|
Trần Ngọc Bảo
AI ĐẶT HÀNG CẢ CHUYẾN XE PHÂN THẾ NÀY Thiền sư Ajahn Brahm Trần Ngọc Bảo dịch thuật
GIẬN DỮ VÀ THA THỨ
Giận dữ
Một hôm xe của tu viện dừng lại trước đèn đỏ bên cạnh một chiếc xe khác và tôi nghe tài xế của chiếc xe kia cằn nhằn: “Đồ đèn mắc dịch! Mày biết là tao có một cuộc hẹn quan trọng. Mày biết là tao sắp trễ. Thế mà mày lại để cho xe khác đi qua trước xe tao, mày là đồ con heo, đồ heo nái! Mà đây cũng không phải là lần đầu!..." Anh ta đổ lỗi cho đèn, làm như thử là các ngọn đèn tự lựa chọn màu sắc. Anh ta nghĩ đèn giao thông cố ư hại anh ta. “À, à, hắn tới kia ḱa. Ḿnh biết là hắn sắp trễ. Ḿnh hăy để cho chiếc xe này đi qua cái đă, rồi th́ . . . Đỏ! Ngừng lại! Chơi hắn một vố!” Đèn giao thông có vẻ có ác ư, nhưng chúng chỉ là đèn giao thông thôi. Các bạn trông đợi ǵ ở đèn giao thông nào? Tôi h́nh dung ra lúc anh ta về đến nhà th́ người vợ cằn nhằn. “Đồ chồng mắc dịch! Ông biết là tôi có một cuộc hẹn quan trọng. Ông biết là tôi sắp trễ. Thế mà ông lại làm việc khác trước, ông là đồ con heo, đồ heo nái! Mà đây cũng không phải là lần đầu! . . .” Bà ta đổ lỗi cho chồng, như thử là ông chồng lựa chọn hành động. Bà ta nghĩ ông chồng cố ư hại bà ta. “À, à, ḿnh có hẹn với vợ. Ḿnh sẽ đến trễ. Ḿnh hăy gặp người này trước đă! Cứ cho nó trễ. Chơi cô nàng một vố cho biết mặt!” Ông chồng có vẻ có ư xấu, nhưng chồng cũng chỉ là chồng thôi. Các bạn trông đợi ǵ các ông chồng nào?
Những nhân vật trong câu chuyện này có
thể được thay đổi cho phù hợp với hầu hết các trường hợp giận dữ.
Phiên
ṭa Bị cáo đứng chờ trước ṭa trong trí bạn. Bạn là công tố viên. Bạn biết tên ấy có tội, nhưng để cho công bằng, trước hết, bạn phải chứng minh cho quan ṭa, là lương tâm của bạn. Bạn xây dựng trở lại cả một quá tŕnh diễn ra “tội lỗi” chống lại bạn. Bạn nhắc lại mọi hành vi ác ư, lừa dối, và ư định tàn nhẫn đằng sau hành vi của bị cáo. Bạn moi móc trong quá khứ các “tội lỗi” khác chống lại bạn để thuyết phục lương tâm ḿnh rằng chúng không xứng đáng được khoan hồng. Trong một phiên ṭa thật sự, bị cáo có một luật sư để biện hộ. Nhưng trong vụ xét xử diễn ra trong trí này, bạn là người biện minh cho cơn giận của ḿnh. Bạn là người quan ṭa, luôn luôn bác bỏ mọi lời bào chữa không thỏa đáng, hoặc những lời giải thích khó tin nỗi, hoặc là những lời cầu xin tha thứ yếu ớt. Luật sư bên bị không được phép nói. Trong cuộc tranh biện chỉ có một bên, bạn cố tạo ra một bản án thuyết phục. Như vậy là đủ. Lương tâm của bạn gơ búa xuống bàn và bị cáo bị phán quyết có tội. Bây giờ, chúng ta cảm thấy cơn giận đó là hợp lẽ.
Cách đây nhiều năm. Đây là quá tŕnh mà
tôi thấy diễn ra trong trí khi tôi nổi giận. Dường như nó không được
công bằng cho lắm. Thế cho nên lần kế tiếp khi tôi muốn nổi giận với ai,
tôi tạm ngưng và để cho luật sư bên bị lên tiếng. Khi đóng vai tṛ này,
tôi nghĩ ra những lời bào chữa hợp lư, những lời giải thích khả dĩ chấp
nhận được đối với hành vi của bị cáo. Tôi chứng thực tầm quan trọng và
vẻ đẹp của sự tha thứ. Và tôi thấy rằng phiên ṭa lương tâm của tôi
không c̣n đưa ra một lời phán quyết có tội nào nữa. Và như thế không thể
nào đưa ra một lời phán quyết về hành vi của người khác. Cơn giận, không
thể biện minh được, bị tước bỏ nhiên liệu và bị diệt trừ.
