|
Vơ Kỳ Điền đứng trước tượng Lư Thời Trân, Vũ Hán, 2009
Tới mỗi bữa ra pḥng ăn, tôi đều rán kiếm chỗ cùng bàn để ngồi chung với một cặp vợ chồng Tây già, tóc hung hung đỏ, tánh t́nh dễ chịu, thoải mái. Cặp nầy nói tiếng Anh v́ đàm đạo với nhau tiếng Anh dễ hơn tiếng Pháp. Số là ở đây, tôi có khá nhiều bạn già nhưng tôi khoái hai ông bà nầy hơn. Tiếng Tây tôi được học từ thời Tây thuộc địa tới bây giờ hầu như quên mất tiêu hết trơn rồi, xin học lại hoài để khá hơn mà chánh phủ không cho. Lo sợ nhứt là các danh từ Pháp khi nói, không biết tiếng đó nó thuộc giống đực hay giống cái, rồi tới động từ phải chia tới chia lui, hễ lộn một cái là cả câu phía sau bị sai tuốt luốt, mỗi lần biết ḿnh nói trật quê ơi là quê. Mỗi khi nghe tôi nói chuyện với người nước ngoài qua điện thoại, ai nghe cũng đều nhăn mặt lắc đầu... Vô cái Viện Dưỡng Lăo nầy khi làm quen với đôi bạn già mới, qua màn giới thiệu nhau, ông tự xưng là Bob, rồi e tôi không hiểu tiếng lóng, ông giải nghĩa khi viết là chữ Robert được nói tắt. Tôi cũng bắt chước ông, tự xưng tôi là mông sừ Vô (Vo). Thấy ông bà ngơ ngác, tôi thêm : -Ông bà đừng có lộn nghen, coi chừng Vo nầy lộn Veau kia. Tôi không phải là con của con ḅ cái đâu (veau, le bébé de la vache). Nghe tôi nói xong, ông bà trơ mắt, suy nghĩ hiểu ra rồi cười ào ào. Tôi th́ nghĩ thêm lan man chút nữa. May quá. Ḿnh là người miền Nam, chớ là người miền Bắc th́ phải là Vu. Mà nếu là Vu ghép lại với tên của ông là Bob, th́ không biết nên cười ba tiếng hay nên khóc ba tiếng... Có lần ông Bob đưa cái Ipad khoe với tôi, ảnh gia đ́nh con cái ông. Ổng nói gia đ́nh tao là một gia đ́nh quốc tế. Tao là người Hung Gia Lợi, vợ tao Tô Cách Lan, con tao Gia Nă Đại, dâu tao là dân Haitienne, với Québecoise. Tôi nh́n thấy cái ảnh đông đầy, trai xinh gái lịch xinh xắn vui tươi. vội khen: -Ông bà thiệt là may mắn và hạnh phúc. Rồi bà vui miệng hỏi tôi: -Ông có bao nhiêu cháu rồi? Tôi bèn trả lời ngay: -Chỉ mới có một cháu nội sáu tháng tuổi, cũng chưa dám ẵm nó lần nào v́ sợ lây Covid. Rồi vui miệng nói thêm: -Thú thật với ông bà, ở đây trên bốn mươi mấy năm rồi mà tôi trụi lũi, không tiền, không nhà, không xe, không nghề nghiệp, là một con số O to tướng,.. Rồi tự nhiên đâm nhớ câu tiếng Mỹ bồi, hồi xưa ở Sài G̣n mấy đứa bé đánh giày thường nói, bật ra liền cho vui mà không biết quê: -Người ta th́ năm-bờ oan, c̣n tôi th́ năm-bờ ten... Nếu không nhờ cái xứ Canada nầy cứu giúp th́ tôi không biết phải sống ra sao! Nghe tôi nói ông không hiểu ǵ hết nhưng cười -cái ǵ là số một, cái ǵ là số mười? Vậy chớ hồi xưa ông làm nghề ǵ? Trả lời ông Bob sao bây giờ. Thiệt là rơ ràng khi nói mấy chục năm trước tôi có đi