Năm bó con ai giấu bên đàng
[Thằng Bé Đốn Củi – HTS]
Cay đắng, mỉa mai, chua xót. Người bến thành củi, củi gom một bó liệng vào lửa là xong, than xác thành tro than, hồn thành những sợi khói lang thang, vất vưởng không nơi nương tựa. Chúng ta mất quê hương là chúng ta mất tất cả. C̣n lại là t́nh đồng đội, t́nh dân tộc, là những nấm mộ hoang của những người dân vô tội, của những chiến hữu một thời sát cánh chiến đấu bên nhau nằm cô quạnh nơi rừng thiêng nước độc sẽ là ngọn lửa nung nấu ư chí đấu tranh cho các thế hệ mai sau lên đường dựng lại quê hương.
Trí thức miền Nam lớp bị nhốt vào tù, lớp bị lùa đi vùng kinh tế mới, lớp bị đẩy ra ngoài đường. Giáo sư mất dạy vá lốp xe. Dược sĩ bán chợ trời. Đảng cộng sản toàn một lũ dốt lên cầm quyền, ngồi chễm chệ trên đầu trên cổ thiên hạ, độc tài khát máu c̣n hơn cả thời phong kiến ngày xưa:
Trung tá xích lô thầm hỏi bạn Chợ trời dược sĩ có sao không Cười như nước mắt nói như bỡn Nó bố trưa nay c̣n cái quần
Ông giáo sử mấy năm vá lốp Đồ nghề lỉnh kỉnh nặng trên tay Một anh văn sĩ ngồi lê hỏi Thời xưa phong kiến khá hơn chăng?
[Quán Bên Đường – HTS]
Xă hội Việt Nam thời cộng sản được Hà Thúc Sinh mô tả đầy đủ, chính xác và trung thực trong bài thơ tứ tuyệt có tựa Cô Gái, hai mươi tám chữ là hai mươi tám giọt máu ứa ra từ trái tim quặn đau của thi sĩ nhỏ xuống thân thể rách nát, khốn cùng của cô bé mười lăm có tên là Việt Nam:
Cha tù mẹ chết anh mất tích Sau mười thu cô bé mười lăm Điều ước lớn làm sao có được Ra ngoài lễ bộ đủ bên trong
7.
T́nh yêu trong thơ Hà Thúc Sinh thể hiện, vẽ ra cho ta thấy tính chất mâu thuẫn giữa tự do và ràng buộc, giữa cô đơn và hạnh phúc, giữa cái riêng và cái chung. Thích yêu người, thích được người yêu, thích yêu hết đàn bà trên thế giới, mà cũng thích sống lang thang một ḿnh, thích thành một ḍng sữa ngọt chảy giữa đời như giữa cuộc chơi. Mâu thuẫn không có nghĩa là đối nghịch mà cùng song hành vượt lên, thoát khỏi cái kiếp người chật chội này. Tại sao lại gọi cái giới hạn của kiếp người chật chội? Phải chăng thi sĩ đă “ngộ” được cái hạn hẹp của vũ trụ, cái giới hạn của kiếp người bị giam hăm trong ṿng sinh tử luân hồi? Có hẹn sẽ gặp, có đi sẽ đến. Thi sĩ đă trót hẹn cùng nhật nguyệt và đă bay lênh đênh trên sự sống con người, nhưng cuối cùng rồi cũng sẽ trở về với một điểm hẹn duy nhất đó là t́nh yêu muôn thuở:
Ta thích tự do để được yêu hết đàn bà trên thế giới Thích lang thang thích sống một ḿnh Có khi ta vượt cả ngàn cây số Để hẹn ḥ cùng một kẻ chưa quen
Bởi vốn sinh ra với nhiều cảm luỵ Thích được yêu và thích được yêu người Ở trong ta chảy một ḍng rượu ngọt Nên sống giữa đời như giữa cuộc đùa chơi
