VƯƠNG THANH

 

 

LUẬT THƠ VIỆT GIẢN LƯỢC TRONG 30 PHÚT

 

 

Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ luật thơ Việt trong 30 phút, từ lục bát đến bát cú, bắt đầu từ con số không. Giải thích giản dị, rõ ràng từ một nhà thơ vài thập niên kinh nghiệm với đủ thể loại thơ. Bạn không cần am hiểu thuật ngữ chuyên môn của ngôn ngữ học, không cần thuộc bảng cửu chương bằng trắc của thất ngôn bát cú, vì có những luật rất đơn giản mà bạn khi biết rồi thì không cần học thuộc nữa.
 

 

Thanh Bằng, Thanh Trắc:
 

Tiếng Việt có sáu thanh (dấu): sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu. Sáu thanh này chia làm hai nhóm chính:

 

- Thanh bằng: gồm chữ có dấu huyền hoặc không dấu.

- Thanh trắc: gồm chữ có dấu sắc, hỏi, ngã, nặng.

 

Trong thơ, người ta còn gọi thanh bằng là vần bằng, và thanh trắc là vần trắc.
 

 

Vần Điệu Trong Thơ:

 

Chữ vần có 2 nghĩa.

 

Nói chữ có vần bằng/vần trắc là nói chữ đó có thanh bằng hay thanh trắc.

Còn nghĩa thứ hai thông dụng hơn là nói về sự cùng vần với nhau (rhyme), có âm hưởng giống nhau, thí dụ như “hoa, nhà, ma”.

 

Chữ cùng vần (rhyme) với nhau đòi hỏi phải cùng nhóm vần bằng hay nhóm vần trắc. Chữ “thương, phương, hồng” cùng vần với nhau, nhưng chữ “thương, hướng” không cùng vần vì “thương” là thanh bằng (vần bằng) còn “hướng” là thanh trắc.

 

 

Thông vận trong thơ:

 

Có những chữ nhìn như không có vần, nhưng thực ra là “thông vận” (vần thông). Đọc truyện Kiều, hoặc thơ Nguyễn Bính, chúng ta thấy nhiều trường hợp như thế. Vài thí dụ:

 

1. Anh/inh (xanh/minh). Kiều:

... Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh 

Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh...

 

2. ơi/ai (vời/ngài). Kiều:

Vân xem “trang” trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
 

3. ung/ông (trung/dòng) Kiều:

Nào người phượng chạ loan chung 

Nào người tích lục, tham hồng là ai.
 

Vần điệu trong thơ Việt được tạo nên từ cách dùng những chữ có thanh bằng hay thanh trắc, và những chữ cùng vần ở những vị trí thích hợp trong mỗi câu thơ để làm ra giai điệu, sự du dương trầm bổng của câu thơ cho mỗi thể loại thơ.
 

 

Vài thể loại thơ thông dụng trong tiếng Việt: lục bát, song thất lục bát, thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, ngũ ngôn, thơ tự do.
 

Thể thơ Lục Bát:
 

Đơn vị của một bài thơ lục bát gồm nhiều câu lục bát nối vần với nhau ở những chữ cuối. Mỗi câu lục bát gồm có hai câu thơ: câu đầu 6 chữ, câu sau 8 chữ. Chữ thứ 6 của câu sau (câu 8 chữ) cùng vần với chữ cuối của câu thơ sáu chữ ở trên.

 

Thí dụ:

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua bao cuộc bể dâu ...  (truyện Kiều – Nguyễn Du)
 

Chữ “là” câu sau cùng vần với chữ “ta” – chữ cuối của câu trước. Khi làm câu lục bát tiếp theo, chữ cuối của câu có 6 chữ cùng vần với chữ cuối của câu lục bát ở trên.

 

Vài quy luật bất thành văn:

Những luật này nếu vi phạm thì người bản xứ đọc lên sẽ nghe trúc trắc, không có nhạc điệu của thơ lục bát.

 

1. Chữ cuối mỗi câu sáu chữ hay tám chữ luôn phải là thanh bằng.

2. Chữ thứ sáu trong câu thơ 8 chữ thường luôn là thanh bằng, trừ những trường hợp đặc biệt, thí dụ như những trường hợp biến thể, khi dùng 9,10 chữ thay vì 8 chữ.

3. Chữ thứ hai thường là vần bằng, thứ tư là trắc, thứ sáu là bằng (BTB). Tuy nhiên, những câu thơ ngắt nhịp thành 2, chia hai vế như câu thơ “mai cốt cách, tuyết tinh thần” thì chúng ta thấy chữ thứ hai có thể là vần trắc, thành (TTB).

