trần văn sơn


PHẠM NHĂ DỰ : 

THƠ VÀ HOÀI NIỆM  MỘT THỜI TUỔI TRẺ

 

Nguồn : vuontaongovhnt.blogspot.com

 

 

Thời gian bắt đầu bằng một ṿng quay. Vậy mà hơn bốn mươi năm nay, trải qua hàng tỷ ṿng quay và hàng hàng lớp lớp sát-na tiếp nối, cùng với những biến động bất ngờ của lịch sử; kể từ thập niên sáu mươi, dù ở Việt Nam hay ở xứ người, chúng tôi cũng vẫn gắn bó và thân quư nhau như buổi ban đầu. Trước ngày 30/4/75, thỉnh thoảng chúng tôi tập trung tại Quang Hạnh thư trang của nhà thơ Ngô nguyên Nghiễm dưới chân cầu chữ Y đường Hưng Phú, Ngă ba Ông Tạ của nhà văn Hà Thúc Sinh, và nhà  Nguyễn Lê La Sơn -Thụy Miên ở Nguyễn Tiểu La…; bày tiệc rượu, mạn đàm chuyện văn chương, lúc ngà say thường đọc thơ cho nhau nghe. Những bài thơ mới sáng tác mang gió bụi đường xa đầy hào khí của Lâm Chương, Trần phù Thế, Thụy Miên, Phạm nhă Dự…do chính tác giả đề trên vách lầu một nhà ca sĩ Quốc Phong không biết có c̣n hay không ? Ta c̣n nhớ một vài đoạn thơ của bạn, màu mực và nét chữ bay bướm lên tường vẫn c̣n in đậm trong đầu ta, có c̣n nhớ không Phạm nhă Dự ?

 

Viên đạn lăn nhanh trong tay

Đó là tṛ chơi thứ nhất

Đưa em về ngôi nhà cũ

Buổi sáng mù sương đắp cao

 

Khẩu súng quay nhanh trên tay

Đó là tṛ chơi thứ hai

Hôn em bằng t́nh ái cũ

Tinh khôi rực sáng đôi mày

(Từ 4091 - PND )
    

Buổi sáng ta thức dậy thật sớm, nhâm nhi ly cà phê hiên sau vườn nhà, ngắm hoa cảnh, mồi điếu thuốc, suy nghĩ mông lung. Nghĩ về gia đ́nh, về bạn bè. Nghĩ về người, về đời. Mới ngày nào thanh xuân tràn trề sức sống, nay bạc tóc sức kiệt thân tàn. Nh́n lại những chặng đường đă qua, vui ít buồn nhiều. Đôi khi chúng ta như kẻ lăng tử dong ruỗi ngược xuôi, sống bạt mạng, bất cần đời hầu quên đi một phần nào nỗi đau về thời thế thế thời phải thế, cũng có lúc rượu mềm môi với những thâm t́nh chất ngất; và Thơ hiển hiện như một sự cứu rỗi nhiệm mầu vượt lên trên tất cả, kết nối tâm giao thành tinh anh đất trời.

 

Bạn có c̣n nhớ đêm Quán Gió ở băi biển Tân Long – B́nh Tuy, bạn – ta và nhà thơ Phan lynh Sa  đă thức suốt đêm dưới hàng dừa cao ŕ rào lá gió, ngồi trên băi cát ngắm ánh sáng huyền ảo của vầng trăng mười tám lung linh trên mặt biển, nghe sóng vỗ ŕ rầm tạo thành tấu khúc dương cầm làm mê đắm ḷng người.

 

Có c̣n nhớ không Phạm nhă Dự ?

Ngôi nhà bạn ở mười tám thôn vườn trầu gần chợ Bà Điểm, ta đặt tên Quán Văn v́ nơi đây anh em văn nghệ chúng tôi thường lui tới: Cung Tích Biền, Rừng, Ngô Nguyên Nghiễm, Trần Phù Thế, Trần Yên Thảo, Tô Đ́nh Sự... Bạn cất thêm một " thảo bạc " nhỏ đơn sơ trống gió trong khu vườn cây cảnh sầm uất. Ngồi nơi đây nhắp từng ngụm  đế Bà Điểm, nh́n những lá trầu  non xanh mơn mởn leo trên hàng tre cao chót vót, những gốc bưởi nặng trĩu trái vàng um trồng hai bên hông nhà, một vài chậu bonsai tượng h́nh  loan phụng, cộng thêm hương thơm d́u dịu của hoa cau hoa bưởi quyện trong không gian tĩnh lặng th́ không có thú chơi nào thanh cao cho bằng. Thỉnh thoảng nhà văn Dương trữ La hái vài trái bưởi, bóc ra từng múi chia anh em làm mồi nhắm hoặc  để giải rượu.

