PHẦN III
Trên đường về xă Phong
Chương, nhóm lăng du nhận được hai tin nhắn, một của Đặng Hữu Hùng,
K7, nhờ thắp nhang ở ba ngôi mộ trước mặt lăng cụ Nguyễn Tri Phương,
tin nhắn kia là từ thầy lang Lê Quang Khanh, nhờ thăm nhà thờ họ Lê
Quang ở một làng Phú Nông gần đó. V́ thế, nhóm dừng xe ở một quán
bên đường để mua nhang. Trần Ngọc Bảo xuống xe và nh́n thấy bên trái
một cây cầu nhỏ cao cao, băng qua một con hói trông quen quen. H́nh
như hơn 10 năm trước ḿnh đă đi qua. Hỏi chủ quán th́ đúng là con
đường dẫn đến lăng mộ cụ Nguyễn.
Vừa đi vừa nh́n đường và kiểm tra bộ nhớ, lăo Trần mô tả lăng của cụ
Nguyễn và con trai nằm trên một cồn đất cao giữa đồng ruộng, xung
quanh có một lùm cây. Thế là o Hạnh đưa tay nhéo tai đại ca v́ tưởng
lăo Trần chơi tṛ nói lái. O ni sinh sống trên cồn hay bị lụt cho
nên nghe ai nói chi đụng tới "cồn" là o "cảnh giác" liền!

Lăng mộ cụ Nguyễn kia rồi, quả là nằm trên một
cồn cao giữa đám ruộng bên dưới lùm cây.

Lăng cụ Nguyễn Tri Phương.

Sau khi dâng hương, nhóm chụp h́nh lưu niệm.

Mộ Pḥ Mă Nguyễn Lâm, con trai cụ Nguyễn, nằm
phía trước, bên trái.
Nguyễn Tri Phương (1800-1873) là tướng chỉ huy
quân đội chống Pháp ngay từ lúc liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh
phá Đà Nẳng năm 1858 đ̣i triều đ́nh mở cửa giao thương và cho phép
tự do truyền đạo Thiên Chúa. Tuy vũ khí tốt hơn nhưng trước sự chống
cự mạnh mẽ của quân nhà Nguyễn, và hệ thống nhiều đồn lũy liên kết,
hỗ trợ nhau, liên quân không chiếm được đất Quảng.
Đạo quân đi t́m kiếm thuộc địa chuyển địa bàn tấn công vào Gia Định
năm 1859. Với kinh nghiệm ở Đà Nẳng họ dùng đại bác bắn cấp tập và
hạ được thành. Tướng giữ thành là Vơ Duy Ninh tự vẫn. Vua Tự Đức
điều Nguyễn Tri Phương vào Nam t́m cách chiếm lại. Ông chia quân làm
ba đạo, một đạo đóng ở Tân An (Long An bây giờ), một đạo ở Biên Ḥa,
một đạo ở Phú Thọ. Ba đạo xây đồn lũy rồi đánh lấn dần về Gia Định.
Ông xây một đồn lớn, gọi là Đại Đồn Chí Ḥa, người Pháp gọi là Kỳ
Ḥa. Nhưng thành lũy ấy không chịu nỗi sức công phá của súng đại bác
của quân Pháp. Đồn bị hạ vào năm 1861. Em của ông là Nguyễn Duy tử
trận. Ông bị giáng chức.
Lúc ấy, miền Bắc bị các dư đảng của Thái B́nh Thiên Quốc bên Trung
Hoa thất trận trong cuộc nổi dậy chống nhà Thanh, kéo sang cướp bóc.
Nào là Ngô Côn, nào là Lưu Vĩnh Phúc (giặc cờ đen), Hoàng Sùng Anh (giặc
cờ vàng), Bàn Văn Nhị (giặc cờ trắng). Các tướng như Hoàng Kế Viêm,
Ông Ích Khiêm, Tôn Thất Thuyết được điều ra đánh giặc, nhưng vẫn
không yên. Vua Tự Đức lại phái Nguyễn Tri Phương làm Khâm Mạng Đại
thần ra Bắc lo đánh dẹp bọn phỉ Tàu.
Một thương gia người Pháp là Jean Dupuis sang miền Bắc thăm ḍ mua
bán với Trung Hoa bằng đường sông Hồng. Nhà cầm quyền trục xuất Jean
Dupuis. Soái phủ Nam Kỳ phái đại úy Francis Garnier đem quân ra Bắc
để giúp Jean Dupuis thương lượng. Ngày 5 tháng 11 năm 1873 Garnier
ra Hà Nội gửi thư đ̣i quân Nam phải cho người Pháp dùng sông Hồng
để hoạt động thương mại và đ̣i trả tiền phí tổn cho tàu của Pháp từ
Nam Kỳ ra giải quyết tranh chấp với Jean Dupuis. Nguyễn Tri Phương
không nhượng bộ. Ngày 19, Pháp bất ngờ đánh úp thành Hà Nội. Pḥ Mă
Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết ở cửa Nam. Nguyễn Tri Phương bị thương.
Quân Pháp bắt được ông và cứu chữa, nhưng ông nhịn đói chịu đau đến
chết vào ngày 20 tháng 12.
Vua Tự Đức cho người đưa thi hài về Huế. Vua đích thân làm bài văn
tế Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Duy và Nguyễn Lâm và cho xây đền Trung
Hiếu tại quê nhà làng Đường Long (sau đổi thành Chí Long) tổng Chánh
Lộc (bây giờ là xă Phong Chương), huyện Phong Điền. Ông cũng được
thờ tại đền Trung Liệt trên g̣ Đống Đa ở Hà Nội. Người Pháp c̣n giữ
quan phục của Nguyễn Tri Phương và trưng bày tại Bảo Tàng Quân Sự
Les Invalides (theo Wikipedia).