Một Phật tử phương Tây mà tôi quen biết cách đây nhiều năm đă trở thành một nhà sư ở miền Viễn Đông. Ông ta gia nhập một thiền viện trên núi rất xa xôi, có giới luật rất chặt chẽ. Hằng năm họ đều có một khóa tu thiền 60 ngày. Khóa nhập thất ấy rất căng, rất khó, không dành cho những tâm hồn yếu đuối. Họ thức dậy lúc 3 giờ sáng và 3 giờ 10 phút đă bắt đầu ngồi thiền rồi. Thời khóa cả ngày là ngồi thiền 50 phút, đi thiền 10 phút, ngồi thiền 50 phút, đi thiền 10 phút. Họ ăn cơm cũng ngồi bắt chéo chân ngay trong thiền đường; không được phép nói chuyện. Vào lúc 10 giờ họ có thể nằm xuống ngủ ngay vị trí ngồi thiền. Thức dậy lúc 3 giờ, bạn có thể dậy sớm hơn nhưng không được trễ hơn! Giờ nghỉ duy nhất là gặp gỡ vị thầy đáng sợ và dĩ nhiên là được nghỉ những lần đi vệ sinh. Sau ba ngày, chân và lưng của nhà sư phương Tây đau ê ẩm. Ông ta không quen ngồi lâu như thế trong một tư thế mà đối với người phương Tây rất ư là khó chịu. Ấy thế mà tính ra c̣n những tám tuần nữa. Ông ta bắt đầu nổi lên mối nghi ngờ không biết ḿnh có chịu đựng nỗi khóa tu dài như vậy hay không. Vào cuối tuần thứ nhất, t́nh trạng vẫn không khá ǵ hơn. Ông ta thường xuyên đau đớn v́ cứ ngồi như thế giờ này sang giờ khác. Người nào đă từng tham dự khóa tu 10 ngày th́ biết có thể bị đau tới mức nào. Thế mà ông sư này c̣n tới bảy tuần rưỡi nữa. Thế nhưng ông sư này khá cứng cỏi. Ông ta thu hết quyết tâm để chịu đựng từng phút từng giây. Nhưng vào cuối tuần thứ hai, ông ta đă chịu đựng quá đủ. Thân thể phương Tây của ông không thích hợp cho kiểu cư xử như thế này. Đây mà là Phật giáo ư, con đường Trung Đạo đây ư. Ông ta nh́n quanh các nhà sư châu Á khác, ai cũng cắn răng chịu đựng. V́ ḷng kiêu hănh ông ta cũng ráng chịu đựng hai tuần nữa. Trong thời gian này thân thể ông như bị thiêu đốt v́ đau đớn. Ông chỉ thấy nhẹ người khi tiếng chuông 10 giờ tối vang lên, khi ấy có thể duỗi tấm thân bị hành hạ ra nghỉ ngơi. Thế nhưng ngay khi vừa rơi vào giấc ngủ th́ liền bị tiếng chuông sáng đánh thức, để bắt đầu một ngày chịu cực h́nh nữa. Vào cuối ngày thứ ba mươi hy vọng bắt đầu lóe lên một cách mơ hồ. Ông ta đă qua được nửa con đường. Ông ta đă đi gần tới đích rồi, “gần như tới rồi”, ông ta tự thuyết phục ḿnh như thế. Ngày càng lúc như càng dài ra, và cơn đau ở đầu gối và lưng trở nên gay gắt hơn. Đôi lúc ông tưởng chừng ông sẽ kêu thét lên. Thế nhưng, rồi ông cũng qua được. C̣n hai tuần nữa. C̣n một tuần nữa. Trong tuần cuối, thời gian trôi qua chậm chạp như con kiến bị dính nước đường. Thậm chí giờ đây ông đă quen chịu đứng đau đớn, t́nh trạng cũng không dễ dàng hơn chút nào. Bỏ cuộc vào lúc này th́ uổng công bấy lâu đă chịu đựng. Ông nghĩ ḿnh sẽ theo tới cùng dù phải chết ,và có lúc ông nghĩ sắp chết tới nơi. Ông ta thức dậy khi nghe tiếng chuông báo 3 giờ sáng vào ngày thứ 60. Ông ta vẫn c̣n chống chọi được. Cơn đau của ngày hôm đó thật không thể tưởng tượng được. Như thử bấy lâu cơn đau chỉ là trêu chọc, c̣n bây giờ th́ nó mới thật là tung ra những đ̣n đánh thật sự. Dù chỉ c̣n vài giờ nữa thôi ông tự hỏi không biết ḿnh có chịu nỗi tới đó không. Thế rồi cũng tới 50 phút cuối cùng.