Trần Ngọc Bảo

 

Một thoáng Hà Nội

 

Phần 4

 


 

Từ Chợ Gốm ra thì trời đã trưa cho nên chúng tôi không ghé được đình và chùa làng (nằm sát bờ sông Hồng). Đình và chùa cũng được xây dựng từ thời vua Lê Dụ Tông, năm 1720, với sân đình lót gạch Bát Tràng và mái được trang trí với những linh vật như rồng, nghê bằng đất nung. Tuy nhiên, trên đường về dọc theo đê sông Hồng, qua khỏi cầu Thanh Trì, chúng tôi đi ngang qua đình làng Thổ Khối, thuộc phường Cự Khối, quận Long Biên, cho nên cũng ghé thăm.
 

Đình làng được xây dựng vào năm 1785, với kiến trúc qui mô lớn, gồm các nhà tiền đường (tiền tế), đại đình, cung ngoài, cung cấm, nằm song song với nhau theo hình chữ nhất. Hai bên còn có các nhà phụ. Trên biển ghi là thờ lục vị đại vương, tức là 6 vị thành hoàng, trong đó có một vị là Cao Sơn Đại Vương, con của Lạc Long Quân, một vị nữa là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Trước sân đình, bên ngoài các trụ biểu có giếng nước hình bán nguyệt, khá lớn, có thể gọi là hồ. Hồi xưa cả làng dùng chung một giếng nước này.

Bên kia con đê là chùa làng, có tên là chùa Sùng Phúc. Nhưng giờ ấy chùa đóng cửa nên chúng tôi không vào thăm được. 

Hiện nay đình và chùa nhiều nơi được tu sửa khang trang. Tuy nhiên, số đình còn duy trì được lễ tế hoặc hội hè truyền thống không nhiều vì thời thế đã đổi thay. Các chùa cũng vậy. Tuy có sửa sang, tôn tạo, nhưng số chùa có tu sĩ duy trì thực hành giới, định, tuệ không nhiều; phần lớn thời gian dành cho nghi lễ, cúng bái, cầu siêu, cầu an, phục vụ nhu cầu của tín đồ.

Sau bữa cơm trưa ở nhà, có thêm bốn bạn trẻ tham gia chuyến đi dã ngoại đến làng cổ Đường Lâm ở hữu ngạn sông Hồng, cách Hà Nội chừng 50km. Gọi là làng nhưng thật ra đây là một xã thuộc thị xã Sơn Tây, trước đây thuộc tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Xã có 9 làng, trong đó có 5 làng nằm kề nhau là Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp và Cam Lâm. Chúng tôi chỉ đi đến được làng Cam Lâm và Mông Phụ và Đông Sàng.
 

Đền thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng ở thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm. Phùng Hưng là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Đường, Trung Hoa, trong khoảng năm 766-779. Lúc ấy nhà Đường gọi nước Nam là An Nam Đô Hộ Phủ, dinh phủ đặt ở thành Tống Bình, tức là Hà Nội bây giờ. Phùng Hưng đã cùng nghĩa quân vây thành Tống Bình. Tướng Trung Hoa là Cao Chính Bình sau nhiều năm chống cự không nổi đã lâm bệnh mà chết. Phùng Hưng chiếm được thành, xưng vương và trị vì trong khoảng 7 năm.
 

Bàn thờ Bố Cái Đại Vương ở tiền điện. Bên trái là ông thủ từ đội khăn đen, mặc áo dài trắng đang tiếp khách.
 

Tượng Phùng Hưng ở hậu điện
 

Đền thờ Ngô Quyền, cách đền thờ Phùng Hưng khoảng 100m, cùng thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm.
 

Tượng và ảnh thờ Ngô Vương. Ngô Quyền là người đã chiến thắng quân Nam Hán ở trận Bạch Đằng năm 938, chấm dứt thời kỳ đô hộ An Nam trên một ngàn năm của Trung Hoa.
 

Lăng mộ Ngô Vương, cách đền thờ khoảng 50m.
 

Từ lăng mộ nhìn ra là một khoảng không gian thoáng đãng, với đồng lúa và rừng cây.
 

Cổng làng từ trong nhìn ra giống như một ngôi nhà có mái ngói và cửa gỗ
 

Du khách ngồi cạnh cây đa bên cổng làng
 

Đình làng Mông Phụ được xây dựng vào năm 1684, dưới thời vua Lê Hy Tông
 

Khánh đá trong khuôn viên đình làng
 

Quán nước trước đình. Dấu hiệu của thế kỷ 21 là mấy chai nước ngọt!
 

Những bát chè tươi và kẹo lạc (kẹo đậu phụng) được bày ra cho khách trong quán. Kẹo được gói trong giấy kính, bày trên khay nhựa là chỉ dấu của thời hiện đại.
 

Từng xóm có cổng. Từ đình tỏa ra nhiều con đường xóm hình rẽ quạt thế nào để khi đi trên những con đường này người ta không quay lưng hướng về phía đình, là nơi linh thiêng.
Nhà ở đây xây bằng đá tổ ong không tô.
 

Nhà rường cổ, một kiến trúc bằng gỗ kết hợp với đá tổ ong. Trong làng Mông Phụ có tới 450 ngôi nhà cổ.

Trong các làng (thôn) lân cận cũng có hàng trăm ngôi nhà xây từ thế kỷ 17, 18.
Trời đã về chiều nên chúng tôi không vào nhà nào để ngắm thật kỹ kiến trúc. Chỉ kịp đi đến một địa điểm nổi tiếng nữa là Chùa Mía.
 

Chùa Sùng Nghiêm nằm trong làng Đông Sàng, xưa kia gọi là làng Cam Giá, mà dân gian gọi là làng Mía, cho nên chùa làng cũng được gọi là chùa Mía. Chùa có một tấm bia dựng năm 1621, do đó chùa có lẽ được xây trước đó. Đây là ngôi chùa có nhiều tượng nhất nước: 287 tượng, trong đó có 6 tượng đồng, 107 tượng gỗ, và 174 tượng làm bằng đất sét, sơn son thếp vàng. Chùa có tiền đường, chùa trung, và chùa thượng, tất cả đều làm bằng gỗ.
 

Tượng thờ đủ loại, nhiều kích cỡ, đặt san sát nhau.
 

Tượng thờ gồm tượng Phật, tượng Bồ Tát Quan Âm, tượng Kim Cương Hộ Pháp, Mẫu Liễu Hạnh.
 

Tượng thờ đặt trong một khung bằng đất sét tạo hình hang động
 

Một số tượng được khoác áo đỏ.

Không ai biết Đức Phật hay Bồ Tát hình dáng ra sao cho nên các nghệ nhân có lẽ đã phỏng theo các tượng từ Trung Hoa, kết hợp với các khuôn mặt người trong làng hay nhân vật trong các tuồng tích dân gian để làm nên các tác phẩm của mình.
 

Ngoài sân có bảo tháp Cửu Phẩm Liên Hoa cao 13m, thờ vọng xá lợi Phật và cây đa cổ thụ.

Trời bắt đầu tối cho nên chúng tôi phải giã từ ngôi chùa độc đáo này, giã từ một không gian yên tĩnh, với phong vị dân gian rất xưa còn sót lại bên cạnh khung cảnh rộn ràng, vội vã của phố phường Hà Nội.

 

Ngày 22/4/2013

Trần Ngọc Bảo



 

Xem Phần 3                                                                          Mục lục
 

 

Trang Trần Ngọc Bảo

Chân Trần

art2all.net