Nhưng khi yêu em ta cũng muốn nói có ǵ dành tặng Xin tặng em một đống sách ngổn ngang Một tâm hồn chứa ngh́n cân thuốc nổ Một kiếp người đầy mộng ảo miên man
V́ em ạ, ta sinh ra đă lỡ Bay lênh đênh trên sự sống con người Ta đă trót hẹn cùng nhật nguyệt Hồn đơn sơ như đoá cúc vàng tươi
Có những lúc vui ta vừa đi vừa hát Vừa lắng nghe thơ róc rách trong đầu Cũng có lúc ta buồn như tử tội Ôi kiếp người thấy chật chội làm sao
Riêng tấm ḷng ta như cây đàn muôn điệu Cả một đời thèm khát được rung lên Khi yêu em ta đă cho tất cả Vẫn tiếc ḿnh sao chỉ một trái tim
[Tự Truyện – HTS]
Hà Thúc Sinh không dùng chữ Tôi tĩnh lặng xa cách, chữ Anh thân mật tŕu mến, mà dung chữ Ta mạnh mẽ khí khái, chữ Ta chân thật tự chủ, không yếu mềm, không uỷ mị van xin. Đó là đặc điểm phóng khoáng trong thơ t́nh của thi sĩ. Chữ dùng rất đời, thường b́nh dị, không hoa mỹ cầu kỳ kiểu cách làm dáng nên rất gần gũi và gây được sự rung động trong ḷng người đọc.
Thi phú và sách vở có phải là niềm an ủi cuối cùng khi những câu hỏi về t́nh yêu không được trả lời? Người thơ không hiểu ḿnh có thật sự yêu hay không và người ḿnh yêu có thật sự yêu ḿnh không? Phải chăng những khắc khoải ưu tư là do sự dồn nén, u uẩn từ tâm trạng của người lính trận, giữa t́nh yêu và bổn phận, giữa sống và cái chết, hồn chứa đầy chất nổ đă dạn dày chai cứng trong khỏi lửa chiến tranh:
Ta muốn là hạnh phúc Len lỏi vào trong em Một chiếc b́nh nho nhỏ Đựng thế giới vô biên Chứa một trời thi phú
[Tóc Rối – HTS]
Ta yêu em không nhỉ Em cần ta thực chăng Mặt trời yêu bóng tối Mặt đất yêu mặt trăng
[Mối T́nh Ta – HTS]
Mặt trời - bóng tối. Mặt đất - mặt trăng, h́nh ảnh tương phản, nhị nguyên, nhưng qua thơ anh những cặp đối đăi ấy đă đưọc hài hoà, tương thông. Em sẽ đến. Em không đến. Đến và đi là chuyện thường t́nh của t́nh yêu. Sự thay đổi không quan trọng bằng ước vọng khao khát yêu đương, và t́nh yêu bao giờ cũng bất diệt, tràn trề như sóng biển thỏ thẻ lời tỏ t́nh dịu ngọt, nồng ấm giấc mộng trăm năm:
Em không đến hay em sẽ đến Nhạc ḷng ta sóng cũng tràn trề Một chén rượu làm nên giấc mộng Quá đủ rồi biển nói em nghe
Chẳng cùng ai ngồi nơi cuối núi Quán cà phê có điệu nhạc buồn Sống những phút cát bồi lặng lẽ Hạnh phúc nào bằng nỗi cô đơn
[Thuỷ Nguyệt – HTS]
8.
Qua Mỹ gần ba mươi năm Hà Thúc Sinh xuất bản thêm hai thi phẩm Tập “Hoà B́nh và Tôi“ gồm những bài thơ viết trong tù, và lúc ra tù sống dưới chết độ cộng sản. Tập ”Thơ Viết Giữa Đường” phần đầu gồm những bài thơ sáng tác ở hải ngoại, phần cuối trích một số bài thơ trong tập ”Dạo Núi Ḿnh Ta“ in trước năm 1975, thời Việt Nam Cộng Hoà.