Ông bắt đầu thời khóa ấy bằng cách nghĩ tới những ǵ sẽ làm chỉ trong một giờ nữa thôi: đó là tắm nước nóng thật lâu, ăn một bữa thật là thoải mái, nằm duỗi ra – nhưng rồi cơn đau nổi lên ngăn không cho ông tiếp tục lập kế hoạch, đ̣i hỏi ông phải tập trung tâm trí. Ông nhiều lần mở mắt he hé, len lén nh́n đồng hồ. Ông không thể tin được làm sao mà thời gian lại trôi đi chậm chạp như vậy. Có lẽ pin trong đồng hồ sắp cạn rồi ư? C̣n năm phút nữa mà đồng hồ h́nh như bị đứng luôn rồi. Năm mươi phút cuối cùng của khóa tu kéo dài như cả năm kỷ địa chất, nhưng ngay cả thiên thu bất tận cũng đi đến giây phút cuối. Và quả thật như thế. Tiếng chuông vang lên sao mà ngọt ngào quá, báo hiệu khóa tu kết thúc. Từng cơn sóng hạnh phúc nổi lên ào ạt khắp cơ thể, đẩy cơn đau về nơi xa vời. Ông đă vượt qua. Bây giờ ông sẽ tự chiêu đăi ḿnh. Hăy đem nước tắm lên đây. Vị thiền sư gơ chuông để thiền sinh lắng nghe thông báo. Ngài nói, “Đây là một khóa tu đặc biệt. Nhiều thầy đă có bước tiến bộ lớn lao và trong những buổi gặp riêng, đă đề nghị kéo dài khóa tu thêm hai tuần nữa. Tôi nghĩ đây là một ư kiến hay. Khóa tu sẽ được kéo dài. Nào chúng ta hăy bắt đầu ngồi trở lại.” Tất cả các nhà sư đều kéo chân bắt chéo và ngồi bất động để bắt đầu hai tuần nữa. Nhà sư phương Tây nói với tôi rằng thân thể ông khi ấy không thấy đau nữa. Ông ta chỉ bắt đầu nghĩ xem ai là người đă đưa ra lời đề nghị tai quái như thế và nghĩ xem nếu gặp được th́ ḿnh sẽ làm ǵ đây. Ông bắt đầu nghĩ ra những kế hoạch không mấy phù hợp với người tu sĩ để xử sự với con người vô tâm vô cảm ấy. Cơn giận xua tan mọi cảm giác đau đớn. Ông nổi khùng. Ông ta sắp lên cơn bạo động. Ông ta chưa bao giờ cảm thấy giận dữ như thế. Lại có tiếng chuông vang lên. Đó là 15 phút ngắn ngủi nhất trong cuộc đời. Thiền sư nói, “Khóa thiền tới đây là kết thúc. Thức ăn đă được dọn trong nhà ăn, xin mời tất cả mọi người. Bây giờ có thể nói chuyện.”
Nhà sư phương Tây cực kỳ bối rối. “Ḿnh
cứ tưởng sẽ ngồi thiền trong hai tuần nữa chứ. Có chuyện ǵ vậy?” Một
nhà sư lớn tuổi nói tiếng Anh trông thấy sự bối rối của ông sư này liền
tiến đến gần. Mỉm cười, ông ta nói với nhà sư phương Tây, “Đừng có lo!
Năm nào thầy cũng làm như thế cả.”
Con quỷ
ăn giận Đời xưa, tại một hoàng cung nọ, một hôm có một con quỷ xuất hiện trong lúc nhà vua đi vắng. Con quỷ cực kỳ xấu xí, hôi thối nồng nặc, và nói năng rất thô bỉ, làm cho những lính gác và người hầu trong cung sợ điếng người. V́ vậy con quỷ xông vào nội điện, đi thẳng vào triều, nơi vua hội họp với quần thần và ngồi lên ngai vàng. Khi thấy con quỷ ngồi trên ngai, lính gác và người hầu mới giật ḿnh tỉnh trí. Họ la hét, “Hăy cút xéo đi! Đây không phải là chỗ của mày! Nếu mày không nhấc mông lên, tụi tao sẽ đâm cho lủng đít.” Khi nghe những lời giận dữ này con quỷ trở nên to hơn một chút, mặt mày xấu xí hơn, mùi hôi tệ hại hơn, và nói năng thô bỉ hơn. Nhiều người vung gươm, rút dao, la hét đe dọa. Cứ một cử chỉ hay lời nói giận dữ, thậm chí chỉ cần một ư nghĩ giận dữ cũng làm cho con quỷ to ra một chút, xấu tợn hơn, hôi thối hơn, ngôn từ thô tục hơn. Cảnh đối đầu này diễn ra một lúc th́ nhà vua quay trở về. Ngài thấy con quỷ to lớn ngồi trên ngai. Ngài chưa bao giờ thấy một con ǵ gớm ghiếc hơn, thậm chí là trong phim ảnh cũng không hề có. Mùi hôi xông ra từ con quỷ có lẽ làm cho cả loài gịi bọ cũng đổ bệnh. Và ngôn ngữ nó tuôn ra nghe đáng tởm lợm hơn những lời nói mà các bạn có thể nghe trong những quán rượu huyên náo vào tối thứ bảy.
