|
Võ Kỳ Điền
VÀI NHẬN XÉT BÚT PHÁP NHÀ
VĂN TRÀ LŨ

Nhà văn Trà Lũ ( 1935 - 2025 )
Đăng
lại bài viết nầy để tưởng nhớ nhà văn Trà Lũ cùng những ngày tháng Toronto ấm áp
thân tình.
Nhà văn Trà Lũ tên thật là Trần Trung Lương, sinh tại Ninh Bình, Bắc Việt.
Vào Nam năm 1954. Giáo sư Đại học Sư phạm Sài Gòn trước 1975. Hiện định cư tại
thành phố Toronto (Canada) và làm việc cho Bộ Văn Hoá & Công Dân của tỉnh bang
Ontario.
Ông sáng tác sau 1975, cộng tác với nhiều tạp chí tại hải ngoại.. Từng giữ chức
chủ tịch Văn Bút Việt Nam trung tâm Ontario (1991-1995).
Những tác phẩm của ông, hầu hết đều lấy cái nền Đất để trưng bày những vấn đề
trong cuộc sống, cùng tình cảm ông dành cho mỗi góc cạnh cuộc đời. Sau những:
Miền Đất Hạnh Phúc (1989), Đất Mới (1991), Miền Đất Hứa (1993), Đất Thiên Đàng
(1995), Đất Yêu Thương (1997), Đất Lạnh Tình Nồng (1999), Đất Quê Ngoại (2001),
Đất Anh Em (2003).. đến nay là Đất Nhà. Sức viết của ông khá mạnh và cứ chu kỳ
hai năm, ông lại "lên khuôn" một lần để gởi đến bạn đọc.
(Trích bài của Võ Kỳ Điền, ban Việt Hán, khóa 1961-1964)
~~oOo~~

Nhà văn Trà Lũ
VÀI
NHẬN XÉT BÚT PHÁP NHÀ VĂN TRÀ LŨ
Võ Kỳ Điền
Tôi
quen nhà văn Trà Lũ đâu chừng trên dưới hai mươi năm. Trong khoảng thời gian đó
tôi đã nhận được từ nhà văn, tất cả là mười cuốn sách quí được gởi tặng. Lẽ ra
tôi phải gọi nhà văn Trà Lũ bằng thầy, bởi vì tôi xuất thân từ trường Sư Phạm mà
nhà văn Trà Lũ đã từng là Giáo Sư dạy ở đó. Lần đầu tiên khi gặp nhau, tôi gọi
nhà văn Trà Lũ là thầy với tất cả những gì kính trọng, quí mến. Nhưng mà nhà văn
đã không cho tôi xưng hô như vậy và chỉ muốn tôi gọi bằng anh trong tình văn hữu
-cung kính bất như tùng mạng, tôi bắt buộc phải nghe theo, từ đó về sau tôi
thường gọi nhà văn Trà Lũ bằng anh, tiếng anh thân kính, tuy bên ngoài là anh mà
bên trong vẫn là thầy.
Dầu tôi không được may mắn học trực tiếp với thầy Trần Trung Lương ở trường
nhưng bù lại được học hỏi rất nhiều những gì thầy đã viết ra trong sách. Hôm nay
nhân ngày thầy Trà Lũ ra mắt cuốn thứ mười, tôi xin phép được khoe với quí vị
những nét tài hoa của nhà văn Trà Lũ. Mà chắc là tôi không cách gì nói hết được
đâu, bởi vì Trà Lũ viết hay lắm. Quen biết nhà văn Trà Lũ một khoản thời gian
khá dài, con người, tánh tình và nếp sinh hoạt của ông, tôi biết được chút ít.
Đọc văn thì biết người. Mà đã biết người rồi, thì thấy văn cũng giống y như vậy.
Có thể coi Trà Lũ như một người cực kỳ thông minh, dáng vẻ điềm đạm, khéo giao
thiệp, dễ hoà mình với mọi người, nhứt là tánh tình giản dị, tươi vui, yêu đời
đầy nét duyên dáng, hóm hỉnh. Ông đến với xứ Canada nầy như cá gặp nước vậy. Ông
đối với đời đẹp quá và đời đối với ông cũng đẹp nữa.
