Vũ thị Ngọc Thư

 

 

NHỮNG CÔ HÀNG HOA NGOÀI PHỐ

 

      Hàng hoa rong nhiều màu sắc trên phố Xuân Diệu, Hà Nội

(h́nh: Tapchitrungnien.com  )
 

          Trời cuối năm. Từ hôm đến Hà Nội, sáng nào cũng vậy, khi trời vẫn c̣n lờ mờ tối, tôi thường thức dậy đi một ḿnh loanh quanh khu phố gần nhà trọ. Không gian hơi se lạnh, vắng vẻ của buổi sáng mùa đông ở đây mang cho tôi chút tĩnh lặng riêng. Tôi thích những khoảnh khắc như vậy, một ḿnh trong ḍng trôi hơi chậm bớt của thời gian, bồi hồi thả hồn t́m quá khứ của thế hệ gia đ́nh đă thuộc từng vỉa hè, ngơ ngách nơi đây, đă mang cả  thiên thu 36 hàng phố vào thanh xuân Sài G̣n hai mươi mùa nắng lạ [1]. Có lần, khi bâng khuâng xúc cảm trào dâng, tôi nghe như trong vời vợi xa xăm có tiếng những bước chân dạo phố mơ hồ của bao người từ muôn năm cũ.
 
Các đường ngang, ngơ dọc quanh phố như vẫn c̣n ngủ yên. Phố vắng lặng, thỉnh thoảng mới có vài cô gái mặc áo len sậm mầu, chở đầy hoa trên những chiếc xe đạp cũ. Họ đạp xe chậm răi, lẵng hoa phía sau nhập nḥa mầu sắc dưới ánh đèn c̣n lấp loáng sương đêm. Những hôm khi Phố Cổ bảng lảng sương mù, không gian lại như kỳ bí hơn. Vừa thoạt nghe tiếng đạp xe dè dặt rất khẽ như để tránh đánh thức ngơ phố, nhưng nhịp khua cọc cạch lại vừa đủ để gợi sự ṭ ṃ thôi thúc phải quay nh́n, th́ cả lẵng hoa di động đă như tan ḥa vào khối sương đục mờ phía trước. Chỉ c̣n thấp thoáng chút mầu trắng của phần chóp nón ẩn hiện, nhỏ dần, nhỏ dần rồi mất hẳn. 
 
Tôi ngẫm nghĩ, giờ này đă lên đến phố th́ có lẽ họ đă phải tất tả chuẩn bị hàng từ 3, 4 giờ sáng. Nhớ hôm trước nói chuyện với một cô hàng ven khu Hồ Tây, tôi được biết phần lớn hoa bán lẻ của các cô đều trồng ở vài làng ngoại thành, cách phố khoảng từ 5 đến 15 cây số. Hoa từ vườn nhà họ, vườn hàng xóm, hay được mua lại từ chợ hoa của làng. Làng hoa ven đô, nghe êm đềm thơ mộng làm sao. Đă hai hôm rồi, tôi có ư t́m cô để nhờ dẫn đến thăm làng cho biết mà vẫn chưa gặp được. Có lẽ chiều nay tôi sẽ bỏ chuyến đi đă xếp đặt theo tour để đến Hồ Tây chờ cô thêm một lần nữa v́ sáng ngày kia tôi lại phải lên đường đi  miền thượng du.
 
Cô gái hàng hoa ấy chỉ độ mười chín hai mươi, có thể trẻ hơn nhưng gương mặt phảng phất nét khắc khổ nên nh́n hơi chững tuổi hơn một chút. Mắt cô vẫn lấp lánh nét tinh nghịch học tṛ mỗi khi cười nói, lúc tôi hỏi mua hoa. Tôi cũng chẳng biết tại sao ḿnh lại đến tṛ chuyện với cô khi các khách du lịch cùng nhóm đang lao xao chụp ảnh quanh khu đền cổ hay ngắm nh́n phủ Tây Hồ. Có lẽ v́ h́nh ảnh buổi chiều hôm ấy đẹp quá. Nắng hoàng hôn nhạt vàng lênh loang trải khắp mặt hồ, cô gái tóc ngang vai, nón lá quai mầu tím, khuôn mặt nhân hậu cười nói giữa những bó cúc họa mi trắng nhụy vàng có lác đác vài bông thạch thảo mầu tím lam. Bóng mát ṿm cây rậm lá xanh. Không gian êm đềm trong buổi chiều ngày nước lên. Nước mênh mang sóng sánh đưa các khoảng trống lênh đênh về vô định. Đôi lúc, có khoảng lại ngược ḍng loay hoay t́m mùa trôi tuổi thơ c̣n lách tách tiếng mưa làm bong bóng vỡ.
 