Nhà vua rất khôn ngoan. Đấy là lư do v́
sao ngài làm vua: ngài biết cần phải làm ǵ. Những người giúp việc ở hoàng cung khá nhanh nhạy. Một người mời con quỷ uống nước trà và hỏi, “Ngài dùng trà ǵ ạ? Ở đây có trà Dajeeling, trà English Breafast, và trà Earl Grey.” Một người khác gọi điện thoại đặt bánh pizza, to cỡ một con quái vật để đủ dùng cho một con quỷ khổng lồ, trong khi người khác nữa th́ đi làm bánh sandwich (có phết pa tê heo, tất nhiên rồi). Một người lính ngồi xuống xoa bóp chân cho con quỷ, c̣n người nữa th́ xoa xoa lớp vảy trên cổ của nó. “Ừ, ừ, như thế này được đây.” Con quỷ suy nghĩ. Trước mỗi lời nói tử tế, một cử chỉ lịch sự, hay ư nghĩ thân thiện th́ con quỷ nhỏ đi một chút, đỡ xấu hơn, đỡ hôi hơn, và đỡ hung hăng hơn. Trước khi có người đem bánh pizza tới th́ con quỷ đă thu bớt kích thước bằng lúc mới bước vào. Nhưng người ta tiếp tục có những hành vi tử tế. Chẳng bao lâu, con quỷ thu nhỏ kích thước tới độ hầu như không c̣n trông thấy nữa. Rồi sau một vài việc làm từ ái nữa th́ con quỷ hoàn toàn biến mất. Người ta gọi con quái vật đó là “con quỷ ăn giận.” (4) Người bạn đời của các bạn có thể thỉnh thoảng trở thành một “con quỷ ăn giận”. Càng giận dữ người ấy càng tệ hại – xấu hơn, thối hơn, hung hăng hơn. Cứ mỗi lần bạn nổi giận, thậm chí chỉ cần một ư nghĩ giận dữ, th́ vấn đề lại trở nên lớn hơn. Giờ đây có lẽ các bạn đă nhận ra sai lầm của ḿnh và biết cần phải làm ǵ. Đau đớn cũng là một “con quỷ ăn cơn giận” khác. Khi chúng ta suy nghĩ với tâm trạng giận dữ rằng, “Này cơn đau kia, hăy cút xéo đi! Chỗ này không phải của mày!” th́ cơn đau sẽ càng lúc càng tệ hại hơn. Thật khó ḷng mà tử tế đối với một thứ xấu xí và hung tợn như cơn đau, nhưng trong đời nhiều lúc chúng ta không c̣n lựa chọn nào khác. Như câu chuyện đau răng mà tôi đă kể trước đây, khi chúng ta chào đón cơn đau một cách thành thật th́ nó trở nên càng lúc càng giảm sức mạnh, không c̣n là vấn đề nữa, và đôi khi biến mất hoàn toàn. Một số bệnh ung thư cũng thuộc vào loại “con quỷ ăn giận”, là những con quái vật xấu xí, hôi hám, ngồi trong thân thể của chúng ta như ngự trên ngai của nhà vua. Một cách tự nhiên, chúng ta sẽ phản ứng bằng cách la lên, “Hăy cút xéo đi! Đây không phải là chỗ của mày!” Nhưng khi mọi phương cách đều thất bại th́ có lẽ chúng ta nên chọn, và nên chọn sớm hơn nữa ḱa, cách thức chào đón, “Xin chào!” Một số con quỷ th́ ăn stress – đó là lư do v́ sao chúng cũng thuộc loại “con quỷ ăn giận.” Một số bệnh ung thư cũng có phản ứng tốt đẹp khi “nhà vua” dám nói rằng, “Này ung thư, cánh cửa trái tim ta luôn rộng mở ra với nhà ngươi, dù ngươi có làm ǵ đi nữa. Xin mời vào!”