Cứ nhìn ông giao tiếp với bạn thì biết, cụ Chánh, cụ B.95, ông ODP, ông H.O, ông
Từ Hòe, chị ba Biên Hòa, anh John, cha Paolo… có nam, có bắc, có đông, có tây,
có liền ông và liền bà, có già có trẻ. Người nào cũng hiền lành tử tế, đối xử
nhau tương thân, tương kính, thuận thảo, có món ngon vật lạ cùng nhau thưởng
thức chia xẻ, có chuyện gì vui cùng kể cho nhau nghe, có chuyện gì lạ cũng báo
cho nhau biết,… rồi xúm nhau cười ào ào. Đời thiệt là vui và đáng sống hết sức.
Chưa bao giờ tôi thấy các nhân vật Trà Lũ cau có, quạu quọ, giận hờn, tranh chấp
hơn thua, cãi vã, dèm pha, ganh tỵ, chữi rủa nhau, bơi móc nói xấu nhau…
Mười cuốn sách đã phát hành, nhan đề đều có chữ ‘Đất’ như vậy là tác giả có dụng
ý khi đặt tên tác phẩm. Nhà văn Trà Lũ muốn gởi gấm điều gì qua các đứa con tinh
thần của mình? Rõ lắm, tác giả hết lời ca tụng đất nước Canada rộng lớn vĩ đại,
giàu có và thanh bình. Canada là vùng đất tác giả đã chọn lựa khi định cư, được
coi như là quê hương thứ hai. Tất cả các quyển được viết theo cùng một khí văn
nhất quán -hơi văn đi một mạch, mười cuốn như một, một cuốn như mười. Lối hành
văn lưu loát, nhẹ nhàng, tự nhiên, lôi cuốn, ý nhị, câu chuyện thoắt biến thoắt
hiện, tài tình. Tác giả viết tự nhiên như là đang kể chuyện trực tiếp cho độc
giả, là chúng ta nghe. Nghe hoài nhưng không chán, trái lại còn say mê theo dõi
nữa. Khó có ai cầm quyển truyện trên tay rồi, lại bỏ xuống cho được. Câu chuyện
liên tục, nồng ấm, hấp dẫn… quá sức lẽ mình! Ông thường tường thuật lại những
buổi họp mặt thân hữu vào những ngày lễ hội, ngày Tết, ngày kỷ niệm,… cùng nhau
bàn luận chuyện đông tây kim cổ, chuyện nọ chuyện kia, những bài thơ, bài báo,
sách vở, đôi khi tiếu lâm nữa, khiến buổi họp mặt sôi nổi, hào hứng, xen vào đó
vài chuyện tiếu lâm lạt hay mặn… có khi mặn tới quéo lưỡi, khiến các bà đỏ mặt
mà vui.
Nội dung câu chuyện lúc nào nhà văn Trà Lũ cũng ca ngợi quê hương mới là đất
Canada, hăng say, nồng nhiệt, không hề rụt rè, không đắn đo so bì, Canada là số
một, Canada là thiên đường. Ban đầu tên các tác phẩm được đặt là Miền Đất Hạnh
Phúc, rồi Đất Mới, Đất Hứa, Đất Thiên Đàng, Đất Yêu Thương, Đất Lạnh Tình Nồng,
Đất Quê Ngoại, Đất Anh Em và cho mãi tới cuốn thứ mười, cuối cùng thì Trà Lũ mới
dám gọi Canada là Đất Nhà. Tại sao phải tới cuốn thứ mười tác giả mới gọi như
vậy? Cái lý do nào mà Trà Lũ đi loanh quanh lẫn quẫn, gọi Canada là đất nầy đất
kia, đi lòng vòng mãi ở ngoại ô mà không dám tiến thẳng vào thủ đô, không dám ôm
Canada vào lòng mà hôn hít nó, gọi là đất của mình, tuy tác giả đã có quốc tịch
Canadian đã trên 30 năm rồi?