Tay thoăn thoắt tỉa nhanh mấy cái lá đă hơi héo, tiếng cô gái đều đều như thủ thỉ với tôi “Cháu sinh ra đă thấy hoa cô ạ, hoa hôm nào bán không hết, bà hay mẹ cháu cắm vào chiếc độc b́nh cổ trên cái bàn duy nhất giữa nhà. Nhà sáng thêm v́ có hoa. Trên trang thờ cao hơn, nơi ấm hương đèn, ngày nào bà cũng bầy hoa ngâu, hoa ngọc lan hay hoa dành dành mới, mấy loại hoa nhà cháu trồng riêng trên một góc vườn cao, chỉ để cúng.”  Câu chuyện của cô làm tôi nao ḷng. Ừ, th́ tôi sẽ mua bó hoa về cắm trong pḥng ḿnh đang ở, để không gian được sáng thêm, biết đâu cũng bớt đi những u uất của khối buồn vẫn nổi trôi ám ảnh tôi mấy năm vừa qua.

 

Những Cô Hàng Vào Phố Sớm

(H́nh: sưu tầm trên internet)
 

Bây giờ tôi muốn gặp lại cô để kể mỗi khi nh́n những bông cúc họa mi trinh khôi từ vườn nhà cô, tôi có cảm tưởng không gian trong căn pḥng tạm của ḿnh ấm áp lên, khác hẳn những hôm tôi vừa đến đây. Có lần tôi như nh́n thấy đôi bàn tay cần cù, chịu thương, chịu khó của bà cô, của mẹ cô khi họ chăm chút những bụi cúc họa mi xum xuê trong vườn. Đôi chân nứt nẻ của họ cứ uyển chuyển qua lại, kĩu kịt gánh hay xách nước tưới hoa, suốt tháng suốt năm, để giữ cho vườn không bị héo v́ khát thèm nước. Những ánh mắt hân hoan vui mừng của họ khi dơi theo bao lẵng hoa đă theo cô và nhiều cô gái trong làng chở mang từng mùa làng vào phố thị. Cũng có lúc, buồn làm sao, tôi chỉ thấy các đôi mắt lạc thần đau đớn ngày giông băo mịt mùng hay nước lụt trào dâng. Cây ngă, cành bay xơ xác mà họ bất lực không thể bưng hoa vào nhà hay cùng lên mái sơ tán khi nước lấp lửng mênh mang khắp nơi. Nỗi nhọc nhằn khi phải buồn thảm nhổ từng bụi hoa chưa trổ nụ đă úa chết sau những ngày tai ương, gió vạ. Tôi cũng không ngờ những đóa cúc họa mi mong manh ấy lại kể cho tôi nhiều chuyện đến như vậy. Tôi tha thiết muốn được xem khu vườn nhỏ của gia đ́nh cô, nơi mà mùa này đang rộ trắng cúc họa mi, tím biếc mầu thạch thảo. Và cũng để thăm làng hoa chưa bao giờ đến mà sao trong ḷng tràn ngập bao háo hức mong đợi như sắp được về lại chốn quê cũ, nơi đă từng rất thân quen.

 

Những gánh hoa từ thôn Phù Long, xă Nam Phong, Nam Định

(H́nh: Chi Toàn - Zing.News)
 