Có một cặp vợ chồng người Canada mà tôi quen biết sắp kết thúc một hợp đồng làm việc ở Perth. Khi lập kế hoạch trở về quê nhà ở Toronto, họ nảy ra một ư tưởng độc đáo là lái một chiếc du thuyền trở về xứ Canada. Họ dự định mua một du thuyền nhỏ, rồi cùng với một cặp vợ chồng khác, giong buồm vượt qua Thái B́nh Dương về Vancouver. Ở đó họ sẽ bán chiếc du thuyền đi để hoàn vốn đầu tư, rồi đạt cọc để mua một căn nhà mới. Nó không những hợp lư về phương diện tài chính mà c̣n là một chuyến phiêu lưu nhớ đời đối với hai cặp vợ chồng. Khi họ đến Canada an toàn, họ viết về cho tu viện một bức thư kể chuyện về chuyến du hành tuyệt vời đó. Đặc biệt họ kể một biến cố cho thấy đôi khi chúng ta có thể ngu ngốc tới mức độ nào khi nổi giận, và lư do v́ sao cần phải giải quyết cơn giận. Giữa cuộc hành tŕnh, khi thuyền c̣n lênh đênh đâu đó trên Thái B́nh Dương, c̣n rất xa bờ, th́ thuyền chết máy. Hai người đàn ông thay đồ mặc khi làm việc, rồi đi xuống pḥng máy, cố sửa chữa động cơ. Hai người phụ nữ th́ ngồi trên boong tắm nắng và đọc báo. Pḥng máy th́ nóng bức và chật hẹp. Hai người đàn ông cảm thấy bộ máy dường như cố t́nh bướng bỉnh, không chịu để cho họ sửa. Ch́a vặn đai ốc th́ cứ bị trượt, những con ốc nhỏ như cố lẩn tránh và rơi xuống những ngóc ngách đầy dầu mỡ khó lấy ra, và những chỗ ṛ rỉ cứ không ngừng ứa dầu. Sự bực bội đưa đến sự cáu gắt, trước hết là với cỗ máy, và sau đó là với người bạn đồng hành. Sự cáu gắt nhanh chóng biến thành thành cơn giận. Cơn giận bùng nổ thành cơn khủng hoảng. Một người chịu không nỗi nữa bèn ném mạnh ch́a vặn đai ốc xuống và la lên, “Được! Thế là đủ rồi ! Tôi đi đây!” Đùng đùng nổi giận anh ta đi lên cabin của ḿnh rửa ráy, thay đồ và xếp dọn hành lư. Sau đó anh ta đi lên boong, mặt mày vẫn bừng bừng tức giận, hai tay xách hai va li. Hai người phụ nữ kể lại rằng họ cười ngất tới độ suưt ngă xuống biển. Anh chàng kia nh́n quanh chỉ thấy biển cả, nh́n tận chân trời hướng nào cũng chỉ thấy nước. Chẳng có nơi nào để đi cả. Anh chàng thấy ḿnh thật là ngu ngốc, và đỏ cả người v́ xấu hổ. Anh ta quay người lại và trở về cabin của ḿnh. Anh ta mở vali quần áo ra, thay đồ, và trở lại pḥng máy, tiếp tục giúp người kia một tay. Anh ta phải làm như thế thôi. Chẳng có nơi nào khác để đi.