Rất là dễ hiểu, bởi vì trong đầu tác giả, còn đầy ắp một đất nước Việt Nam,
trong trái tim tác giả còn đập nhịp tư tuởng, tình cảm Việt Nam thiệt là lớn,
làm sao một sớm một chiều mà quên phắt cho được. Quê hương chỉ có hai chữ đơn
giản vậy thôi, sao lại khiến người ta khắc khoải. Trà Lũ đã viết : -nếu định
nghiã quê hương là chùm khế ngọt, là con diều biếc, là con đò nhỏ, thì ở hải
ngoại nầy chúng ta không có quê hương sao? Cụ Chánh tiên chỉ làng đáp ngay -có
quê hương chứ, có nhiều chứ. Chúng ta đi mang theo quê hương mà. Bao lâu chúng
ta và con cháu chúng ta còn nói tiếng Việt, ngâm thơ Nguyễn Du, đọc thơ Nguyễn
Công Trứ là bấy lâu chúng ta còn có quê hương. Bao lâu chúng ta còn ăn Tết
nguyên đán, còn cúng giỗ tổ tiên, còn tri ân quốc tổ, là bấy lâu chúng ta còn có
quê hương. Bao lâu chúng ta còn nấu phở, chiên chả giò, ăn nước mắm là bấy lâu
chúng ta còn có quê hương.
Nhà văn Trà Lũ đã bổ túc cái nhìn thiếu sót dùm cho tác giả chùm khế ngọt Đỗ
Trung Quân, quê hương không phải chỉ là dải đất hình chữ S bên bờ Thái Bình
Dương với núi non, cây cỏ, hoa thảo, sông nước, mà quê hương còn bao gồm cả con
người Việt Nam với tất cả những nét văn hóa đặc thù từ cách sống, cách ăn, mặc,
đi đứng cùng phong tục, tập quán, văn học, nghệ thuật,… và các hình thái sinh
hoạt tinh thần nữa.
Các bài viết trong tác phẩm là những chứng minh hùng hồn của Trà Lũ về lòng
thương nhớ quê hương đó. Không phải tự nhiên rảnh rỗi mà viết nhiều tới mười
cuốn như vậy. Ông muốn chứng minh cho chúng ta, những độc giả quen thuộc, hình
ảnh của quê hương yêu dấu khi dứt áo bỏ nước ra đi, chúng ta đã mang theo được
và suốt đời không bao giờ quên, qua các món ăn, chả giò, phở, bánh cuốn, nem
nướng, chả nướng, thịt bò, thịt heo, thịt chó,… đến chiếc áo dài tha thướt,
chiếc nón lá bài thơ, cái yếm phụ nữ thơ mộng, chiếc váy cùng cái quần củn cởn…
Đi du lịch Alaska hai tuần, nhà văn Trà Lũ ăn uống toàn món ngon vật lạ, cuối
cùng rồi cũng nhớ tới nước mắm, thèm thuồng và ước ao, nhắc nhở cho những người
đi sau đừng quên mang theo. Ôi, nước mắm là món ăn thuần túy quê hương, nước mắm
là Việt Nam, dù ở góc biển chưn trời, làm sao mà quên cho được.
Nhà văn Trà Lũ cũng đã bổ túc cho chúng ta nhiều lắm, ngoài tình yêu quê hương
tha thiết, chúng ta còn học hỏi nhiều qua cái kiến thức rộng rãi của ông. Ông đã
có lần nhắc tới cha Đỗ Minh Vọng, khiến tôi xao xuyến. Đó là một vị giáo sư mà
tôi kính mến. Tôi đã may mắn được học với cha mấy năm tròn. Cha người Pháp tên
Cras, to lớn con, tánh tình hiền lành dễ thương, đi dạy thường mặc áo chùng thâm
và lái chiếc xe Lambretta cũ. Kiến thức của cha rất rộng, nhờ cha giảng dạy cấu
trúc câu văn và tiếng Việt Nam mình so với các ngôn ngữ khác trên thế giới mà
tôi hiểu thêm tiếng Việt, qua hai môn Văn Chương Tỉ Giảo (Littérature Comparée)
và Ngữ Nguyên Học (Étymologie). Không biết phải cần bao nhiêu năm học hỏi nữa,
bao nhiêu công sức nữa, tôi, một người Việt Nam rặt ròng, mới hiểu biết được
ngôn ngữ Việt Nam như cha đã hiểu biết !
