Trần Ngọc Bảo

 

 

Phần 3

 




          Sau khi đi qua Bao Vinh, ca nô chạy tiếp một đoạn trước khi quay đầu và đi trở lại trên sông Đông Ba, chui qua cầu Thanh Long để tiến vào Ngự Hà.



Hai bên sông là hai pháo đài Đông Phụ và Đông Vĩnh. Mặt trước của mỗi pháo đài hướng ra sông Đông Ba có 9 pháo nhăn, tức là chỗ đặt súng đại bác để pḥng thủ, mặt bên, hướng vào sông Ngự Hà, có hai pháo nhăn. Dưới chân pháo đài có đường pḥng lộ, tức là đường để quân lính di chuyển, c̣n gọi là đường vận binh. Nhưng ngày nay người dân lấn chiếm xây nhà trên cả hai pháo đài. Đường pḥng lộ dưới chân thành bị sử dùng để trồng trọt cho nên nh́n hai bên bờ sông cây cối um tùm, che khuất pháo đài.


Các thanh niên của nhóm du lăm háo hức tràn ra ngồi ở phần trước ca nô để nh́n cho rơ, và có lẽ, cũng để cảm nhận cảm giác lần đầu tiên đi bằng đường thủy, chui qua các cầu cống trên Ngự Hà.



Thông thường, hai pháo đài được nối với nhau bằng một đoạn thành thẳng. Nhưng ở đây hai pháo đài không có tường thành nối với nhau. Thay vào đó là một đoạn thành hở để nước trong thành có thể thoát ra sông Đông Ba dễ hơn. Thời Gia Long, ở đây có bắc một chiếc cầu gỗ qua sông mang tên Thanh Long Kiều. Thời Minh Mạng (1830) vua cho xây lại bằng gạch và đá, có chiều dài 68m, chiều rộng 5, 52m, bên dưới có đường thông thủy rộng 8, 40m và đặt tên là Đông Thành Thủy Quan. Thành cầu phía tây cao 1,05m, có gắn hệ thống đỡ đ̣n quay bằng đá thanh dùng để đóng hay mở cửa quan bên dưới. Hiện nay cấu trúc bằng đá thanh này vẫn c̣n. Thành cầu phía đông, hướng mặt ra bên ngoài, cao 1, 50m, có 13 pháo nhăn h́nh tṛn, tức là lỗ châu mai để bắn súng đại bác khi cần. Nh́n trong h́nh có thể thấy các pháo nhăn đó trên thành cầu.


Ngày nay thủy quan này được gọi là cống Lương Y (gần đây nhà nước đặt biển gọi là cầu Lương Y) v́ gần đó có Tiên Y Từ, tức là miếu thờ tổ của ngành y (hiện đă được phục dựng).



Đây là mặt phía tây của cống Lương Y (có thể thấy thành cầu thấp và hai bệ đá đỡ đ̣n quay thủy quan bên trên cống, thủy quan hay cửa cống nay không c̣n).


Nh́n sang hai bên Ngự Hà có thể thấy bên trái là đường Lê Văn Hưu, bên phải là đường Lương Y. Đường Lương Y đă giải tỏa xong nhà ven sông, đường Lê Văn Hưu vẫn c̣n đang phá dỡ. Đi một đoạn sông chừng 400m, ca nô rẽ thẳng góc sang phải, hướng ề phía bắc. Bên phải con sông là đường Lê Trung Đ́nh. Có thể thấy bức tường của pháo đài. Bên trái con sông vẫn c̣n nhà ở, chưa mở đường được.