dạy học một cách t́nh cờ. Quả là tôi có làm nghề dạy học một thời gian dài, từ tỉnh nầy qua tỉnh kia. Nhưng đi dạy là do cuộc đời cùng hoàn cảnh chiến tranh lúc đó đưa đẩy. Chớ thiệt ra ba tôi lúc nào cũng muốn tôi nối nghiệp nhà. Tôi biết là cha tôi đă hy vọng tha thiết như vậy mà chưa bao giờ nói ra, mấy anh em trong nhà có đứa nào học chữ nho như tôi đâu. Tất cả sách vở trong nhà đều viết bằng chữ nho, công cuộc làm ăn đều liên lạc với người Tàu ở Chợ Lớn, mấy anh em làm sao mà biết được và giúp được chút nào. Gốc gác cha tôi vốn người cù lao Long Khánh gần cù lao Ḥa Hảo thuộc Hồng Ngự, Tân Châu. Ông học thuốc với một vị thầy người Huế theo Đông Kinh Nghĩa Thục làm cách mạng chống Pháp bị truy nă, trốn vô đảo Phú Quốc ở chùa Sắc Tứ Sùng Hưng Tự cúa ông Cậu là Ḥa Thượng trụ tŕ. Ba tôi biết ông là người giỏi nên xin theo học thuốc. Trên bàn thờ nhà tôi c̣n có thờ cây đũa đơm cơm của sư phụ c̣n sót lại. Cây đũa đen mun được chạm đục khéo léo. Mỗi lần thấy ba tôi thờ cúng quỳ lạy thầy, tôi rất xúc động. Ông nội tôi th́ muốn cha học nhạc và cha đă từ chối để học thuốc. Cái nghề quí báu nầy đă giúp cha tôi nên cửa nên nhà, nuôi con lớn khôn. Khi đó tôi vừa mới lớn, ông đè tôi ra tập tành học thuốc bắc từ từ. Bắt đầu ông bắt tôi học thuộc ḷng từng vị thuốc bắc trong Bản Thảo Cương Mục của Lư Thời Trân đời Minh. Đến nay tôi c̣n nhớ rơ được vài câu lỏm bỏm: -Nhơn Sâm vị cam, đại bổ nguyên khí, chỉ khát sanh tân, điều vinh dưỡng vệ. -Huỳnh Kỳ tánh ôn, thâu hăn, cố biểu thác thương, sanh cơ khí hư, mạc thiếu -Đương Quy cam ôn sanh huyết bổ tâm, phù hư ích tổn, trục ứ sanh tân...
Mới học được câu đầu, tôi hỏi liền ba: -Nhơn sâm vị ngọt th́ con hiểu. Ba tôi giảng nghĩa thêm trong Thần Nông Bản Thảo khi Phục Hy nếm thuốc định vị, có nói rơ vị nhơn sâm nầy: -Tiền cam, hậu khổ, hậu cam cam. Ba nói tới đây tôi hiểu liền. Mới nếm lần đầu th́ nhơn sâm có vị ngọt, sau đó th́ nghe đắng, sau cái vị đắng th́ ngọt trở lại và cuối cùng th́ ngọt luôn. Nói tới đây th́ tôi đâm thắc mắc: -Nhơn sâm có cái vị ngọt, đại bổ nguyên khí, sanh thêm nước miếng làm hết khát, th́ con hiểu nhưng làm sao ông Thần Nông năm ngàn năm trước, căn cứ vào đâu mà nói nhơn sâm điều vinh dưỡng vệ? Con biết “ vinh” là phần da bên trong gọi là b́ (derme) c̣n “vệ” là phần da bên ngoài, biểu b́ “épiderme”? Nghe tôi hỏi, đương nhiên ba tôi dư sức trả lời nhưng ông không thèm nói: -Mầy có biết Thần Nông là một trong ba ông thánh lớn thời Tam Hoàng Ngũ Đế không, cái ǵ mà ổng không biết, ổng là Thánh Nhơn mà. Rồi bỏ qua chuyện “điều vinh dưỡng vệ” ba tôi dạy tiếp sang chuyện bắt mạch. Nghe đến bắt mạch là tôi ham lắm. Trong đông y có bốn cách để