Cha Cras giỏi tiếng Việt bao nhiêu thì nhà văn Trà Lũ cũng đâu có thua kém. Khi
bàn về cái váy của dân tộc, chúng ta thấy nhà văn cực kỳ thông minh và bén nhạy,
chúng ta cùng cười xòa khi Trà Lũ nhắc tới bài thơ Vũng Lội Làng Ngang của
Nguyễn Khuyến. Bài thơ đó như vầy:
Đầu làng Ngang có một chỗ lội
Có đền ông Cuội cao vòi vọi
Đàn bà đến đó vén quần lên,
Chỗ thì đến háng, chỗ đến gối,
Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười,
Cái gì trăng trắng như con cúi
Thời cụ Nguyễn Khuyến, đàn bà Bắc Kỳ vẫn còn mặc váy. Rõ ràng cụ bà mặc váy. Chữ
vén quần trong bài thơ tôi ngờ là nhà in chép sai. Tiếng VN nói vén váy chứ
không nói vén quần bao giờ. Lại nữa, theo mạch văn, nếu mặc quần mà xắn lên thì
Ông Cuội chỉ thấy bắp đùi là cùng, không thể thấy con cúi được, do đó câu trên
phải là “đàn bà đến đó vén váy lên” Ôi chao, cái váy làm phiền Ông Cuội và cụ
Nguyễn Khuyến quá.
Nhận xét trên của nhà văn Trà Lũ thật là tinh tế, sự thật là -vén váy chớ không
phải vén quần. Nhưng câu thơ viết -đàn bà đến đó vén váy lên, nghe không được,
vén quần lên, êm tai hơn. Tiếc một điều, thơ văn VN mình vào cuối thế kỷ 19 chưa
có trường phái ‘Bút Tre’, trường phái nầy sanh sau đẻ muộn, mãi đến thời văn
minh Xã Hội Chủ Nghiã mới phát minh ra lận. Dù sao thì váy và quần hình thức tuy
có khác nhưng nội dung giống nhau, mặc để che kín phần dưới con người. Có điều
nhà văn Trà Lũ không giải nghiã cho chúng ta hiểu chữ con cúi, nhắc tới con cúi
thì ông Cuội cười trước, chúng ta cười sau… Cứ xúm nhau tưởng tượng rồi cười,
cười mà không hiểu rõ, con cúi là con gì? Tôi tò mò lật tự điển Lê văn Đức và Lê
Ngọc Trụ, rồi Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Của, đọc rõ tự điển ghi con
cúi có 4 nghiã:
1/ cá cúi : cá có nhiều mỡ như heo biển
2/ heo cúi : con heo
3/ con cúi : rơm cổ vấn dài để làm hỏa mai.
4/ bông cán bắn ra rồi, xe tròn từng con dài để mà kéo chỉ =
cũng hiểu là con heo.
Như vậy dầu là rơm vấn để làm mồi lửa hay là bông vải vấn tròn để xe chỉ (cả hai
đều có hình dáng con heo, cái bắp đùi giống con heo), bốn nghiã cũng là con heo.
Con heo và thịt heo, tiếng Tây là cochon, là porc. Từ chữ cochon có chữ
cochonner (làm bậy) cochonnerie (dơ dáy, bẩn thỉu, thô tục) Việt Nam hay Tây dù
là nghiã nào thì cũng là con heo, đồ con heo với chuyện con heo… xấu thiệt là
xấu, nghiã đen lẫn nghiã bóng.
Trong quyển Người Tù Khổ Sai Papillon, bản tiếng Pháp, tôi nhớ có đoạn ông
Papillon khi bị giam ở quần đảo Guyane thuộc Pháp, có nhắc đến chuyện mượn con
heo của một người tù Bắc Kỳ (Tonkinois) mà người tù nầy gọi con heo nhỏ của ông
ta là ‘con cúi’. ‘Con cúi’ ủn ỉn đi trước, Papillon lò dò theo sau từng bước,
thì tránh được nguy hiểm, khỏi lọt xuống các bãi sình vắt võng xung quanh trại
giam, trốn thoát được ra ngoài. Ông Papillon đã dùng chữ ‘le con cui’ rõ ràng
trong tác phẩm. Tôi đọc ngang đây thì biết rõ ông Papillon viết đúng sự thật,
không hề thêu dệt như một số nhà văn ngồi nhà mà tưởng tượng… Ông không dùng chữ
annamite và cochon, mà dùng chữ ‘Tonkinois’ và ‘con cui’ trong câu chuyện. Trong
Nam hồi tôi còn nhỏ, nghe mấy bà hàng xóm thường nói: "Chiều rồi phải lo cho heo
cúi ăn". Như vậy ở ngoài Bắc thời Nguyễn Khuyến gọi con heo là con cúi là đúng.