Tôi cũng được biết, hấu hết hoa bán trong phố đă đến từ các làng hoa truyền thống, đôi khi từ những thảm hoa dại ngút ngàn vùng cao nguyên, hay các cánh đồng hoa thương mại bất tận ở các tỉnh xa. Dù không được muôn mầu, đa sắc, hay ngoại cỡ như hoa được sản xuất đại tràng trên các cánh đồng công nghiệp, hoa đến từ các làng hoa truyền thống quanh phố như Phú Thượng, Tứ Liên, Quảng Bá, … vẫn là hoa được rất yêu chuộng và kén chọn đặt mua bởi nhiều nghệ nhân cắm hoa chuyên nghiệp. Người Hà Nội cổ cũng thích mua loại hoa này để thắp hương những ngày mùng một hay ngày rằm theo chu tŕnh các tuần trăng. Hoa từ làng, tươi lâu và hương đậm thơm hơn, có lẽ v́ được vun trồng kiểu thủ công vườn nhà, sống bằng tinh túy đất quê, bón xới theo các lề lối được cẩn thận truyền giữ, và được chăm chút bằng những nâng niu, thương yêu của gia đ́nh chủ vườn. Có thể nói, mỗi đóa hoa trong làng, dù phù du mong manh hay mặn mà khuê các, lúc măn khai, đều hiển lộ hương sắc hoàn hảo do những kết hợp thần t́nh của thiên nhiên kỳ diệu và sự cần mẫn chăm bón của người làng hoa. Truyền thống ươm trồng, uốn nắn nhẹ nhàng để tạo các giỏ hoa cành lá tao nhă, thi vị ở các làng hoa cổ của một thời vang bóng như làng Ngọc Hà hay làng Hữu Tiệp, vẫn luôn được nhắc nhở với nhiều ngậm ngùi tiếc nuối trong tâm khảm người Hà Nội của thế hệ ông bà tôi. Thuở c̣n ở trung học, mấy ai trong nhóm nữ sinh chúng tôi không yêu thích và thương cảm Liên, cô hàng hoa đẹp nhu ḿ, vị tha, tần tảo, và cũng đa đoan của làng hoa Hữu Tiệp trong tiểu thuyết “Gánh Hàng Hoa” của Khái Hưng và Nhất Linh. Thú vị làm sao, tự bao giờ hai làng hoa truyền thống này đă ngẫu nhiên đi vào cả văn học sử.
 
Làng hoa sẽ c̣n nhiều câu chuyện nữa mà cô hàng ấy chưa kịp nhớ đến thôi. Ở không gian luôn thoang thoảng hương thơm và tràn ngập hoa, mấy ai không có lúc bị thôi thúc muốn t́m hiểu về truyền thuyết của những đóa Vô Ưu (Vàng Anh – Saraca Acosa) luôn an nhiên thoát tục trên ṿm cây xanh ánh ngọc trong sân chùa hay của các chùm hoa Bỉ Ngạn (Lycoris Radiata) rực rỡ, chỉ kỳ bí bung tỏa trên đầu các ngọn cây trơ lá. V́ sao có loại hoa, khi cơ duyên trùng hợp, có thể tạo trạng thái yên b́nh vô lượng cho tha nhân, giúp họ dễ thăng hoa vào cảnh giới thiền tĩnh. Dân dă hơn, các loại hoa mang ư nghĩa như Hướng Dương thủy chung hay Tử Đằng thắm thiết đều đến từ các truyền thuyết đề cao t́nh người. Qua thời gian, truyền thuyết được chiết xuất, gạn lọc, rồi giữ lại như các trầm tích căn bản trong sự h́nh thành văn hóa dân gian.
 
Trong sắc không mờ ảo hương khói ngày lễ ở các đ́nh chùa, tượng đài, hay lăng miếu, th́ hương hoa cúng là mạch nối tâm linh giao cảm giữa hai miền âm dương của đất trời, cảm thức vô h́nh nhưng mănh liệt. Sẽ vô hồn loăng nhạt làm sao khi không gian lễ hội không c̣n nồng nàn hương thơm và lung linh sắc mầu của hoa tươi. Hoa không thể nào thiếu vắng trong tất cả các dịp hỷ, lễ, hiếu, tang của cuộc sống như Tết nhất, hội làng, đám cưới, ngày giỗ, đám tang,  ...  Và ḷng tôn trọng cội nguồn, tổ tiên đă hướng dẫn chúng ta chọn hoa có hương thơm tinh khiết và sắc mầu thanh cao làm hoa nền trong các giỏ hay các ṿng hoa cúng lễ. Hoa nền luôn được cẩn thận cắm tỉa, đơm kết hài ḥa cùng với vài loại hoa lá phụ có mầu sắc trầm hơn, theo phong cách cổ điển trang trọng của từng lễ hội.
 