4. Trong câu 8 chữ, nếu chữ thứ sáu là vần bằng dấu huyền, thì chữ cuối phải là thanh bằng không có dấu. Thí dụ như chữ “là” và “nhau”, trong câu “chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, một cái thanh bằng dấu huyền, một cái thanh bằng không dấu. Và ngược lại, nếu chữ thứ sáu là vần bằng không dấu, thì chữ cuối câu phải là vần bằng dấu huyền.
 

 

Song Thất Lục Bát:

 

Một bài thơ song thất lục bát gồm có nhiều câu song thất lục bát nối với nhau.

Một câu song thất lục bát gồm có một câu song thất (hai câu bảy chữ) và 1 câu lục bát tiếp theo.

Câu song thất có hai câu 7 chữ, câu đầu chữ cuối là vần trắc, và câu sau thì chữ thứ 5 phải cùng vần với chữ cuối ở câu trên. Câu lục bát tiếp theo đó thì chữ cuối của câu 6 chữ phải cùng vần với chữ cuối của câu song thất ở trên. Để nối vần những câu song thất lục bát với nhau, chữ thứ 5 trong câu đầu của câu song thất tiếp theo phải cùng vần với chữ cuối của câu lục bát ở trên.
 

Thí dụ:

Thuở Trời Đất nổi cơn gió bụi, (chữ bụi vần trắc)

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên. (chữ nỗi cùng vần với chữ bụi ở câu trên)

Xanh kia thăm thẳm tầng trên, (chữ trên cùng vần với chữ chuyên)

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này. (chữ nên cùng vần với chữ trên)

Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt, (chữ lay cùng vần với chữ này ở câu trên)

Khói Cam tuyền mờ mịt thức mây...

 

Thất Ngôn Tứ Tuyệt:
 

Thể thơ tứ tuyệt có nguồn gốc từ thời Đường (Trung Quốc). Thể này 4 câu, mỗi câu

7 chữ. Gồm có những quy luật giản lược như sau:

 

1. Chữ cuối câu thơ thứ 1, 2, 4 cùng vần với nhau và là vần bằng.

2. Chữ cuối câu thơ thứ 3 là vần trắc và thường khác vần với những câu trên.

 

3. Luật bằng trắc trong mỗi câu:

- Nếu chữ thứ 2 là vần bằng, thì chữ thứ 4 phải là vần trắc, và chữ thứ 6 là vần bằng (BTB). Ngược lại, nếu chữ thứ 2 là vần trắc, thì chữ thứ 4 là vần bằng, và chữ thứ 6 là vần trắc (TBT) .

- Chữ thứ 2 trong mỗi câu thơ quyết định bằng trắc cho nguyên câu. Làm đúng quy luật này thì câu thơ nghe êm ái, trầm bổng hơn, quen rồi thì không cần nhớ nữa.

- Những chữ ở vị trí 1,3,5 trong mỗi câu có thể là thanh bằng hay thanh trắc, tùy ý tác giả. Đây gọi là “nhất tam ngũ bất luận” (1, 3, 5 sao cũng được), còn “nhị tứ lục phân minh” (2, 4, 6 phải rõ ràng theo đúng BTB, hay là TBT) như đã bàn ở trên.

 

4. Niêm của thơ. Đúng niêm thì là theo dạng (BTTB) hoặc là dạng (TBBT). Ký hiệu B, T tượng trưng cho thanh bằng, hay thanh trắc của chữ thứ hai cho mỗi câu thơ. (BTTB) nghĩa là: chữ thứ 2 câu 1 vần bằng, chữ thứ 2 câu 2 vần trắc, chữ thứ 2 câu 3 vần trắc, chữ thứ 2 câu tư vần bằng. Thất ngôn tứ tuyệt chú trọng cân đối của bằng, trắc. Làm sai thì gọi là thất niêm. Tuy niêm không quan trọng bằng luật bằng, trắc cho mỗi câu, nhưng theo đúng niêm thì bài thơ tiết tấu chặt chẽ hơn, hoàn hảo hơn.
 

Một đoạn thơ thất ngôn tứ tuyệt trích từ “Tình tự dưới hoa” của thi sĩ Đinh Hùng.

