|
Ngoài nhà thờ của cụ c̣n có một công tŕnh kiến trúc lớn nữa mà rất tiếc lúc ấy đóng cửa nên nhóm du khảo không vào thăm được, đó là "Từ Đường các Liệt Sỹ Tiền Bối và Phan Bội Châu Tiên Sinh". Ṭa nhà này cao tới 8m, lợp ngói âm dương, do cụ Tôn Thất Sa thiết kế, xây dựng vào năm 1956. Hiện nay Bảo Tàng Lịch Sử và Cách Mạng sử dụng một phần từ đường để trưng bày tư liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của cụ Phan. Khi c̣n sinh tiền, cụ Phan có dùng tiền đóng góp của đồng bào khắp nơi tặng cụ để xây ngôi nhà tranh, số c̣n lại mua một miếng đất làm nghĩa trang. Nghĩa trang này nằm trên đường Thanh Hải, là đường từ Điện Biên Phủ, rẽ lên đồi Quảng Tế, cách đàn Nam Giao khoảng 100m, có diện tích theo một số tư liệu là 4000m2, nhưng thực tế h́nh như khoảng 1000m2. Năm 1934 cụ Phan có thảo một qui ước cho những người khác sẽ được chôn cất trên miếng đất này, đó là những chiến sĩ cùng chí hướng, chiến đấu và hy sinh để giành độc lập cho nước nhà. Trong nghĩa trang hiện có khoảng 20 ngôi mộ.
Trong nghĩa trang này chỉ có một chiến sĩ được chôn cất lúc cụ Phan c̣n sống. Đó là Nguyễn Chí Diểu.
Nguyễn Chí Diểu là người làng Thanh Tiên, xă Phú Mậu, huyện Phú Vang.
Khi vào trường Quốc Học năm 1925 anh học sinh yêu nước này đă được tiếp
xúc với những nhà hoạt động chính trị. Năm 1927 v́ tham gia băi khóa đ̣i
chính quyền trả tự do cho cụ Phan, anh Diểu bị đuổi học. Anh gia nhập
đảng Tân Việt và được cử làm Xứ Ủy Trung Kỳ của đảng vào năm 1928. Khi
đảng này tách ra ba nhóm, và một nhóm tổ chức thành Đông Dương Cộng Sản
Liên Đoàn anh trở thành một đoàn viên, và khi các nhóm thuộc Liên Đoàn
trong ba miền hợp thành Đông Dương Cộng Sản Đảng anh trở thành đảng viên
cộng sản và được cử làm bí thư tỉnh ủy Gia Định vào năm 1930. Anh bị
Pháp bắt vào năm này và đưa đi tù ở Côn Đảo vào năm 1933. Nguyễn Chí
Diểu được phóng thích vào năm 1936 và bị quản thúc ở Huế. Người chiến sĩ
này vẫn âm thầm hoạt động cách mạng, nhưng rồi bị bệnh lao và mất lúc
mới 31 tuổi, năm 1939.
Một người có công săn sóc mộ phần và hương khói cho cụ trong nhiều năm,
đó là trưởng Hướng Đạo Vơ Thanh Minh, hiệu là Hồng Sơn (cùng quê núi
Hồng, Nghệ An, với cụ), tên rừng (cho hướng đạo sinh có bằng RỪNG, là
bằng cấp chuyên môn cao nhất) là Dă Mă (ngựa hoang).
Anh huynh trưởng này có nhiều tài: viết báo, diễn thuyết, làm thơ (có xuất bản tập thơ Những Tiếng Thương Tâm ở Huế năm 1948), dạy vơ, đua xe đạp (tham gia ṿng đua Đông Dương năm 1937 và 1943), nhưng rất ngang tàng, không theo phe phái chính trị nào và sống giống như tên rừng của anh. Năm 1937 tại trại Bạch Mă anh được cử làm Tổng Ủy viên Hướng Đạo Đông Dương, trực tiếp phụ trách Hội Hướng Đạo Trung Kỳ. Tại Hội Nghị Geneva, Thụy Sĩ, năm 1954, trong khi trưởng Tạ Quang Bửu là phó đoàn của chính phủ VNDCCH, trưởng Cung Giũ Nguyên, đại diện cho Quốc Trưởng Bảo Đại, th́ trưởng Vơ Thanh Minh lại đứng bên ngoài hội nghị, cắm lều bên hồ Leman, thổi sáo đ̣i ḥa b́nh cho Việt Nam, phản đối chia cắt đất nước. Sau đó ông đi đến các nước châu Âu, vừa đi làm đủ việc để kiếm sống vừa viết báo kêu gọi tái thống nhất. Năm 1960 ông về nước, trú ngụ tại nhà thờ cụ Phan và xin chính quyền miền Nam làm người chèo đ̣ trên sông Bến Hải để đưa thư liên lạc giữa hai miền Nam Bắc. Đề nghị này không những không được chấp thuận mà ông c̣n bị chính quyền bắt giam nhiều lần v́ nghi thân cộng. Một người trong nhóm du khảo là TNB khi c̣n là thiếu sinh Hướng Đạo đă từng đến nhà thờ cụ Phan (1964) nghe trưởng Minh ngâm thơ và b́nh bài phú Bái Thạch Vi Huynh của cụ Phan Sào Nam. Năm 1968 lúc chiến cuộc Mậu Thân nổ ra sôi động th́ ông cùng với vài người bạn xông pha đi giúp đỡ đồng bào th́ bị tử nạn. Hai mộ kế đó được nhà nước cải táng về đây là hai mẹ con đă có duyên gặp gỡ cụ Phan trong đời, đó là Đạm Phương Nữ Sử và Hải Triều Nguyễn Khoa Văn.