Có lần, vợ chồng tôi từ B́nh Tuy vào Sài G̣n cùng vợ chồng nhà văn Minh Nguyễn, ghé chợ Hốc Môn mua vài món tươi sống lên nhà Phạm nhă Dự định sẽ bày tiệc vui chơi. PND đi vắng, con anh chỉ đường chúng tôi đi t́m khắp nơi không gặp nên đành về lại Sài G̣n.

 

Có c̣n nhớ không Phạm nhă Dự ?  

Đêm tưởng niệm nhà thơ Tô đ́nh Sự tại quán Phấn Thông Vàng đường Nguyễn Thông do Phạm nhă Dự và Khánh Giang tổ chức, bạn đọc bài Buổi chiều ở nghĩa trang Cà Đú, khóc Tô đ́nh Sự trong xúc động, nghẹn ngào. Tất cả mọi người im lặng. H́nh như hồn Tô đ́nh Sự nhập vào từng chữ, từng câu thơ bi tráng ḥa quyện vào tâm ảnh một t́nh bạn thâm sâu; đau đớn và tiếc thương một tài hoa rực sáng đă sớm bỏ cuộc chơi thong dong đi về miền miên viễn :

 

Chiều nay sao gió nhiều mày nhỉ

Gió nổi trong tao đến lạnh ḿnh

Đù má, nhang mày sao chẳng cháy

Đốt măi que diêm đến cạn cùng

  

Bên kia dăy núi trơ thân chó

C̣n dưới chân tao lại sụt sùi

Mẹ kiếp vợ mày đang khóc mướt

Con mày, trời hỡi nó cười vui

 

C̣n tao, tao chẳng cười hay khóc

Chẳng ngậm ngùi chi lũ kiếp người

Đù má, tao chửi thề đây Sự

Chửi hết trăm năm chửi hết đời

 

Bây giờ mày đă nằm yên phận

C̣n vợ, bào thai, hai đứa con

Đù má, một đời làm thi sĩ

Chẳng đủ cho con lấy một đồng

   ( trích Buổi chiều ở nghĩa trang Cà dú – PND )

 

Nhà thơ Tô đ́nh Sự mất vào năm 1970 trong một tai nạn xe cộ. Sinh thời, anh chủ trương tạp chí Thế Đứng cùng Phạm nhă Dự. Thơ văn  TĐS và PND đăng trên các tạp chí văn nghệ thời danh tại Sài G̣n. Năm1968, anh nhập ngũ khóa 27 TBB / Thủ Đức  cùng khóa với nhà thơ Phạm nhă Dự và cùng ở trong ban biên tập tờ nguyệt san TBBTĐ. Hai bạn là cặp bài trùng từ dạo đó. Nếu tôi nhớ không lầm, TĐS viết mục Nhật kư quân trường cho báo này, câu mở đầu anh gọi tên một người con gái: Nga yêu dấu . Cô Nga hiền dịu và dễ thương của TĐ, sau 1975 có c̣n ở Sài G̣n hay đă phiêu bạt phương trời nào ?

 

Có c̣n nhớ không Phạm nhă Dự ?

Quán sách cô Nga nằm ở góc đường Lê Lợi và Nguyễn Trung Trực, điểm hẹn anh em văn nghệ chúng tôi. Thời gian này tôi đóng quân ở mật khu Lư văn Mạnh, thỉnh thoảng có phép leo trực thăng bay về Sài G̣n, tạt qua quán sách cô Nga mượn vài quyển sách rồi ngồi ở nhà hàng Kim Sơn bên hông đường Nguyễn trung Trực chờ bạn bè. Trần phù Thế, Nguyễn Lê La Sơn, Quốc Phong, Thụy Miên, Tô Đ́nh Sự… và dĩ nhiên không bao giờ thiếu bạn tôi, Phạm nhă Dự; leo lên xe Jeep của Lâm Chương, ghé qua Thời Nay bốc Khánh Giang, Dương Trữ La ở Tin Sáng rồi kiếm một  quán nhậu nào đó, uống vài chai bia quên đời bên nhau. Bây giờ Thụy Miên, Dương trữ La, Khánh Giang, Quốc Phong…không c̣n nữa, có lẽ đă cùng Tô đ́nh Sự phiêu du ở một vùng trời nào đó tiếp tục cuộc vui ...