Nhưng con heo của Papillon là heo Việt Nam, loại heo mọi nhỏ và đen, còn heo của
Nguyễn Khuyến, tại sao lại trăng trắng, thiệt tình tôi không biết. (heo Việt Nam
bây giờ trắng to là giống heo ngoại quốc mới nhập cảng sau nầy) Có vị nào biết
được, xin được chỉ giáo, thành tâm đa tạ.
Bàn về giọng Nam, giọng Bắc, nhà văn Trà Lũ khá công bình, ông viết không thiên
vị, mỗi miền đều có cái hay cái dở, tùy theo trường hợp mà dùng giọng nầy hay
giọng kia. Giọng nào ông cũng yêu hết: - Ông bồ chữ ODP góp thêm ý. Rằng hát tân
nhạc, các ca sĩ người Nam cũng phải hát theo tiếng Bắc thì mới hay. Ví dụ lời ca
"Anh ơi anh, chuyện chúng mình ta tính đi thôi..." nếu hát theo tiếng Nam "ăn ơi
ăn, chuyện chúng mìn ta tín đi thui" thì không thấy hay gì hết. Nhưng khi ngâm
vọng cổ thì anh nghệ sĩ Bắc Kỳ phải theo tiếng Nam thì mới thấy muồi…
Nhà văn Trà Lũ đã có nhận xét thật chí lý. Quả là đúng như vậy, chuyện hát tân
nhạc và vọng cổ chứng minh rõ ràng tùy theo trường hợp nào thì nên dùng giọng
Nam, khi nào nên dùng giọng Bắc. Nhưng viết ngang đây tôi xin đóng góp vài nhận
xét, đa số nhạc sĩ đặt bài hát (compositeur) là người Bắc, nên ca sĩ phải hát
theo giọng Bắc, nhạc sĩ là người Trung thì ca sĩ phải hát theo giọng Trung, nhạc
sĩ là người Nam phải hát theo giọng Nam (như Phương Dung hát nhạc Lam Phương) Có
một số nhạc sĩ người Nam khi viết nhạc bắt chước viết theo lối văn Bắc thì ca sĩ
cũng phải hát theo giọng Bắc.
Hình thể đất nước ta thiếu chiều ngang mà phát triển theo chiều dọc, thời chúa
Nguyễn chế độ doanh điền tổ chức các đợt di dân từng vùng ở đất Bắc vô đàng
trong khai thác đất mới. Vùng châu thổ sông Hồng, vùng trung du, vùng thượng du
Bắc Việt, vùng biên giới, đồng bằng, núi non cao thấp, xa gần khác nhau, giọng
nói có khác nhau, khi vào trong Nam thì định cư từng đợt một, từng tỉnh một,
theo chánh sách tằm ăn, nên giọng nói từng tỉnh, từng vùng trong Nam cũng lại
biến đổi thêm chút nữa… Huế khác, Quảng Trị khác, Quảng Nam khác, Quảng Ngãi
khác, Bình Định khác, Lục Tĩnh khác… Giọng nói có biến đổi và tiếng nói cũng
khác biệt đôi chút, theo thời gian. Trà Lũ đã chứng minh.