thầy thuốc định bịnh, được gọi là tứ chẩn: “Vọng, Văn, Vấn, Thiết”. Vọng là quan sát màu da, khí sắc bịnh nhân, Văn là nghe âm thanh, giọng nói, tiếng ho, mùi hôi, Vấn là hỏi các triệu chứng đau bịnh và Thiết là bắt mạch để coi bịnh ǵ và bịnh ở đâu trong lục phủ, ngũ tạng (tâm, cang, tỳ, phế, thận) Đầu tiên ba tôi bắt tôi học thuộc ḷng bài phú “Lư Sơn Mạch Phú”. Nói ǵ chớ chuyện học thuộc ḷng là nghề của tôi. Dễ như ăn cơm sườn. Kể từ đó, suốt ngày tôi ê a “Thường văn bịnh cơ uẩn áo, mạch lư diệu huyền, tuy vạn tượng phân vân, Phù, Trầm dĩ biện kỳ biểu lư, hữu lực vi thực, vô lực vi hư. Tŕ, Sác dĩ định kỳ nhiệt hàn, dương tắc đại hề, nhi âm tắc tiểu...." Tôi khoái bài phú Lư Sơn nầy, đọc lên nghe có ca có kệ. Nhưng cũng khoái gặp lại hai chữ Lư Sơn của Tô Đông Pha quen thuộc trong thi ca: Lư sơn yên tỏa Triết giang triều Vị đáo b́nh sinh hận bất tiêu Đáo đắc hoàn lai vô biệt vị Lư sơn yên tỏa Triết giang triều. Bản dịch tiếng Việt của thiền sư Mật Thể: Lư Sơn (Tô Đông Pha) Mù tỏa Lư Sơn sóng Triết Giang Khi chưa đến đó hận muôn vàn Đến rồi về lại không ǵ lạ Mù toả Lư Sơn sóng Triết Giang. -Ba ơi, vị danh y nào đă đặt ra bài phú coi mạch nầy, sao không thấy ghi tên tuổi, chắc ổng cũng ở núi Lư Sơn. Ba tôi cũng không biết luôn: -Con cứ học cho thuộc rồi coi mạch cho đúng, chớ biết tên tuổi danh y đó để làm cái ǵ? -Dạ, dạ. Sau khi ba tôi kiểm tra thấy tôi đă thuộc làu làu, ông bèn dạy tôi thực hành bằng cách đặt ba ngón tay trên cổ tay bịnh nhân, để ḍ nghe các vị trí Thốn, Quan, Xích. Ngón giữa ở bộ Quan, hai ngón c̣n lại ở bộ Thốn và bộ Xích. Tôi thấy cũng dễ. Nhưng rồi sau đó là tôi rối mù. Rán lắng nghe nhịp mạch đập ngang qua ba ngón tay. Mạch đập theo kiểu nào th́ có tên mạch đó, mau, chậm, mạnh yếu,.. Rồi rán nhớ và phân biệt 27 kiểu mạch đập khác nhau, chắc là không có mạch Tuyệt rồi v́ có tuyệt mạch th́ làm sao mà con người ta c̣n thở nổi. (tất cả là 28 bộ mạch) . Nào là Phù, Trầm, Tŕ, Sát, Hoạt, Thực, Khẩn, Hồng, Nhu, Phục, Tế, Sác, Trường, Đoản... Thiệt t́nh nghe nhịp đập của động mạch qua ba ngón tay, tôi không biết mạch nào là mạch nào. Rán cách mấy cũng không phân biệt được. Cách ǵ cũng không phân biệt được. Mồ hôi rịn ra đầy mặt. Ông già tôi lắc đầu, không nói thêm câu nào. Thằng con hy vọng nối cái nghiệp nhà nầy ngu quá, làm sao bây giờ. Cứ như vậy mà tôi cố gắng, tới ba lần học tập và thử nghiệm, cả ba lần tôi đều chịu thua... Vậy mà ba tôi vẫn c̣n hy vọng v́ trong ngành nghề có lưu truyền câu nói "Nhơn bất học Dịch vô dĩ ngôn y." Người không học kinh Dịch th́ đừng mong nói chuyện học thuốc. Mà tôi th́ khá giỏi về bộ kinh nầy. Ông không nhắc tới chuyện mạch lạc, bắt tôi học lại đặc