 

Tụi ḿnh dăm đứa đời lang bạt

Sống chẳng ra chi, chẳng bận  ḷng

Việc nước, việc đời đem dẹp hết

Uống rượu quanh năm đếch ngại ngùng

 

Mày nhớ đêm tàn trên xa lộ

Thằng Chương đem xế lái quanh trời

Đù má, cũng c̣n cười khi sắp chết

Ngỡ rằng ḿnh hái được hoa mơ

    ( trích Buổi chiều ở nghĩa trang Cà Đú – PND )

  

Phạm nhă Dự th́ lăng đăng trong sương mù của mười tám thôn vuờn trầu, mọi khí hậu tinh sương đều được nhà thơ cung hiến hết cho bằng hữu tâm giao, mới cũ tứ hải giai huynh đệ “. Chỉ một vài câu nhà thơ Ngô nguyên nghiễm đă nói lên một phần nào cá tính của Phạm nhă Dự. Hào sảng. Phóng khoáng. Chí thành chí t́nh. Và nhất là hết ḷng với bạn bè.

 

Tô đ́nh Sự mất để lại người vợ đang mang thai đứa con thứ tư và ba con thơ dại. Sau 1975, vợ Sự đưa hết gia đ́nh về sống ở vùng quê Phan Rang, chân lấm tay bùn, làm ruộng rẫy bữa đói bữa no, và kể từ đó PND mất liên lạc với gia đ́nh TĐS.  Trải qua một cuộc bể dâu và qua một thời gian dài ḍ hỏi tin tức, bạn tôi mới t́m được chỗ ở của vợ con TĐS, nhưng vợ Sự không c̣n. Thương cảm hoàn cảnh không lối thoát cho tương lai của các cháu, PND đă vội ra Phan Rang đốt nén hương trước mộ phần vợ chồng TĐS. Cùng lúc, cất cho trưởng nam của TĐS một ngôi nhà nhỏ qua sự đỡ đầu của nhà thơ Vơ tấn Khanh, những đứa c̣n lại bạn tôi đưa vào  làm việc trong hăng xưởng của một người quen tại Sài G̣n.

 

Có c̣n nhớ không Phạm nhă Dự ?

Quán Thằng Bờm ở Đề Thám - Quán Mai ở Phan thanh Giản, nơi thỉnh thoảng chúng ta tổ chức đọc thơ, phần  ca nhạc do ca sĩ Quốc Phong đảm trách với phần phụ diễn của các ca sĩ Phương hồng Ngọc, Giáng thu ... Những bài thơ hào khí ngất trời, nói lên thân phận  một nước nhược tiểu, những ưu tư, khắc khoải và thao thức của tuổi trẻ về chiến tranh và giấc  mơ ḥa b́nh. Tô đ́nh Sự ra mắt tạp chí Thế Đứng tại đây, chủ đề cũng xoay quanh những vấn đề nêu trên. Những đêm đọc thơ như thế đều tập trung đông đảo học sinh, sinh viên tham dự. Trong  bầu không khí văn nghệ ấm áp,  đầy ấp t́nh người, ngồi uống ly cà phê và đồng cảm với lời thơ tiếng nhạc, một phần nào dù rất nhỏ, cũng góp một bàn tay tạo nên luồng sinh khí mới cho nền văn học nghệ thuật miền nam.