quan phục Nguyễn Tri Phương ở Pháp (nguồn:
Wikipedia, Internet)
đền thờ Trung Liệt, g̣ Đống Đa (nguồn: Wikipedia,
Internet)
Tượng Nguyễn Tri Phương ở đền Trung Liệt (nguồn:
Wikipedia, Internet)
Theo Đặng Hữu Hùng, K7, từ lăng mộ hai vị anh
hùng nh́n ra khoảng 30m có ba mộ đất mà tên tuổi gắn liền với lịch
sử (và t́nh sử) mà Hùng sẽ cho biết sau. Nhưng bây giờ th́ nước
trong cánh đồng đang dâng cao, không ra thắp hương được nên nhóm chỉ
bái vọng.

Không rơ đây có phải là những nấm mộ mà Đặng Hữu
Hùng đề nghị thắp hương?

Bữa trưa: ăn tiệc buffet trên con đường bê tông
dẫn vào lăng Nguyễn Tri Phương (có bánh chưng, bánh ḿ, chè đậu ván
đặc).

Xe chạy một đoạn rồi mà anh phó nḥm c̣n yêu cầu
anh tài chạy chậm để chụp ảnh cái cồn. Hà Thúc Phú nói hễ thấy cái
cồn nào lạ là anh Sum ưa chụp.
Theo hướng dẫn từ xa (qua điện thoại) của thầy lang Khanh, nhóm quay
lại đường cũ một đoạn gần thôn Lương Mai, hỏi làng Phú Nông. Khi rẽ
vào một cổng
đề thôn Phú Lộc th́ gặp một anh trung niên đi xe máy, DũngSilk hỏi
to: "Anh có biết nhà thờ họ Lê Quang ở đâu không?" "Ở đằng tê tề."
Anh ta đưa tay chỉ rồi nói, "Tui họ Lê Quang đây." "Nhờ anh dẫn
đường giúp." Nhưng chàng ta làm như không nghe thấy. Không sao. Cuối
cùng cũng thấy được bức tường và cổng cửa rất "hoành tráng".

Cổng nhà thờ họ Lê Quang.
(Bích Vân b́nh luận: Hay ông đốc tờ muốn khoe nhà thờ đẹp đây?)
Cổng trước đóng, nhưng cổng bên th́ mở.
Bảo và Bích Vân thắp nhang rồi cùng Hạnh đứng
chụp h́nh

Bức b́nh phong cũng cầu kỳ "ác liệt"!

Ngôi điện thờ khá bề thế, nhưng để tương xứng với cổng cửa, la thành,
theo Bích Vân th́ ông đốc ráng xây lớn hơn nữa.
Trong sân có một khoảnh đất trồng sắn. Bích Vân định nhổ một cây,
nhưng kéo hoài không lên. Thế mới biết rễ củ nhà họ Lê ni vững chắc
như thế nào!
Ngoài ra c̣n có nhiều bụi cỏ gà làm o Hạnh nhớ
lại tṛ đá gà ngày thơ. O Hạnh kể nhờ uống cỏ gà mà chữa được bệnh
sỏi thận.

Cây cỏ gà c̣n có công dụng lợi tiểu, trị ho.
Làm xong "nghĩa vụ" hành hương chiêm bái, đồng thời đóng vai tṛ "Sơn
Đông măi vơ" quảng cáo thuốc "cao cỏ gà" cho thầy lang Khanh ( biệt
hiệu cụ Cu Năng), nhóm phiêu lăng lại trở ra đi t́m đền thờ Trung
Hiếu.
(c̣n tiếp)