Khoảng 600 m đường sông th́ Ngự Hà lại bẻ góc sang hướng đông-tây, bên phải con sông vẫn là đường Lê Trung Đ́nh, bên trái việc giải tỏa nhà sát mặt sông vẫn chưa xong. Xa xa là cầu Kho. Đây là cầu trên đường Đinh Tiên Hoàng, là đường chạy từ cửa Đông Nam (Thượng Tứ) ra cửa Chánh Bắc (cửa Hậu). Thời Gia Long, năm 1808, vua cho xây cầu bằng gỗ và đặt tên là Thanh Câu Kiều. Năm 1820 vua Minh Mạng cho xây lại cầu bằng gạch và đá dài 44, 62m, rộng 5, 10m, bên dưới trổ 3 đường thông thủy dạng ṿm. Cửa giữa rộng 6, 40m, cửa bên rộng 4m. Nhà vua đặt tên là cầu Ngự Hà, nhưng dân gian quen gọi là cầu Kho v́ ở phía nam của cầu, triều đ́nh đặt nhiều nhà kho như kho lúa, kho tiền, kho muối, kho than, v.v.. Hiện nay vẫn c̣n ngôi miếu Kinh Thương là miếu thờ thần bảo vệ cho các kho.



Trong h́nh là nhà cửa ở bờ trái con sông là nhà đă cắt bớt diện tích để nhường đất cho đường ven sông đang mở.



Cận cảnh hai cửa ṿm thông thủy. Cửa bên nhỏ hơn cửa giữa.



Ca nô chui qua cửa giữa. Phó nḥm hướng ống kính ra sau và chụp h́nh mặt bên kia, mặt phía tây của cầu Kho. Đi qua khỏi cầu nh́n về bên phải có thể thấy đường Lê Trung Đ́nh đă giải tỏa xong nhà cửa. Bờ bên trái là đường Trần Quí Cáp, chỉ có một đoạn có đường. Nhà sát bờ sông vẫn c̣n rất nhiều.



Ngự Hà lại bẻ góc sang hướng bắc-nam. Bên trái con sông là đường Phùng Hưng, nơi có trường đại học Nông Lâm.


 

Nằm kề Đại Học Nông Lâm là Đại Học Kinh Tế. Ở đoạn sông này xưa kia có cầu Bác Tế do vua Thiệu Trị cho xây dựng năm 1841, dài 40, 80m, rộng 2, 76m sơn màu đỏ, nằm sau lưng kho tiền cho nên dân gian gọi là cầu Son Kho Tiền. Tiếc rằng cây cầu ấy nay không c̣n.



Bờ bên phải là đường Trần Văn Kỷ, nơi có kư túc xá sinh viên. Cuối đường Trần Văn Kỷ, con sông bẻ góc theo hướng đông-tây trở lại.



Đằng kia là cầu Khánh Ninh, là cầu bắc từ đường Triệu Quang Phục sang đường Trần Văn Kỷ (qua cầu đi thẳng) và Ngô Thế Lân (qua cầu rẽ trái). Cầu xây năm 1825 bằng gạch và đá, chiều dài là 44, 62m, rộng 4, 33m, bên dưới có cửa thông thủy rộng 6,40m. Đầu cầu phía bắc có nhà bia, nơi dựng Khánh Ninh Kiều Bi Kư của vua Minh Mạng ghi lại việc dựng cầu. Gần đó, bên bờ bắc sông Ngự Hà có cung Khánh Ninh là một biệt cung của vua Minh Mạng nay cũng không c̣n. Trước 1975 có một đại đội trú đóng ở khu vực này, gần sân bay Tây Lộc tên là đại đội Hắc Báo, cho nên dân gian gọi cầu này là cống Hắc Báo.


Trên đoạn sông này xưa kia có một cầu nữa, nối từ đường Lê Huân sang đường Ngô Thế Lân, gặp cung Bảo Định, là một biệt cung của vua Thiệu Trị, nằm kề cung Khánh Ninh, do vua Thiệu Trị cho xây và đặt tên là B́nh Kiều. Nhưng tiếc thay cả cung Bảo Định lẫn B́nh Kiều nay không c̣n.


xem tiếp phần 4

 

 

art2all.net