Làm thế
nào để ngăn chặn một cuộc nổi dậy Khi nhân loại sống gần gũi với nhau, chúng ta sẽ t́m ra giải pháp cho những vấn đề chung. Chẳng có nơi nào để chạy trốn cả. Chúng ta sẽ không chịu nỗi những cuộc xung đột nào khác nữa. Trong quăng thời gian từ giữa đến cuối thập niên 1970 tôi đă chứng kiến làm thế nào mà một chính phủ quốc gia t́m ra giải pháp cho một cuộc khủng hoảng lớn, một nguy cơ đe dọa nền dân chủ của họ. Miền Nam Việt Nam, Lào, và Kampuchia đă rơi vào tay Cộng Sản chỉ trong một vài ngày vào năm 1975. Thuyết Đô Mi Nô, phổ biến trong những cường quốc phương Tây vào lúc đó, tiên đoán rằng Thái Lan rồi cũng sẽ cùng chung số phận. Lúc ấy tôi là một tu sĩ trẻ ở vùng đông bắc Thái. Tu viện của chúng tôi ở cách Hà Nội một khoảng bằng nửa đoạn đường đến Bangkok. Chúng tôi được khuyên nên đăng kư với các đại sứ quán và chuẩn bị cho một kế hoạch sơ tán. Hầu hết các chính phủ phương Tây đều ngạc nhiên là Thái Lan không sụp đổ. Lúc bấy giờ ngài Ajahn Chah đă rất nổi tiếng và nhiều tướng lĩnh cũng như viên chức cao cấp trong chính phủ Thái Lan thường ghé thăm ngài để tham vấn cũng như nhận được nguồn cảm hứng. Tôi th́ đă thông thạo tiếng Thái và một ít tiếng Lào cho nên hiểu được từ những cuộc tham vấn ấy tính chất nghiêm trọng của t́nh h́nh. Các quan chức quân sự và dân sự không quan tâm đến quân đội đỏ ở bên ngoài biên giới cho bằng các cán bộ và cảm t́nh viên cộng sản trong nước. Nhiều sinh viên Thái giỏi giang đă bỏ vào rừng sâu ở miền đông bắc để ủng hộ cho lực lượng du kích cộng sản Thái. Vũ khí và huấn luyện được cung cấp từ bên kia biên giới. Các làng mạc trong những vùng “hồng” sẵn sàng cung ứng thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác. Họ có được sự ủng hộ của địa phương. Đó là một mối đe dọa tiềm tàng. Quân đội và chính phủ Thái t́m ra giải pháp trong một chiến lược có ba thành phần: 1. Kiềm chế. Quân đội không tấn công các căn cứ cộng sản, mặc dầu binh sĩ nào cũng biết họ ở đâu. Khi tôi sống đời sống của một du tăng vào những năm 1979-80, đi t́m những nơi trong rừng núi để hành thiền tôi thỉnh thoảng gặp những toán quân tuần tra và họ thường cho tôi những lời khuyên. Họ chỉ cho tôi một ngọn núi và bảo đừng đi đến đấy v́ đó là căn cứ của cộng sản. Họ chỉ cho tôi một ngọn núi khác và cho biết đó là một nơi tốt để hành thiền, ở đó không có quân cộng sản. Năm ấy tôi nghe nói quân cộng sản đă bắt một vài du tăng hành thiền trong rừng núi và giết họ - sau khi tra tấn. 2. Tha thứ. Trong thời kỳ nguy hiểm đó có một lệnh ân xá vô điều kiện được áp dụng. Bất cứ khi nào có một thành viên trong nhóm nổi dậy muốn từ bỏ tổ chức, họ chỉ cần buông vũ khí và trở về làng hay trường đại học. Người ấy có thể bị canh chừng nhưng không bị trừng phạt. Tôi đă đến một ngôi làng thuộc huyện Kow Wong, nơi mà cách đó mấy tháng, quân cộng sản đă phục kích và giết hết các binh sĩ trong một chiếc xe jeep bên ngoài khu làng. Các thanh niên trong làng có cảm t́nh với các chiến binh cộng sản, nhưng họ không tham gia chiến đấu. Họ kể họ bị đe dọa và quấy nhiễu, nhưng họ được tự do. 3. Giải quyết gốc rễ của vấn đề. Trong những năm ấy tôi thấy nhiều con đường mới được mở mang, những con đường cũ được tráng nhựa. Dân làng bây giờ có thể đưa nông sản đến bán ở các thành phố. Vua Thái Lan đích thân giám sát việc xây dựng hàng trăm bể chứa nước và các hệ thống thủy lợi nối kết với nhau, cho phép nông dân vùng đông bắc làm hai vụ lúa mỗi năm. Lưới điện vươn đến các thôn xóm xa xôi nhất, và tiếp