tánh của các vị thuốc trong Bản Thảo Cương Mục và không được thắc mắc, sách nói sao th́ cứ học y như vậy, cũng đừng hỏi tới hỏi lui. Tôi làm sao dám căi ba tôi nữa. Lần dạy tiếp nầy tôi phải học quyển Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn với cấu tạo Lục Phủ, Ngũ Tạng, các cơ quan trọng yếu của con người, phối hợp với thuyết Âm Dương, Ngũ Hành. Lần đó ba tôi giải nghĩa Tâm thuộc hành hỏa, Can thuộc hành mộc, Tỳ thuộc hành thổ, Phế thuộc hành kim và Thận thuộc hành Thủy. Các hành nầy tương sanh tương khắc với nhau. Cũng vậy Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận liên kết mà giúp đỡ nhau tạo ra cuộc tuần hoàn. Tôi lại thắc mắc: -Ba ơi, tại sao Thận lại thuộc hành thủy mà không là thổ hay kim? Ba tôi kiên nhẫn giải thích: -Quả thận h́nh nó giống quẻ khảm gồm có hai hào âm bên ngoài và một vạch liền bên trong. Tôi cũng biết quẻ khảm trong kinh Dịch và cũng biết h́nh quả thận chụp trong các sách y khoa. Đâu có giống nhau chỗ nào. Mà nếu có giống nhau th́ đâu thể kết luận cái nầy là cái kia được. Thiệt t́nh không hiểu! Tôi t́m mọi cách để bỏ học và ông già cũng chịu thua thằng con cứng đầu. Và cũng kể từ đó tôi thiệt t́nh khâm phục các vị bác sĩ tây y cũng như đông y. V́ sức tôi không cách ǵ học được ngành y khoa nầy. Quá khó khăn, dĩ nhiên rồi. Nhưng phục nhất là các vị bác sĩ vừa Tây kiêm luôn Đông Y hoặc ngược lại. Một bên là khoa học thực nghiệm, một bên là lư luận suy đoán trừu tượng, cách nh́n vấn đề, cách giải quyết vấn đề khác hẵn nhau, đối nghịch nhau, vậy mà họ chấp nhận được, lại cho cả hai sống chung ḥa b́nh, tôi thiệt t́nh không hiểu và chịu thua. Đến bây giờ th́ các bạn biết tại sao tôi thất bại trong đời sống chưa và tôi cũng có câu trả lời với vợ chồng ông Bob già rồi. Ông Bob ơi, tại tôi cứng đầu không nghe lời ba tôi, đem sách vở đi bán hết rồi. Mà ngộ lắm nghen, đời quả có luật nhơn quả, cái ǵ tôi nói với ba tôi, phê b́nh trách cứ ông già ngày trước, bây giờ thằng con tôi nó trả lại tôi y chang như vậy. Mà h́nh như có lời cộng thêm nữa, nhiều lắm. Những ǵ tôi nói nó không thèm nghe, tôi viết nó không thèm đọc...
VƠ KỲ ĐIỀN Brossard. QC. Le 15 sep 2022 GHI CHÚ: Trong cuốn “Sinh Hoạt Cổ Đại" của Đạo Sĩ Trung Quốc do công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thương Vụ Ấn Quán Bắc Kinh xuất bản 1997 có ghi “Lư San Mạch” là của Thôi Gia Nghiêm, tự Thuận Hy Gian, đời Hậu Tống, người Cam Túc, huyện Thiên Thủy. Ông tu theo Đạo Giáo, lấy hiệu là Tử Hư Chân Nhân. Lúc cuối đời ông ẩn cư núi Lư Sơn (Quảng Châu) để tu hành và đắc đạo thành tiên (khoảng năm 1174-1189) Cả đời Thôi Gia Nghiêm chỉ trước tác có một quyển duy nhất là Lư Sơn Mạch Quyết
|