….Tiếng Bắc xưa nay vẫn được xem như là tiếng gốc tiêu chuẩn, thực sự đã biến
thái do ảnh hưởng của tiếng Hán và sau nầy của tiếng Âu Châu. Tiếng Việt nguyên
thủy đã từ miền Bắc theo chân lớp di dân vào miền Nam. Khoa ngôn ngữ học đã cho
thấy: các di dân bao giờ cũng mang theo và bảo tồn tiếng mẹ đẻ. Cách đây mấy
trăm năm, những người di dân vào miền Nam này thuộc gia đình vợ con lính tráng
và những tù nhân phải lưu đày. Tiếng nói của họ là tiếng nói ban đầu, tiếng Việt
tinh ròng và bình dân. Một chứng cớ rõ ràng nhất về việc nầy là tiếng Việt miền
Nam có rất nhiều từ giống y như tiếng người Mường miền thượng du Bắc Việt. Mà
người Mường được coi là nhóm người Việt cổ.
Anh John trưng dẫn một bằng chứng. Trong bài ca dao nói lên nỗi lòng của anh con
trai xứ Đàng Ngoài nhớ người yêu đã vào xứ Đàng Trong, anh đã nói thế nầy:
Đường vô xứ Nghệ loanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang
Trong mấy câu thơ nầy, tiếng Vô và tiếng Thuơng là tiếng Bắc Kỳ rõ ràng chứ
không phải tiếng miền Nam đẻ ra sau nầy. Lời anh Bắc Kỳ mà. Tiếng Vô và tiếng
Thương nầy, cũng như trăm ngàn tiếng Bắc khác, đã theo lớp di dân từ Bắc vào
Nam…
Đọc ngang đây tôi thấy nhà văn Trà Lũ thiệt là có lý và đâm nhớ lại một định
luật căn bản của môn ngữ học (linguistique) "dân tộc nào càng đi xa khỏi quê
hương thì càng giữ lấy cái gốc của quê hương". Người miền Nam là những người bỏ
xứ ra đi vào các thế kỷ 16, 17, 18… thì họ là những người giữ lấy tiếng nói quê
hương vào thời kỳ đó. Còn ở đất Bắc quê hương gốc, thì ngôn ngữ mỗi ngày mỗi
thay đổi, phát triển… Có thể ví người miền Nam nói tiếng Việt khác người Bắc,
giống như dân Canada, dân Mỹ, Úc, nói tiếng Anh, dân Quebecois nói tiếng Pháp,
khác hẳn dân Anh và dân Pháp chánh gốc.
Viết ngang đây thì tôi sực nhớ tới chúng ta, những người tỵ nạn xa xứ gần 30 năm
nay, nếu có dịp mà trở về quê hương, đôi lúc chúng ta phải ngỡ ngàng vì mình và
người trong xứ, nói chuyện khác biệt nhau nhiều lắm. Khác biệt về giọng nói như
nhà văn Trà Lũ nhận xét: - Đó là cái giọng the thé của người Hà Nội bây giờ. Nó
ngọng như người Mường nói tiếng Kinh… Khi vợ tôi đến thăm và nghe vợ tôi nói
chuyện thì cụ ôm chầm lấy vợ tôi rồi kêu ầm lên: "Các con ơi, các cháu ơi, ra
đây mà nghe tiếng Hà Nội nầy. Cô đây mới thực là người Hà Nội và nói đúng tiếng
Hà Nội thời xưa nầy”.