Thơ viết ở xứ người vui ít, buồn nhiều, nhớ nhiều quên ít, tràn đầy những cơn ác mộng. Hai năm lưu lạc, mà đến trăm năm chăng nữa, biến cố đau thương tang tóc ngày ba mưoi tháng tư năm một chín bảy lăm vẫn c̣n hằn sâu trong tim óc người thơ: “Là gai đâm thịt là đinh đóng đầu”. Vết thưong vẫn c̣n tươi rói rỉ máu từng ngày, chuốc ruợu t́m quên càng chất càng sầu, vá cái sầu riêng nhưng càng vá càng sứt chỉ sổ tà, thân tâm bại liệt, như bóng ma trơi vất vưởng trong cơi trầm luân nghiệt ngă. Lục bát Hà Thúc Sinh sáng tác trong giai đoạn này bi phẫn, xót xa, cay đắng và đầy hoài niệm. Thơ thành tiếng thở dài năo ruột sâu kín trong tâm. Thơ thành khúc chiêu hồn sinh niệm, chiêu niệm những người c̣n sống hay đă chết. Vết sẹo tưỏng đă lành nhưng vẫn c̣n mưng mủ nhức nhối đêm ngày. Không c̣n ǵ cả, tay trắng tay, miệt mài thân trâu ngựa trả nợ áo cơm; tai vẫn c̣n nghe văng vẳng tiếng vọng năo nề, xé gan xé ruột của một thời chinh chiến xa xưa:
Hai năm ta ở xứ này Cái đời lộn ngược tháng ngày chửa quen Ẩn trong nỗi nhớ, nỗi quên Là gai đâm thịt, là đinh đóng đầu B́nh minh thức dậy, thân trâu Ngó quanh ai cũng một mầu trầm luân Sầu riêng ngồi vá hai năm Cái thân sứt chỉ cái tâm sổ tà Cái xưa binh bại oan gia Cái nay lưu lạc như ma giữa trần Chiều về dăm chén bâng khuâng Rượu trôi xuống bụng, sầu dâng khắp ḿnh
[Hai Năm ở Mỹ - HTS]
Cuối năm ở Cali trời lạnh, một ḿnh rượu khuya uống đến b́nh minh, uống măi không say. Một ḿnh cùng rượu đối ẩm, uống trong nỗi cô đơn, da diết dằn vặt khôn nguôi. Thèm một chút điên để quên đi một mảnh lá gầy rơi nghiêng ngoài sân, mảnh lá cuối cùng lẻ loi hiu quạnh như cuộc sống vong thân của một kiếp ngựi: “Cuối năm thèm một chút điên. Rượu khuya uống măi một ḿnh không say. B́nh minh anh vẫn ngồi đây. Ngoài sân một mảnh lá gầy rơi nghiêng - HTS”. Cuối năm một ḿnh nhớ ngựi nhớ đời. Nhớ cái mất cái c̣n cái được cái thua. Nhớ ngày mẹ sinh ra lành lặn tay chân, nay hụt hẫng khập khễnh chơ vơ trên con đựng vô định. Thèm được đọc sách. Thèm được đánh đàn. Cái thèm trong tầm tay, tủ sách cây đàn ở bên ḿnh sao thấy xa xôi miên viễn…Phải chăng trong tâm thức của thi sĩ chỉ c̣n đọng lại duy nhất một miếng trời quê hương:
Nơi đây trời lạnh cuối năm Mà hồn anh lửa cháy rừng chẳng nguôi Tháng cùng năm tận như khơi Mối sầu riêng ở mối vui biếng về Mẹ xưa sinh đủ tứ chi Tha hưong hụt hẫng như què một chân Sách nằm như lũ liệt câm Cây đàn treo cổ từ năm ngoái rồi Trong quang cảnh ấy anh ngồi Ngó mây thèm một miếng trời quê hương Ngó hoa nhớ miếng đất cằn Ngó nhung lụa nhớ nâu sồng lấm lem Và khi cầm bát cơm lên Lửa rừng mưa tắt khói hoen mắt người
[Cuối Năm Ở Cali – HTS]
Câu thơ ”Ngó mây thèm một miếng trời quê hương” nghe ray rứt bâng khuâng xao xuyến vô cùng. Chữ “miếng” b́nh dị mộc mạc, nó bám riết, quanh quẩn bên ta từng giờ từng phút từng giây. Tại sao không một “góc”, một “mảnh” trời quê hương mà là một miếng trời quê hương? Chữ “miếng” dùng ở đây thật thần kỳ vi diệu, nó chập chờn ẩn hiện đâu đây h́nh bóng quê nhà. Thèm một miếng bờ đê, một miếng cánh đồng, một miếng áo nâu sồng, một miếng đất khô cằn; ôi kể làm sao cho xiết nỗi nhớ nhung da diết một miếng trời quê hương xa xôi vạn dặm.