đó là trường học và bệnh viện. Những vùng nghèo khổ nhất Thái Lan được chính phủ ở Băng Cốc lưu tâm chăm sóc chu đáo, và dân quê trở nên tương đối khá giả. Một binh sĩ Thái đi tuần trong rừng có lần nói với tôi rằng, “Chúng tôi không cần bắn những người cộng sản. Họ là đồng bào của chúng tôi. Khi chúng tôi gặp họ đi từ trên núi xuống, vào làng để mua sắm các thứ cần thiết, chúng tôi biết họ là ai. Tôi chỉ cần đưa cho họ coi những chiếc đồng hồ đeo tay mới và cho họ nghe một bản nhạc Thái từ chiếc radio mới của tôi, thế là họ từ bỏ hàng ngũ.” Đó là kinh nghiệm của anh lính đó và của những bạn bè của anh. Những người cộng sản Thái khi bắt đầu nổi dậy rất bất măn chính phủ đến độ họ sẵn sàng hy sinh tuổi thanh xuân của họ. Nhưng sự kiềm chế của chính phủ khiến sự giận dữ ấy không trở nên tồi tệ hơn. Sự tha thứ, thông qua lệnh ân xá, cho họ một lối thoát an toàn trong danh dự. Giải quyết vấn đề thông qua sự phát triển làm cho nông dân nghèo trở nên khá giả. Dân làng thấy không có nhu cầu ủng hộ người cộng sản nữa: họ bằng ḷng với chính phủ mà họ có. Và chính những người cộng sản đâm ra hoài nghi với việc làm của họ, cứ sống gian khổ trong núi rừng để làm ǵ. Lần lượt người này đến người khác buông súng và trở về với gia đ́nh, làng xóm hay trường đại học . Vào đầu thập niên 1980 hầu như không c̣n những chiến binh nổi dậy, và rồi những tướng quân ở trong rừng, những nhà lănh đạo lực lượng, cũng lần lượt ra đầu thú. Tôi nhớ đă đọc một bài trong báo Bangkok Post kể về một công ty du lịch Thái đă đưa du khách đến những hang động bây giờ bỏ trống, nơi đó các lực lượng quân cộng sản đe dọa cả nước đă từng cư trú. Những ǵ đă xảy ra đối với các nhà lănh đạo cuộc nổi dậy? Lệnh ân xá có áp dụng cho họ không. Có. Họ không bị trừng phạt, không bị lưu đày. Thay vào đó, họ được mời giữ những trọng trách trong bộ máy chính quyền Thái, trong sự công nhận tài năng của họ, phẩm chất làm việc cần mẫn và sự quan tâm đến đồng bào của họ. Thật là một cách cư xử tuyệt vời. Làm sao mà lại phí phạm nguồn tài nguyên những thanh niên đầy can đảm và nhiệt t́nh như thế được? Đây là câu chuyện có thật mà tôi nghe những binh sĩ và dân làng vùng đông bắc Thái kể. Đó là những ǵ chính tôi chứng kiến. Tiếc thay, người ta ít tường thuật ở những nơi khác.
Vào lúc tôi viết cuốn sách này, có hai
nhà cựu lănh đạo cộng sản Thái đang phục vụ đất nước ở cương vị bộ
trưởng trong chính phủ quốc gia Thái. Có một lần hai sư đồng tu của tôi căi nhau. Một trong hai người trước đây là lính thủy quân lục chiến, từng tham gia chiến đấu ở vùng tuyến lửa trong chiến tranh Việt Nam và bị thương nặng. Nhà sư kia trước đây là một doanh nhân rất thành công, làm được rất nhiều tiền, tới độ đă “nghỉ hưu” khi chưa tới tuổi ba mươi. Cả hai đều thông minh và có tính cách rất cứng cỏi. Các nhà sư thật ra không được căi nhau, nhưng hai người đang dính vào cuộc. Các nhà sư cũng không được đánh nhau, nhưng hai người dường như sắp sửa ra tay. Cả hai mắt trợn trừng, mũi đọ mũi, nh́n nhau tóe lửa. Cả hai đều lớn tiếng, bỗng nhiên vị cựu lính thủy qú gối và lạy xuống trước vị cựu doanh nhân lúc ấy đang cực kỳ bối rối. Rồi ngẩng lên, vị sư này nói, “Xin lỗi, hăy tha thứ cho tôi.” Đó là một trong những cử chỉ hiếm hoi xuất phát từ trái tim, hoàn toàn tự phát, không có tính toán. Cử chỉ đó rất thành thật và tự nhiên, không chút khiên cưỡng. Nhà sư cựu doanh nhân bật khóc. Sau đó ít phút người ta thấy họ đi bộ bên nhau thân thiết. Các nhà sư phải là như thế.