Bà cụ nói "tiếng Hà Nội ngày xưa" là muốn ám chỉ ngôn ngữ Hà Nội những năm trước
1954. Có một nhạc sĩ đã nhận xét về giọng Hà Nội bây giờ cao hơn ngày trước một
phần tư (1/4) octave. Cũng vậy nếu bà con trong Nam bây giờ mà gặp chúng ta từ
Mỹ, Canada, Úc về thì họ sẽ kêu lên là chúng ta nói đúng ngôn ngữ Sài Gòn trước
1975. Nếu không khác biệt về giọng nói thì cũng khác biệt nhau về tiếng nói. Có
nhiều tiếng Việt bây giờ lạ lùng lắm, trong đối thoại hoặc trên sách báo, chúng
ta hoàn toàn không hiểu. Hay hay dở, đúng hay sai, phát triển hay thoái hóa,
thời gian sẽ gạn lọc… Duy có điều chúng ta, những người tỵ nạn xa xứ có thể tự
hào -chúng ta là những người bảo tồn nguồn gốc dân tộc. (đọc Mười Ngàn Năm,
thuật chuyện cô Mùi, gốc gác người Việt xa xăm ở Quảng Tây, Đất Quê Ngoại, trang
167)
Sau khi đọc qua tất cả các bài viết và ghi chép vài nhận xét chúng ta thấy ngay
sở trường Trà Lũ là viết theo thể loại tùy bút, loại văn nầy có từ thời Lê mạt
Nguyễn sơ, cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Các tác phẩm buổi ấy phần nhiều ghi
chép những điều tác giả mắt thấy tai nghe, tùy bút là theo ngọn bút, gặp cái gì
chép cái ấy. Hai quyển Vũ Trung Tùy Bút (theo ngọn bút viết khi mưa) và Tang
Thương Ngẫu Lục (ghi nhanh các chuyện tang thương, viết chung với Nguyễn Án) của
Phạm Đình Hổ là hai tác phẩm tiêu biểu, mẫu mực. Sau nầy thể loại tùy bút là sở
trường của nhà văn Nguyễn Tuân (Chiếc Lư Đồng Mắt Cua, Chùa Đàn, Vang Bóng Một
Thời…)
Tùy bút dễ viết mà khó hay. Tại sao vậy? Bởi vì khi viết một truyện ngắn, tác
giả phải suy nghĩ cho có lớp lang, câu chuyện phải đặc biệt, phải hấp dẫn, bên
trong phải có một thông điệp, phải có tình cảm đậm đà hoặc tư tưởng cao xa để
gởi gấm, bố cục phải chặt chẽ, các ý tưởng phải mạch lạc, thông suốt. Chuyện và
văn không được giống những gì người đi trước đã viết. Trong khi đó thì tùy bút
không đòi hỏi bất cứ điều gì, cứ đặt bút xuống, thấy gì viết nấy, đôi khi không
cần đến mạch lạc, miễn sao tác giả và độc giả vui thích là được. Đọc tùy bút ta
có cảm tưởng như đọc một cuốn sổ tay, tác giả ghi những điều chợt xảy ra trong
óc hay nhân một việc gì đó mà nhớ đến chuyện nầy chuyện kia… Vì dễ viết và viết
nhanh nên muốn cho hay, cho xuất sắc là điều rất khó. Văn bản cần giản dị nhưng
phải làm sao đạt được tánh chất sinh động và hấp dẫn, bộc lộ được hết nét tài
hoa, nét đặc thù… Nguyễn Tuân thành công lớn được nhờ nét khinh thế ngạo vật, Võ
Phiến nhờ tánh thâm trầm, quan sát tỉ mỉ, tinh tế… Hiện nay thì có Tưởng Năng
Tiến ngang tàng, cười cợt, châm biếm (Sổ Tay Phó Thường Dân). Bùi Bảo Trúc thông
minh, sắc sảo, tài hoa (Thư Gởi Bạn Ta)… Ở Canada mình cũng có hai nhà văn viết
tùy bút nổi danh, được mọi người yêu mến, nhà văn Song Thao ở Montréal và nhà
văn Trà Lũ của chúng ta.
Ngòi bút Song Thao thì kỹ lưỡng, tỉ mỉ, viết chuyện nào ra chuyện đó, mỗi đề tài
là một trọng tâm, các tài liệu được dẫn chứng đầy đủ, thượng thông thiên văn, hạ
đạt địa lý, trung quán nhân sự. Nhà văn tài hoa vùng đất nói tiếng Tây thiệt là
giỏi, bao nhiêu chuyện của nhân gian nầy ông viết hết không thiếu món ăn chơi
nào. Ông gọi thể loại tùy bút là chuyện phiếm. Phiếm có nghiã là nói chơi, nói
tào lao, nói bao đồng, nói lông bông… Tuy là nói chơi mà nét tài hoa là thiệt,
nếu không thiệt tại sao có nhiều người mê, không tin quí vị mua các quyển Phiếm
(1, 2, 3, 4, 5…) mà xem qua cho biết.
Ngòi bút của Trà Lũ cũng tung hoành không kém Song Thao, nếu đem ra so sánh thì
không biết ai cao ai thấp, thôi đành phải nhờ đến câu "xấu đẹp tùy người đối
diện". Nhà văn tài hoa của vùng tiếng Anh xứ Canada cũng thiệt là giỏi, chuyện
đông, chuyện tây, chuyện kim, chuyện cổ, ông đều biết hết không sót một món nào.