Ḥa nhập vào một đất nước văn minh bậc nhất thế giới này không phải là chuyện dễ dàng, khi mà ta đă trải qua một thời gian dài sống trong một xă hội đầy tăm tối, nghèo đói, lạc hậu. Thân tàn sức kiệt, đầu óc đóng băng chai cứng, ngỡ ngàng khi đối diện với những cao ốc nguy nga tráng lệ, bơ vơ lạc lơng giữa những người không cùng tiếng nói màu da. Lạ cảnh lạ người. “Đổi ngựơc họ tên cha mẹ đặt. Tập làm con trẻ nói ngu ngơ. Vùi sâu dĩ văng vào tro bụi. Thân phận không bằng đứa măng phu - Thanh Nam”. Tâm trạng của thi nhân, dù cuộc sống xứ người tưong đối ổn định, con cái thành người, vẫn thấy có cái ǵ bất ổn, nó như những đợt sóng ngầm, có lúc cuồn cuộn dâng lên ngập tràn, có lúc âm ỉ len lỏi vào tận xương tủy. Một ḿnh lái xe đi chơi xuân, sao lại một ḿnh, một ḿnh làm sao vui được? Vui chứ, có dịp thưởng lăm bức tranh toàn bích của thiên nhiên, biển núi sương trắng mênh mông, chim bay về núi, sự vật cố định không thay đổi. Có chăng là nó ẩn khuất trong cơi sâu thẳm của tâm hồn “ḷng cồn lên một quê hương”.
Đừng lên thăm thẳm một trăm dặm Ḿnh ta chạy xe đi chơi xuân Một bên là biển bên là núi Có đổi thay nào trên dương gian
Ghé quán bên đường kiếm hơi ấm Nh́n ra sương trắng sương mênh mông Thấy chim loáng thoáng bay về núi Ḷng bỗng cồn lên một cố hương
[Trên Đường Chơi Xuân
Santa Ana
– HTS] Ngồi xuân quán vắng không kẻ bạn Mắt ngâm đáy cốc mắt ai nḥe Tiếng kèn lên măi sầu muốn nổ Sao ép đời ta đĩa hát kia
Tới cuối băi đôi chân tuổi nặng Biển trời nhập một hồn chia hai Với ḿnh chỉ có thông leo núi Biết chẳng đ̣ ngang vẫn ngó vời…
[Chiều Ghé Biển Santa Barbara – HTS]
Nụ cựi dí dỏm, hóm hỉnh pha một chút châm biếm trào phúng nhẹ nhàng :
Ông Toại khuyên tôi muốn trẻ trung Mỗi năm trừ một tuổi là xong Ḿnh cựi thầm nhủ không lâu lắm Lại giữa sân mưa đựơc tắm truồng
[Trừ Tuổi - HTS]
Cô gái mười lăm tắm nửa đêm Rồ rồ nước chảy dưới và trên Có ngựi thầy pháp già trăm tuổi Đă chết sau ngày trông thấy tiên
[Sợ - HTS]
9.
