
Sau
khi đi qua Bao
Vinh, ca nô chạy
tiếp một đoạn
trước khi quay
đầu và đi trở
lại trên sông
Đông Ba, chui
qua cầu Thanh
Long để tiến vào
Ngự Hà.

Hai bên sông là
hai pháo đài
Đông Phụ và Đông
Vĩnh. Mặt trước
của mỗi pháo đài
hướng ra sông
Đông Ba có 9
pháo nhăn, tức
là chỗ đặt súng
đại bác để pḥng
thủ, mặt bên,
hướng vào sông
Ngự Hà, có hai
pháo nhăn. Dưới
chân pháo đài có
đường pḥng lộ,
tức là đường để
quân lính di
chuyển, c̣n gọi
là đường vận
binh. Nhưng ngày
nay người dân
lấn chiếm xây
nhà trên cả hai
pháo đài. Đường
pḥng lộ dưới
chân thành bị sử
dùng để trồng
trọt cho nên
nh́n hai bên bờ
sông cây cối um
tùm, che khuất
pháo đài.
Các thanh niên
của nhóm du lăm
háo hức tràn ra
ngồi ở phần
trước ca nô để
nh́n cho rơ, và
có lẽ, cũng để
cảm nhận cảm
giác lần đầu
tiên đi bằng
đường thủy, chui
qua các cầu cống
trên Ngự Hà.

Thông thường,
hai pháo đài
được nối với
nhau bằng một
đoạn thành thẳng.
Nhưng ở đây hai
pháo đài không
có tường thành
nối với nhau.
Thay vào đó là
một đoạn thành
hở để nước trong
thành có thể
thoát ra sông
Đông Ba dễ hơn.
Thời Gia Long, ở
đây có bắc một
chiếc cầu gỗ qua
sông mang tên
Thanh Long Kiều.
Thời Minh Mạng
(1830) vua cho
xây lại bằng
gạch và đá, có
chiều dài 68m,
chiều rộng 5,
52m, bên dưới có
đường thông thủy
rộng 8, 40m và
đặt tên là Đông
Thành Thủy Quan.
Thành cầu phía
tây cao 1,05m,
có gắn hệ thống
đỡ đ̣n quay bằng
đá thanh dùng để
đóng hay mở cửa
quan bên dưới.
Hiện nay cấu
trúc bằng đá
thanh này vẫn
c̣n. Thành cầu
phía đông, hướng
mặt ra bên ngoài,
cao 1, 50m, có
13 pháo nhăn
h́nh tṛn, tức
là lỗ châu mai
để bắn súng đại
bác khi cần.
Nh́n trong h́nh
có thể thấy các
pháo nhăn đó
trên thành cầu.
Ngày nay thủy
quan này được
gọi là cống
Lương Y (gần đây
nhà nước đặt
biển gọi là cầu
Lương Y) v́ gần
đó có Tiên Y Từ,
tức là miếu thờ
tổ của ngành y (hiện
đă được phục
dựng).

Đây là mặt phía
tây của cống
Lương Y (có thể
thấy thành cầu
thấp và hai bệ
đá đỡ đ̣n quay
thủy quan bên
trên cống, thủy
quan hay cửa
cống nay không
c̣n).
Nh́n sang hai
bên Ngự Hà có
thể thấy bên
trái là đường Lê
Văn Hưu, bên
phải là đường
Lương Y. Đường
Lương Y đă giải
tỏa xong nhà ven
sông, đường Lê
Văn Hưu vẫn c̣n
đang phá dỡ. Đi
một đoạn sông
chừng 400m, ca
nô rẽ thẳng góc
sang phải, hướng
ề phía bắc. Bên
phải con sông là
đường Lê Trung
Đ́nh. Có thể
thấy bức tường
của pháo đài.
Bên trái con
sông vẫn c̣n nhà
ở, chưa mở đường
được.