Nhưng khác với cách viết xoáy vào trọng tâm đề tài của nhà văn tiếng Tây kể
trên, các câu chuyện trong bài viết Trà Lũ thoắt biến thoắt hiện nối tiếp nhau,
xoay chuyển lẫn nhau, quấn quít lấy nhau… độc giả không biết đâu mà rờ! Ta có
thể ví Trà Lũ dẫn dắt độc giả đi dạo phố Tàu, chưa kịp nhìn ngắm, ăn uống cho đã
thèm thì ông đã kéo ngay đến tháp CN Tower cao nhứt thế giới, vừa chưa kịp leo
lên tháp ngắm thành phố Toronto bát ngát dưới kia thì ông đưa chúng ta qua thác
Niagara Falls hùng vĩ, bụi nước của thác chưa kịp làm ta ướt áo thì ông đã đẩy
ta lên xe đi nếm rượu tuyết ngọt lịm ở thành phố cạnh bên…
Ưu điểm hay là khuyết điểm, khó mà trả lời. Nhưng mà cái tài hoa Trà Lũ là ở chỗ
đó. Tôi tin cách viết thoắt biến thoắt hiện đó Trà Lũ vô tình mà đạt được, tuy
có mức độ. Tôi còn nhớ Kim Thánh Thán khi phê bình Tam Quốc Chí đã khen cách
viết của La Quán Trung là thiên cổ kỳ văn. Gọi kỳ văn là nhờ tánh cách "thoắt
biến thoắt hiện", đương đánh nhau long trời lở đất thì xoay qua nói chuyện pháp
thuật trừ ma ếm quỉ, vừa nói chuyện mưu kế thì xoay qua bàn chuyện danh nho tiết
tháo, vừa bàn chuyện mỹ nhân xong thì nói chuyện soán ngôi giết vua, vừa nói
chuyện bói toán xong thì quay qua thuốc men, mổ xẻ, vừa tả cảnh quân reo ngựa hí
vang vang thì xen vào cảnh đạp tuyết bời bời, khoanh tay đứng chờ bậc ẩn sĩ cao
tọa… Vua, quan, anh hùng, gian hùng, mỹ nhân, hòa thượng, đạo sĩ, y nho lý số,
cường hào ác bá và đám dân đen đủ mặt… thương yêu nhau, tranh giành nhau, chém
giết nhau, không thiếu một ai, không thiếu chuyện gì. Ai muốn tìm hiểu sinh hoạt
xã hội thời đó, cứ đọc Tam Quốc Chí sẽ biết rõ ngọn nguồn. Hiện tại chúng ta
cũng có ngọn bút Trà Lũ tung hoành trên các báo, liên miên bất tuyệt, những ai
muốn tìm hiểu Canada với tất cả mọi sinh hoạt văn học, chánh trị, kinh tế, xã
hội… thì nên tìm đọc sách của Trà Lũ.
Đọc sách của nhà văn Trà Lũ vừa vui vừa bổ ích. Vui là vì cây viết có duyên, bất
cứ bài nào, đoạn nào, dầu ai khó tánh đến đâu cũng không thể đọc qua mà không
buột cười cho được. Bổ ích vì kiến thức được cập nhật hằng ngày, những tin tức
đặc biệt trên thế giới đều có đủ, hơn nữa sự hiểu biết của tác giả sâu rộng,
những nhận xét ly kỳ, từng chữ từng câu gợi cho ta nhớ lại chuyện xưa, giúp ta
biết thêm chuyện mới bây giờ. Những cuốn sách có chữ Đất làm nhan đề của nhà văn
Trà Lũ ích lợi như vậy, vui tươi như vậy, tại sao các bạn lại chưa có, ngoài hội
trường trưa nay, để bán nhiều lắm với chữ ký tặng của tác giả nữa. Xin được hân
hạnh kính mời !
Võ Kỳ Điền
(Mạn đàm tại Trung Tâm Cộng Đồng St. Christopher Toronto, ngày 6 tháng 5 năm
2006
art2all.net
|