Thơ sáng tác theo trường phái nào, khuynh hướng nào, thể loại nào cũng đều có giá trị như nhau. Đựng luật, thất ngôn, thơ mới, tự do, cổ điển, lăng mạn, siêu thực, hiện thực… tùy theo sự chọn của tác giả, miễn thơ phải có hồn, âm điệu dạt dào và đi vào trái tim người thưởng ngoạn. Thơ làm không khó nhưng khó có đựơc một bài thơ hay, mà viết về thơ không phải là chuyện dễ. Phải hiểu thơ, hiểu chưa đủ, c̣n cần phải có sự rung động, đồng cảm với thơ. Thơ mênh mông vô hạn. Viết về thơ là giam thơ vào khuôn khổ của sự phân tích phê b́nh không cần thiết, nhưng đă nhập vào hồn thơ, trôi nổi theo thơ mà không ghi lại những cảm xúc về thơ th́ liệu có công bằng cho thơ không? Thơ Hà Thúc Sinh là ḍng sông chảy măi không ngừng, len lỏi vào từng ngơ ngách (tâm hồn), âm thầm vượt qua những ghềnh thác cheo leo hiểm trở, những núi rừng trùng điệp, những đồng bằng ph́ nhiêu màu mỡ rồi tuôn tràn ra biển cả bao la vô tận. Thơ Hà thúc Sinh đa diện, một ḿnh trong cơi riêng biệt. Nhiều ẩn dụ, đôi khi có những ẩn ngữ, ẩn nghĩa ch́m sâu bên trong ngôn ngữ, phải đọc đi đọc lại nhiều lần, qua một thời gian chiêm nghiệm mới mong khám khá đôi chút tư tưởng của thi nhân.
Non nửa thế kỷ làm thơ, trải qua một cuộc hành tŕnh dài dằng dặc, Hà Thúc Sinh đă dấn thân vào những biến động kinh hoàng xảy ra cho dân tộc Việt Nam. Thi sĩ là chứng nhân của thời đại. Ngựi ta có thể thay trắng đổi đen, bóp méo lịch sử nhưng không thể nào thay đổi được sự thật. Thơ Hà Thúc Sinh là sự thật, chân thành, chân t́nh, đầy ắp t́nh người t́nh quê hương dân tộc. Xin thưởng thức bài thơ sau đây để tạm kết thúc bài viết về thơ Hà Thúc Sinh:
Chiều hôm lỡ chuyến sang sông Chân mây điểm một nét buồn núi non Ngậm ngùi ta lắm, thân đơn Dưới trăng xao xuyến về phương nhớ nhà Mây bay rất mỏng như là Áo không đủ ấm hồn ta giữa đời.
[Bên Sông Nhớ Nhà - HTS]
Trần Văn Sơn
___________________
Đêm Nghe Phạm Văn Thịnh
Hát Tù Ca Hà Thúc Sinh
Trần văn Sơn
_______________________________________________________
Links của a2a : Nhạc Hà Thúc Sinh:
Tủi nhục ca : Ḥa âm Lê Văn Thiện Ban nhạc Lê Văn Thiện & Trung Nghĩa Thâu âm tại Dynasti H Studio tháng mười một chín tám mốt
Lời giới thiệu 1 Lời giới thiệu 2 Đám ma văn hóa Cơn khát Hàm Tân Đêm Việt Nam Người nữ tù Phước Long Đoạn đường Núi Sọ Chàng tuổi trẻ tù binh chính trị Thời hoàng hôn của Ư niệm Chàng thi sĩ và hầm chứa xác Trại biến h́nh Lời kết
Hà Thúc Sinh tên
thật là Phạm Vĩnh Xuân.
|