Những cô gái chở hoa đă đi qua. Họ luôn là những hàng bán rong đến phố sớm nhất. Bóng tối vẫn thầm lặng bao trùm mọi nơi. Tôi bước chầm chậm qua những hàng quán c̣n đóng cửa nằm xen kẽ giữa các ngơ hẹp sâu. Một người phụ nữ chít khăn len gánh hai thúng hoa cải vàng đang nhịp nhàng bước về hướng chợ Đồng Xuân. Lẫn trong thúng của chị c̣n lác đác vài chùm cẩm tú cầu mầu cốm xanh và hồng cánh sen. Gánh hàng hoa đong đưa qua lại khoan thai theo từng nhịp bước của chị, đều nhẹ như đang lướt trong điệu múa ngày mùa của các cô thôn nữ. Trong chốc lát, thúng hoa vàng cũng ch́m tan dần vào màn sương mù trước mặt, chỉ c̣n thoảng lại hương hoa cải dịu nồng và chút hư thực thơm mát của vị hoa nhài. Có lẽ trong thúng của chị có mấy gói hoa nhài. Các gánh hàng hoa, theo mùa, đôi khi c̣n có vài gói hoa nhài, hoa ngâu, hay hoa bưởi để người ở phố mua về ướp mía, ướp thạch, hay ướp chè. Các chùm hoa thơm, ngắn cành được gói trong lá chuối, lá sen, hay hai, ba chiếc lá bàng chập lại, thành những gói hoa theo các cô hàng nhẹ nhàng thả hương quanh phố … Đại khái, cô bé hàng hoa bên hồ Tây đă nói với tôi như vậy. Câu nói gợi lại bao bồi hồi, xúc động về những ngày thơ êm đềm xa xưa của tôi. Cô làm tôi cay mờ mắt v́ nhớ bà ngoại vô cùng.
 
Trong buổi chiều nhạt nắng bên hồ Tây hôm ấy tôi tưởng như đă lại thấy bà tôi đang cười nói, hít hà chọn mua gói hoa nhài mà cô hàng vừa kể. Tôi không sao quên được h́nh bóng bà luôn nền nă vấn khăn nhung đen, mặc áo dài nâu có lác đác hoa văn, chân mang đôi dép quai đen đơm hạt cườm ánh kim, dáng điệu luôn từ tốn mỗi khi ra chợ chỉ để chọn mua hoa và trái cây cúng. Vậy mà cũng chẳng lần nào bà quên mua một thứ quà nào đó cho đàn cháu háu ăn. Tôi nhớ rất nhiều lần bà đă mua vài gióng mía vỏ vàng hơi xanh làm quà chợ cho chúng tôi. Khi nào mua được mía bà cũng luôn mua thêm vài xâu hoa nhài. Người Sài G̣n gọi là hoa lài, hoa bán ở chợ thời đó được xỏ chỉ thành từng xâu, vài ba xâu thường được cột chung với nhau để treo bán. Tôi thường được bà giao cho việc tước hoa ra khỏi các ṿng chỉ xâu, rửa nhẹ bằng nước lọc, rồi hong cho thật khô. Trong khi ấy, bà tẩn mẩn róc vỏ, chi li cắt mía thành từng khúc nhỏ đều đặn, rồi lại chẻ mỗi khúc làm tư hay làm sáu thành những miếng chỉ độ bằng lóng tay trẻ con. Sau đó tất cả mía được bà sao nhanh trong một cái nồi gang đă hơ qua lửa vừa nóng. Mía hơi tươm mật th́ bà thả nắm hoa nhài vào, đảo nhẹ một ṿng, rồi để tờ giấy bản hờ hững trên mặt mía, trước khi đậy nắp ủ một lúc.

 

Hoa Bưởi trên Đường Phố Hà Nội (H́nh: Tiin từ www.tiin.vn)
 

Thường sau giấc ngủ trưa ngắn của những hôm ấy, khi thức dậy, tất cả chúng tôi đều bắt ngay được mùi thơm của mật mía quyện hương hoa nhài từ những miếng mía xinh xắn trong các ly thủy tinh nhỏ đă được để trên bàn. Mỗi ly c̣n có sẵn cái ghim bà đă khéo léo chẻ từ khúc vỏ cứng. Đàn cháu xúm xít quây quần quanh bà, vừa nhâm nha nhai từng miếng mía thơm ngọt, vừa say mê hóng nghe những câu chuyện bà kể. Phần lớn vẫn luôn chỉ là các chuyện về vườn cây của nhà hay chuyện lễ lạc, giỗ tết thời xa xưa ở ngôi làng khoa bảng vang tiếng, Đông Ngạc[2] – Từ Liêm, quê của bà. Tôi thích nhất câu chuyện về hoa bưởi của bà.
 