 

Nhà văn Thụy Miên mất, Trương thành Vân tạc tượng. Đêm điểm nhăn đôi mắt pho tượng bán thân của Thụy Miên có mặt hầu như đầy đủ anh em văn nghệ chúng tôi, trừ một vài người ở xa hoặc bận hành quân. Hoàng lộc - Ngô nguyên nghiễm - Phạm nhă Dự, Nguyễn lê la Sơn ( anh ruột của Thụy Miên )… và cả gia đ́nh của Thụy Miên. Tất cả đều hồi hộp theo dơi từng cử động đôi bàn tay tài hoa của điêu khắc gia Trương Thành Vân. Giai đoạn điểm nhăn tối ư quan trọng quyết định sự thành bại của pho tượng. Đôi mắt mở to không chớp, mồ hôi chảy dài trên trán trên mặt, trời lạnh mà áo anh ướt đẫm. Đến gần nửa đêm, Trương thành Vân buông tay, ngă người ra sau  la to: thành công rồi. Quả thật, hồn của Thụy Miên đă nhập vào đôi mắt, lóe lên và sáng rực như hai v́ sao. Pho tượng này được dựng trước mộ Thụy Miên ở nghĩa trang tỉnh Vĩnh Long, nghe nói rất linh hiển và người dân thường đến nơi đây cầu  phước… nên mộ anh bao giờ cũng đầy hoa quả, nhang đèn.

 

Ném ḥn đất xuống mộ huyệt

Những nhát cuốc nẩy lửa

 

Ôi, những người bạn của ta

Sao lại chia ĺa thảm thiết

Sao đành bỏ ta đi

Chỉ v́ đời vắn số

Hay bởi ḷng ti tiện của thế nhân

Của những tầm thường bày biện

  (Trích Đám tang cho ba thằng bạn –PND )

 

Một vài kỷ niệm nhỏ và thơ trích cũng đủ nói lên tấm ḷng của ta với bạn, dù có thể Thơ và bài viết không ḥa quyện vào nhau. Trong buổi xế chiều của cuộc đời, mỗi ngày chúng ta đều nh́n thấy sự mênh mông của đất trời, đêm tĩnh lặng trong sự mầu nhiệm của những v́ sao, Thơ sẽ nẩy mầm hồi sinh những giá trị nhân bản con người.

 

Có phải không Phạm nhă Dự ?

Thơ là sự đồng cảm, đồng thanh kết tinh trong sự trầm lắng thanh thoát, đôi khi thấp thoáng hơi thở của đất trời, bàng bạc thiền tính và triết lư như Nhà thơ Phan bá thụy Dương  nhận định :

 

“Người ta bảo thi nhân là kẻ có tâm linh siêu thoát, thanh nhă. Người xưa thắp nến đọc thơ và cho đó là một thái độ trang nghiêm để dễ dàng ḥa nhập vào thế giới nội tâm của tác giả để thưởng ngoạn, để t́m nguồn đồng cảm, đồng thanh.

Ngôn tượng trong thơ Phạm Nhă Dự là một tổng hợp, kết tinh của sôi nổi và trầm lắng.

Hăy thử đọc những lời nhẹ nhàng, dịu êm như sương khói: Mai này vào cơi mịt mù – Chim kêu. Vượn hú. Tịch vù bóng sương – Mai sau ở cơi vô thường – Có ai chong ngọn đèn buồn. Đọc kinh!, và vài nét ẩn tàng nỗi hoang vắng, tịch lương: Ngoảnh lại. Trông ra. Hồ tan tác...-- Chập chờn. Nghe gió lộng xa xăm – Thoảng như tiếng oán hồn dân tộc – Rớt xuống thuyền sông lạnh mái dầm.

Thơ Phạm Nhă Dự c̣n tiềm tàng phong thái ngạo nghễ của một kẻ lăng tử, phiêu bạt nhưng ḷng lạnh lẽo, bơ vơ. Mỗi ḍng chữ, mỗi câu thơ đều thể hiện đậm nét phóng khoáng: Ta mang em ra phố – Ném vào giữa chợ t́nh – Trăm người hỗn mang lạ – Rao bán cuộc b́nh sinh – Ta ngẫn nh́n ngơ ngác ...   Ta đưa em vào đời – Nhảy múa cùng tử sinh – Trái oan khiên rớt hột – Đâm chồi giữa điêu linh – Ta rùng ḿnh phiêu hốt.

Tiếng thơ hay tiếng ḷng của người thơ 18 thôn vườn trầu này luôn như nhiên, tự tuôn trào như mạch sống. Lúc thanh thoát như: Đ̣ nhẹ. Ḷng trôi theo sóng vỗ – Canh sâu. Dế đệm. Nhạc sành rung.  Khi vẩn đục như: Tao trở lại đây đường dịu vợi – Đốt nén hương tàn hát biệt ly – Thăm mày, đù má ḷng buốt xót – Ngó trời chỉ biết chửi thề thôi.