 

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng (chữ gặp vần bằng)

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng (chữ nàng vần trắc)

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại (chữ xanh vần trắc)

Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng (chữ thẳm vần bằng)

 

Thất Ngôn Bát Cú (Đường Luật / Bát Cú / Luật Thi):
 

Thể thơ thất ngôn bát cú gồm 8 câu mỗi câu bảy chữ. Trong mỗi một câu đều áp dụng quy luật BTB hay TBT như trong tứ tuyệt. Làm cho đúng niêm thì theo thể (BTTB BTTB) hay là (TBBT TBBT) . Ký tự vừa ghi là theo chữ thứ 2 trong mỗi câu, từ câu thơ đầu tiên đến câu thơ cuối cùng.

 

1. Thường thì chữ cuối những câu thơ số 1, 2, 4, 6, 8 phải cùng vần với nhau ( như: hoa với nhà ) và là thanh bằng. Chữ cuối câu thứ 2 quyết định bài thơ đó dùng vần nào. Như trong bài thơ bát cú với 2 câu đầu “Nàng đến lặng thầm như khói sương / Dịu dàng hơi thở ngát thanh hương”, thì bài thơ này dùng vần “hương”.
 

2. Chữ cuối câu thứ 3, 5,7 là thanh trắc và thường không nên dùng cùng vần với vần chính của bài thơ (không nên cùng vần với chữ cuối câu số 2).
 

3. Câu thứ 3 và câu thứ 4 là 1 vế đối. Câu thứ 5 và thứ 6 lại là 1 vế đối nữa . Đối là như thế này: những chữ ở cùng vị trí trong câu trên, câu dưới đối với nhau : danh từ đối với danh từ, động từ đối động từ, đại danh từ đối đại danh từ, từ kép đối từ kép, hán việt đối hán việt , những chữ tả cảnh đối với nhau, những chữ tả tình cảm đối với nhau, đối càng nhiều càng tốt . Tuy nhiên nếu không đối đuợc từng chữ thì có thể đối 1 cụm từ gồm hai, ba chữ, …
 

4. Vế đối đầu (câu 3,4) thường là tả cảnh. Vế đối tiếp theo (câu 5,6) thường là tả tình. Nhưng trong cảnh có tình, trong tình có cảnh, nên cũng tùy ý người làm thơ thôi.
 

Một thí dụ bát cú:

 

Anh Khí Nghìn Thu

 

Việt sử lẫy lừng trang vẻ vang

Anh hùng liệt nữ, nợ giang san

Kình ngư lướt sóng gìn sông núi

Bạch tượng dẫn binh dẹp bạo tàn

Gò Đống lửa bùng cơn địa chấn

Sông Đằng máu rửa hận xâm lăng

Dư đồ từng tấc Hồn Dân Tộc

Anh Khí Nghìn Thu Rạng Nước Nam. (Vương Thanh)

 

Thơ Ngũ Ngôn (5 chữ):

 

Một bài có thể gồm nhiều đọan 4 câu. Trong mỗi đoạn 4 câu, thường là chữ cuối câu thứ 2 và thứ 4 cùng vần với nhau. Chữ cuối câu 1 có thể cùng vần với chữ cuối câu 2, theo kiểu ngũ ngôn tứ tuyệt. Hoặc là, chữ cuối câu 1 và câu 3 có thể cùng vần với nhau. Dùng thanh bằng hay thanh trắc ở chữ cuối câu thì tùy tác giả thôi. Nhưng nhớ là chữ cùng vần với nhau là phải cùng nhóm thanh bằng hay thanh trắc.
 

 

Những Thể Thơ Khác và Thơ Tự Do:

 

Nếu bạn đã hiểu rõ những luật thơ ở trên, thì có thể dễ dàng phân tích vần điệu của bất cứ bài thơ nào. Các thể thơ 4, 5, 6 hay 8 chữ không có quy định bằng–trắc nghiêm ngặt như thất ngôn tứ tuyệt, nên chỉ cần quan sát cách gieo vần, cách dùng thanh bằng và thanh trắc ở cuối câu, là có thể nhận ra cấu trúc và nhạc điệu của bài thơ. Những thể thơ này phần lớn có thể xem là thơ tự do có vần.

 

Còn thơ tự do hoàn toàn không có số chữ nhất định trong câu, không theo khuôn vần hoặc luật định sẵn, mà để cảm hứng dẫn đường. Nó giống như tờ giấy trắng không có dòng kẻ—thi sĩ tùy ý vẽ nên nhịp điệu riêng. Thơ tự do vì thế là thể dễ làm nhất, nhưng cũng khó hay nhất, bởi nó đòi hỏi ý tưởng thật mới lạ, cảm xúc sâu sắc, và nhịp điệu của riêng mình.

 

.

Vương Thanh

Sept. 2017, June 2025

 

art2all.net