Biết bao buổi chiều hè ở Sài G̣n, nắng ngoài hiên nhà dịu dần theo vị ngọt của từng miếng mía thơm, giọng bà tôi êm đềm xa vắng “bao giờ cũng vậy, qua Tết là gần đến mùa hoa bưởi. Đầu tháng 3, thỉnh thoảng có hôm trời oi nồng, ban đêm hai chị em bà thích để hé cửa sổ cho thoáng, hương hoa bưởi ngạt ngào len vào khắp pḥng, thơm như đang được ngủ dưới gốc bưởi ngoài vườn, thư thái vô cùng.  Suốt hai, ba tuần trong mùa hoa, hai chị em ngày nào cũng được giao cho việc hái những chùm hoa bưởi trắng muốt, thơm lừng từ hơn mười cây bưởi trong vườn. Những chùm đẹp nhất, nhiều hoa và đủ cành lá, sẽ để riêng thắp hương. Hoa nào nguyên vẹn nhưng không c̣n cành lá th́ một phần nhỏ để ướp mía, ướp trái cây, hay rải lác đác trên lớp bột sắn trong của những chén chè hạt sen, phần c̣n lại để cất thành nước hoa hoặc ngấu với đường làm mật hoa, để dành dùng quanh năm. Những hoa hơi héo dập hay không c̣n đủ cánh th́ hai bà gom lại để nấu nước gội đầu. Hai chị em gội đầu lẫn cho nhau. Hoa bưởi cứ thơm măi cả tóc chị, tóc em …”  Kể đến đấy, tiếng bà luôn nghẹn lại một lúc, rồi lại thờ thẫn tiếp “chẳng biết mấy cây bưởi trong vườn bây giờ có c̣n không nữa? ”  Chúng tôi cũng rơm rơm nước mắt thương những cây bưởi côi cút bị bỏ lại khi cả hai chị em bà lần lượt rời làng theo chồng vào kinh đô định cư. Dù làng ở ngay ven thành, nhưng vào khoảng thập niên cuối của thế kỷ 19, ngoài việc đi lại chỉ có đường bộ băng rừng khó khăn, phụ nữ xuất giá thời phong kiến gần như chẳng được phép đi đâu xa khỏi nhà chồng, nên hai bà cũng an phận không dám nghĩ đến việc về thăm quê nữa. Dần dà hai cậu em nhỏ của bà, như phần lớn các trượng phu khác trong làng Đông Ngạc, đều thành đạt ở trường thi rồi được bổ làm thương tá, tham tán phục vụ trong triều vua cuối ở hoàng thành Thăng Long. Từ đấy, tất cả bốn chị em của bà lập nghiệp luôn ở kinh đô, trở thành người Hà Nội hơn một nửa thế kỷ. Sau đó bà lại bỏ tất cả cùng bố mẹ tôi di cư vào Nam khi tôi nói chưa sơi. 
 
Nhiều năm qua đi, bà tôi bây giờ chỉ c̣n là các h́nh bóng mông lung, nhập nḥa trong phần kư ức cũng đă xa hút, đục mờ dần của tôi. Nhưng mỗi khi t́nh cờ nh́n thấy hoa bưởi hay bỗng chợt nghĩ đến bà, tôi tưởng như có chút hương bưởi tháng 3 ngày xưa vẫn đang quấn quít gần gũi bên tôi, nhẹ nhàng thanh khiết thoảng từ suối tóc con gái óng mềm của bà thuở vừa có những bâng khuâng xao động vu vơ đầu đời.

 

 

Vũ thị Ngọc Thư


_____________

 
 [1] Lời trong bài hát Hai Mươi Mùa Nắng Lạ của Trịnh Công Sơn. Bài viết này dùng nghĩa đen của câu thơ. Bài hát được đăng ở  https://amnhac.fm/nguyen-kim-tien/3309-hai-muoi-mua-nang-la  


[2] Làng Đông Ngạc hay Làng Kẻ Vẽ, thuộc huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội từ năm 1948. Thời phong kiến làng có gần 90 người đỗ từ bảng nhăn đến cử nhân. Làng Đông Ngạc là một làng khoa bảng nhất nước về đại khoa với 9 vị tiến sĩ phó bảng và nh́ cả nước về số đậu cử nhân (42 vị) dưới triều Nguyễn.  (theo Bùi Duy Tâm trong bài Làng Đông Ngạc Kẻ Vẽ ở  http://buiduytam.com/lang-dong-ngac-ke-ve/  )

 

 

 

 

art2all.net