Tôi nghe có người trong số các bạn nói rằng tha thứ có thể có hiệu quả trong tu viện, nhưng trong đời thường, nếu tha thứ, chúng ta có thể bị lợi dụng. Người ta sẽ đạp lên đầu chúng ta – v́ họ nghĩ rằng chúng ta yếu đuối. Sự tha thứ không thể có hiệu quả bằng phương cách đơn giản như thế. Người ta thường nói rằng , “Ai đưa má cho người kia đánh sẽ bị đi nha sĩ tới hai lần chứ không phải một.” Trong câu chuyện trước, chính phủ Thái không chỉ đơn thuần làm động tác ân xá vô điều kiện. Họ t́m ra gốc rễ của vấn đề là nghèo đói để giải quyết một cách khéo léo. Đó là lư do tại sao sự ân xá có hiệu quả. Tôi gọi sự tha thứ như thế là “sự tha thứ tích cực”. “Tích cực” nghĩa là sự củng cố tích cực các phẩm chất tốt đẹp mà chúng ta mong mốn thể hiện. “Tha thứ” là buông bỏ các phẩm chất xấu mà luôn luôn gây rắc rối – không dừng lại mà luôn luôn tiến tới. Chẳng hạn, trong một khu vườn, chỉ tưới cỏ không thôi là nuôi dưỡng rắc rối, không tưới ǵ cả cũng giống như thực hành tha thứ một cách đơn giản, và tưới hoa chứ không tưới cỏ là “tha thứ tích cực”. Cách đây khoảng chừng mười năm, vào cuối một buổi nói chuyện của tối vào tối thứ sáu của chúng tôi ở Perth, một người phụ nữ đi đến gặp tôi. Theo tôi nhớ th́ bà ta thường xuyên đến tham dự những buổi nói chuyện hàng tuần này, nhưng đấy là lần đầu tiên bà ấy đến gặp tôi. Bà muốn nói cám ơn rất nhiều, không phải cám ơn chỉ riêng tôi mà tất cả các vị sư giảng dạy ở trung tâm của chúng tôi. Rồi bà giải thích lư do. Bà ta bắt đầu đến tu viện của chúng tôi cách đấy khoảng bảy năm. Lúc ấy bà không quan tâm đến Phật giáo, bà ta thú nhận, và cũng không ưa thích thiền định. Lư do chính khiến bà tham gia chẳng qua đó là cái cớ để bà ta đi ra khỏi nhà. Bà ta có một ông chồng hung bạo. Bà ta là nạn nhân của bạo lực gia đ́nh khủng khiếp. Hồi ấy không có các trung tâm hỗ trợ cho các nạn nhân như bây giờ. Sống trong cái chảo lửa của những cảm xúc sôi sục, bà ta cũng không nghĩ đến giải pháp ĺa khỏi nơi đó măi măi. V́ vậy bà ta đi đến trung tâm Phật giáo, với ư nghĩ rằng hai giờ ở trong chùa đó là hai giờ thoát khỏi sự hành hạ. Những ǵ bà ta nghe giảng ở chùa đă thay đổi cuộc sống của bà. Bà ta lắng nghe các sư giảng về sự tha thứ tích cực. Bà ta quyết định áp dụng thử với chồng của ḿnh. Bà ta kể với tôi rằng, mỗi lần bà bị đánh đập bà lại tha thứ cho ông ta và quên nó đi. Làm sao làm được điều đó chỉ có bà mới biết. Rồi th́ mỗi khi ông ta làm hay nói điều ǵ tử tế, dù nhỏ nhặt tới đâu bà cũng ôm hôn ông hay dùng những cử chỉ cho thấy những việc ấy có ư nghĩa như thế nào đối với bà. Bà ta không coi việc làm của ông là lẽ đương nhiên. Bà ta thở dài và kể rằng bà đă làm như vậy suốt bảy năm trường. Lúc kể như vậy th́ nước mắt đă tràn mi của bà và ngay chính tôi cũng như thế. “Bảy năm ṛng ră”, bà ta kể tiếp, “và bây giờ sư sẽ không nhận ra ông ấy nữa. Ông ta đă thay đổi hoàn toàn. Bây giờ chúng tôi có được một mối quan hệ yêu thương quí báu và có hai con. “ Khuôn mặt bà lúc ấy rạng rỡ như một vị thánh. Tôi cảm thấy muốn qú xuống vái lạy bà. “Sư hăy nh́n chiếc ghế kia ḱa.” Bà ta ngăn tôi lại. “Ông ấy tự tay đóng chiếc ghế ngồi thiền ấy cho tôi mới tuần này như một món quà bất ngờ. Cách đây bảy năm chắc có lẽ ông ta sẽ dùng nó để phang tôi.” Cục nghẹn trong cổ của tôi bật ra khi tôi cười phá ra với bà. Tôi hết sức ngưỡng phục người phụ nữ ấy. Bà ta tự ḿnh đạt được hạnh phúc lớn lao từ phẩm chất tốt lành của ḿnh. Bà ta đă biến một con quái vật thành một người ân cần, lân mẫn. Bà ta đă giúp đỡ được người khác một cách tuyệt vời.
Đó là một thí dụ xuất sắc của sự tha
thứ tích cực mà tôi chỉ dám đưa ra để khuyến khích những ai đang muốn
tiến tới quả vị thánh, chứ không dám nêu ra để làm gương cho bất cứ
người nào đang là nạn nhân của bạo hành trong gia đ́nh. Tuy nhiên, câu
chuyện cho ta thấy có thể đạt được ǵ khi sự tha thứ đi kèm với sự
khuyến khích các hành vi tốt đẹp.
|