Khoảng 600 m
đường sông th́
Ngự Hà lại bẻ
góc sang hướng
đông-tây, bên
phải con sông
vẫn là đường Lê
Trung Đ́nh, bên
trái việc giải
tỏa nhà sát mặt
sông vẫn chưa
xong. Xa xa là
cầu Kho. Đây là
cầu trên đường
Đinh Tiên Hoàng,
là đường chạy từ
cửa Đông Nam (Thượng
Tứ) ra cửa Chánh
Bắc (cửa Hậu).
Thời Gia Long,
năm 1808, vua
cho xây cầu bằng
gỗ và đặt tên là
Thanh Câu Kiều.
Năm 1820 vua
Minh Mạng cho
xây lại cầu bằng
gạch và đá dài
44, 62m, rộng 5,
10m, bên dưới
trổ 3 đường
thông thủy dạng
ṿm. Cửa giữa
rộng 6, 40m, cửa
bên rộng 4m. Nhà
vua đặt tên là
cầu Ngự Hà,
nhưng dân gian
quen gọi là cầu
Kho v́ ở phía
nam của cầu,
triều đ́nh đặt
nhiều nhà kho
như kho lúa, kho
tiền, kho muối,
kho than, v.v..
Hiện nay vẫn c̣n
ngôi miếu Kinh
Thương là miếu
thờ thần bảo vệ
cho các kho.

Trong h́nh là
nhà cửa ở bờ
trái con sông là
nhà đă cắt bớt
diện tích để
nhường đất cho
đường ven sông
đang mở.

Cận cảnh hai cửa
ṿm thông thủy.
Cửa bên nhỏ hơn
cửa giữa.

Ca nô chui qua
cửa giữa. Phó
nḥm hướng ống
kính ra sau và
chụp h́nh mặt
bên kia, mặt
phía tây của cầu
Kho. Đi qua khỏi
cầu nh́n về bên
phải có thể thấy
đường Lê Trung
Đ́nh đă giải tỏa
xong nhà cửa. Bờ
bên trái là
đường Trần Quí
Cáp, chỉ có một
đoạn có đường.
Nhà sát bờ sông
vẫn c̣n rất
nhiều.

Ngự Hà lại bẻ
góc sang hướng
bắc-nam. Bên
trái con sông là
đường Phùng Hưng,
nơi có trường
đại học Nông Lâm.

Nằm kề Đại Học
Nông Lâm là Đại
Học Kinh Tế. Ở
đoạn sông này
xưa kia có cầu
Bác Tế do vua
Thiệu Trị cho
xây dựng năm
1841, dài 40,
80m, rộng 2, 76m
sơn màu đỏ, nằm
sau lưng kho
tiền cho nên dân
gian gọi là cầu
Son Kho Tiền.
Tiếc rằng cây
cầu ấy nay không
c̣n.

Bờ bên phải là
đường Trần Văn
Kỷ, nơi có kư
túc xá sinh viên.
Cuối đường Trần
Văn Kỷ, con sông
bẻ góc theo
hướng đông-tây
trở lại.

Đằng kia là cầu
Khánh Ninh, là
cầu bắc từ đường
Triệu Quang Phục
sang đường Trần
Văn Kỷ (qua cầu
đi thẳng) và Ngô
Thế Lân (qua cầu
rẽ trái). Cầu
xây năm 1825
bằng gạch và đá,
chiều dài là 44,
62m, rộng 4,
33m, bên dưới có
cửa thông thủy
rộng 6,40m. Đầu
cầu phía bắc có
nhà bia, nơi
dựng Khánh Ninh
Kiều Bi Kư của
vua Minh Mạng
ghi lại việc
dựng cầu. Gần đó,
bên bờ bắc sông
Ngự Hà có cung
Khánh Ninh là
một biệt cung
của vua Minh
Mạng nay cũng
không c̣n. Trước
1975 có một đại
đội trú đóng ở
khu vực này, gần
sân bay Tây Lộc
tên là đại đội
Hắc Báo, cho nên
dân gian gọi cầu
này là cống Hắc
Báo.
Trên đoạn sông
này xưa kia có
một cầu nữa, nối
từ đường Lê Huân
sang đường Ngô
Thế Lân, gặp
cung Bảo Định,
là một biệt cung
của vua Thiệu
Trị, nằm kề cung
Khánh Ninh, do
vua Thiệu Trị
cho xây và đặt
tên là B́nh Kiều.
Nhưng tiếc thay
cả cung Bảo Định
lẫn B́nh Kiều
nay không c̣n.
xem tiếp phần
4