Những ư nghĩ, hoài cảm đó hiển lộ, phảng phất mùi của rượu, màu sắc của t́nh yêu, sự thân thiết của t́nh bằng hữu, đôi khi bàng bạc công án thiền, triết tính với nhân bản tính và những thi ảnh, thi ngữ ấy đă được kết nối, dàn trải một cách linh động, tài t́nh “

 

Chúng ta mất hết nhưng vẫn c̣n có nhau.

Giờ đây ta và bạn cùng định cư trên nước Mỹ, bạn sống tại Boston MA, ta ở miền nam CA, cách xa vạn dặm; t́nh bạn vẫn nồng ấm, thấm thiết như xưa. Ta  c̣n nhớ rất rơ, lúc Trần kiêu Bạt c̣n sống và Hà thúc Sinh chưa dời nhà đi Sacramento, mỗi tuần TKB đều bày tiệc rượu nhỏ,  mục đích chính là để gặp mặt nhau hàn huyên tâm sự và cùng nhau gọi ĐT tán gẫu với bạn bè ở các tiểu bang xa như Trần phù Thế, Vũ uyên Giang...

 

Có c̣n nhớ không Phạm nhă Dự ?

Ta gọi ĐT cho bạn lúc 12 giờ đêm CA ( tức 3 giờ sáng Boston -MA) lúc cả ba đều ngất ngưỡng hơi men.  Ngẫu hứng ta đọc cho bạn nghe bài thơ của bạn, ĐÊM TRÊN D̉NG KINH CÙNG, ngậm ngùi về một quê hương chỉ c̣n trong trí nhớ và hy vọng một ngày nào đó, chúng ta sẽ được ngồi trên con đ̣ trong đêm trăng ḥ câu vọng cổ,  khua mái chèo trên ḍng Kinh Cùng :

 

Đ̣ chậm. Bèo trôi. Trời ẩm đục

Bạn ta. Nào. Nốc ly này cạn

Đèn treo. Trăng hạ. Cáng vạc mềm

Mai đ̣ chưa muộn chuyến sương đêm

 

Mênh mông. Cá mống. Ḍng kênh lạnh

Chèo.Xạc xào khua. Tiếng nhái khan

Thoảng thoảng. Đèn xa. Ḥ vọng cổ

Tí tách Lục b́nh nở tím ngang

 

Nước lạnh. Ḍng đời trôi cũng lạnh

Đời dăm ba phút ấm cùng thôi

Bạn ta. Đâu đă ǵ quá muộn

Đâu ǵ. Ha hả. Đâu ǵ đâu ?

 

Tṛ đời. Nghĩ cũng phường khinh bạc

Rượu mềm. Chưa thấm. Hăy tràn ly

Đêm nay  ta  cạn  ly  vô tận

Mặc ḍng nước chảy cuốn về đâu

 

Đ̣ nhẹ. Ḷng trôi theo sóng vỗ

Canh sâu. Dế đệm. Nhạc sành rung

Bạn ta. Đâu đă ǵ lướt khướt

Nghe chăng ?  Tiếng diễu nhại côn trùng

 

Ngoảnh lại. Trông ra. Hồ tan tác…

Chập chờn. Nghe gió lộng xa xăm

Thoảng nghe tiếng oán hồn dân tộc

Rớt xuống thuyền sông lạnh mái dầm

 

Ta gửi bạn bốn câu thơ viết từ thời trai trẻ, cách đây gần năm mươi năm, diễn tả sự thao thức, khát vọng và hoài bảo của tuổi trẻ Việt Nam trước hiện t́nh đất nước, bây giờ mỗi lần nhớ lại vẫn c̣n thấy hợp với tâm trạng chúng ta :

 

Những ước mơ như người què tháp đôi chân gỗ

Chống gậy đi t́m người lạ mặt ở bên kia sông

Có phải chúng ta đang đứng ở bên này

Ở bên kia sông lăo chèo đ̣ ơi ới gọi

 

 

TRẦN  VĂN  SƠN

Đường trúc thư trang

3 / 2012

 

 

trang trần văn sơn

 

art2all.net