Bà có nhiều mối quan hệ xă hội rộng răi. Bà có dịp tiếp xúc với các chí sĩ như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, tiếp xúc qua sách vở các tư tưởng tự do , dân chủ, nhân quyền của J.J. Rousseu, Montesquieu, v.v.. Năm 1918 bà gặp Phạm Quỳnh và bắt đầu gửi những bài thơ cho tờ Nam Phong. Từ đó cho đến năm 1930 bà là một nhà báo, nhà văn, nhà giáo dục, nhà hoạt động xă hội rất tích cực. Cùng một lúc bà viết cho nhiều tờ báo như Trung Bắc Tân Văn, Thực Nghiệp Dân Báo, Hữu Thanh, Tiếng Dân, Phụ Nữ Tân Văn, Phụ Nữ Thời Đàm. Bà cũng là nhà văn nữ đầu tiên viết tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ (Kim Tú Cầu, Hồng Phấn Tương Tri). Bà chú trọng giáo dục cho phụ nữ, dịch các tác phẩm của Pháp, Đức, Ư về giáo dục để hướng dẫn cho phụ nữ phương pháp dạy con. Đặc biệt, vào năm 1926 được sự khuyến khích và hỗ trợ của cụ Phan, cụ Huỳnh, và những nhà trí thức khác như Đào Duy Anh, Đoàn Nồng, bà cùng với bà Trần Thị Như Mân và một số bà khác, lập Nữ Công Học Hội năm 1926 để dạy chữ quốc ngữ cho những phụ nữ không có cơ hội đến trường, dạy nữ công gia chánh, dạy nghề may thêu, nấu nướng, nói chung là tứ đức bao gôm công, dung, ngôn, hạnh nhưng chú trọng thực nghiệp, có nghĩa là một nghề để có thu nhập, khỏi lệ thuộc vào chồng, cũng như đóng góp cho sự phát triển văn hóa, kinh tế của xă hội. Năm 1928 bà bị chính quyền bắt giam hai tháng v́ nghi bà có hoạt động chính trị. Các con của bà là Nguyễn Khoa Tú, Nguyễn Khoa Vĩ, Nguyễn Khoa Văn đều tham gia đấu tranh giành độc lập. Năm 1946 khi nổ ra cuộc kháng chiến, bà tản cư ra Thanh Hóa và mất ở đó vào năm 1947.
Tháng 8, năm 1940 ông bị Pháp bắt đưa đi an trí tại Phong Điền cho đến tháng 3, năm 1945. Tháng 8 năm 1945 ông tham gia giành chính quyền ở Huế, và làm giám đốc Sở Tuyên Truyền Trung Bộ. Trong kháng chiến, ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực phổ biến chủ nghĩa Marx. Ông mất năm 1954 tại Thanh Hóa khi mới 46 tuổi, hài cốt được cải táng về nghĩa trang này năm 1984. Những ngôi mộ khác cũng đều của những nhà văn, nhà báo cộng sản như nhà thơ Thanh Hải, nhà báo Lê Tự Nhiên. Nhưng có một ngôi mộ không rơ có liên hệ ǵ với cách mạng, đó là mộ của bà Hoàng Thị Phương, bà nội của Thùy Chương, và do thế, người có "nhiệm vụ" thắp nhang là Hà Thúc Phú.
Sau đó nhóm du khảo được mời vào nhà ông Lê Văn Thế, là người đang trông coi nghĩa trang.
____________
|