Bên cạnh Mỹ
Sơn trầm mặc là Hội An rộn ràng, một điểm đến nhộn nhịp
của du khách bốn phương. Phố Hội nay là thành phố của
tỉnh Quảng Nam, nằm cách Đà Nẳng khoảng 30 km.
Khi chiều xuống là lúc Phố Hội chuyển ḿnh, chuẩn bị cho
một đêm náo nhiệt, và đêm nào cũng như có lễ hội do đông
đảo du khách đổ xô đến mấy con phố nhỏ hẹp, gọi là phố
cổ - cổ như thế nào th́ có lẽ phải giở lại mấy trang
lịch sử.
Xưa kia Hội An vốn là một đô thị cổ của vương quốc
Champa (Chiêm Thành), là một cảng thị sầm uất do nằm gần
với Đại Chiêm Hải Khẩu (cửa Đại) và kinh đô Trà Kiệu.
Người ta đă phát hiện những di chỉ khảo cổ với các hiện
vật như gốm sứ Champa, Trung Quốc, Á rập, những đồ trang
sức đến từ Trung Đông, Ấn Độ và trong các thư tịch cổ ở
Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tư đều nhắc đến vịnh Trà Nhiêu (phía
nam Hội An) là nơi các thương thuyền thường ghé bến.
Khoảng cuối thế kỷ XV, người Đại Việt đến định cư. Năm
1558, Nguyễn Ḥang được cử vào trấn thủ đất Thuận Hóa,
và năm 1570 lại kiêm trấn thủ Quảng Nam (lúc ấy bao gồm
Quảng Nam, Quảng Ngăi và B́nh Định). Năm 1602, chúa
Nguyễn cử con là Nguyễn Phúc Nguyên phụ trách cai quản
xứ Quảng Nam, đóng dinh tại Thanh Chiêm. Hội An được
thành lập trong khoảng 1602-1613 và trở thành một trong
những cảng biển sầm uất nhất vùng Đông Nam Á.
Trong số các thương gia nước ngoài lưu lại lâu dài tại
Hội An, thoạt đầu người Nhật chiếm số đông nhất. Họ đi
thuyền buồm theo mùa gió đông bắc đến đây, xây kho hàng
và ở lại để buôn bán. Khi cần trở lại, họ chờ tới mùa
gió tây nam. Đặc biệt, người Nhật cung cấp đồng, sắt,
lưu huỳnh cho chúa Nguyễn để đúc súng, và bán cho quân
đội cả kiếm Nhật (đó là không kể tới chuyện dạy vơ nghệ
cho người Việt). Trong khi đó, người Bồ Đào Nha (được
mời ra Phú Xuân) chuyển giao phương pháp đúc súng thần
công. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đă nhận một người Nhật tên
là Toba làm con nuôi và gă một con gái của ḿnh cho một
thương gia Nhật tên là Ataki Sutaru và giao cho người
này phụ trách việc thu thuế các tàu buôn ở Hội An.
Người Nhật xây nhiều nhà cửa và một cây cầu, gọi là cầu
Nhật Bản, mà sau này chúa Nguyễn Phúc Chu đă đặt tên là
Lai Viễn Kiều (hiện tấm biển tên cầu mang thủ bút của
ngài vẫn c̣n treo ở đây). Dân gian th́ gọi là chùa Cầu
v́ trên cầu có thờ Bắc Đế Trấn Vũ, là một vị thần của
Đạo giáo.
Người Nhật xây cầu trên một đoạn sông ngắn, mà đây là
bến cho tàu thuyền đậu, dài chỉ khoảng 200m. Dân địa
phương gọi là sông Cổ C̣. Sông này là một nhánh nằm
thẳng góc với sông Hoài, là nhánh hạ lưu của sông Thu
Bồn. Họ xây dựng một dăy nhà dọc theo sông trên con
đường Bạch Đằng ngày nay.
Thương buôn có số lượng đông thứ hai là người Trung Hoa.
Ngoài các nhà buôn theo tàu viễn dương đến đây trước,
một số lớn người Hoa trung thành với triều Minh đổ về xứ
Đàng Trong tỵ nạn trong giai đoạn nhà Minh bị nhà Thanh
lật đổ (được gọi là người Minh Hương). Sau đó, những nhà
buôn người Hoa ăn mặc theo kiểu Măn Thanh (gọi là người
Khách trú), cũng kéo đến.Phố của người Hoa nằm phố song
song với phố của người Nhật, nằm trên đường mà ngày nay
mang tên Trần Phú. Thế cho nên khu này, hồi xưa, người
Việt gọi là Hai Phố, c̣n người Hoa gọi là Faifo (có phải
phố?), bây giờ có người gọi là Hoài Phố.

Phố phường bắt đầu lên đèn. Không khí bắt đầu "chộn rộn."

Đây là một tiệm may. Hội An hấp dẫn du khách do tài nghệ
cắt may rất nhanh chóng và giá rẻ. Cửa tiệm treo đèn
lồng tṛn kiểu Tàu và kiểu thuôn dài đặc biệt của Phố
Hội.

Đây là một nhà cổ, được dùng làm gallery, bán các tác
phẩm hội họa.

Chùa Cầu là đây, là biểu tượng của phố cổ Hội An. Một
đầu cầu là đường Trần Phú, dăy phố c̣n nhiều di tích của
người Hoa nhất. Bên kia cầu nay là đường Nguyễn Thị Minh
Khai, cả hai đều là phố buôn bán.
Đa số du khách không quan tâm nhiều đến lịch sử, họ đến
để t́m những tṛ vui làm thỏa măn nhu cầu của các giác
quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, . . . của họ.

Đây là một tṛ chơi dân gian trên đường Hai Bà Trưng mà
người Huế gọi là đập om, nhưng đây là đập bùng binh.
Người chơi thay v́ bịt khăn lại mang mặt nạ và bước từ
chỗ đứng, cách mục tiêu khoảng 4, 5 bước, cầm một cây
gậy ngắn và đập vào chiếc b́nh bằng đất nung treo trên
cao. Họ được phép bước đi thử, nh́n và tính toán trước
khi mang mặt nạ vào tại điểm xuất phát. Nếu đập vỡ b́nh
th́ được thưởng một món quà nhỏ.

Để tăng thâm phần hồi hộp cho khán giả và cả người chơi,
có một người cầm xập xỏa đập chan chát, làm náo động cả
con đường và người MC, với micro và loa, la hét thật to:
qua phải/ qua trái để đánh lừa người chơi.
Ai muốn chơi phải bỏ ra 5.000. Nhiều anh chị Tây ba lô
cũng nhào vô thử. B́nh quân, từ 10- 15 người chơi mới có
1 người đập trúng bùng binh. Nhà cái các tṛ chơi may
rủi khi nào cũng "hốt sạch".

Đây là một tṛ chơi dân gian khác: đánh bài cḥi, tổ
chức ở mũi tàu, chỗ giao nhau giữa hai đường Nguyễn Thái
Học và Bạch Đằng. Cũng để tăng thêm phần hồi hộp và thú
vị cho tṛ chơi đỏ đen này, anh hiệu, người quản tṛ, sẽ
ḥ những câu ḥ dân gian hài hước, trước khi hô to tên
của con bài.

Người ta dùng bộ bài tới để chơi. Nhưng có lẽ các du
khách nước ngoài không hiểu được phần hô bài của anh
hiệu cho nên họ không tham gia. Mà người ngoài tỉnh có
lẽ nghe giọng hô bài cḥi của người địa phương cũng
không thưởng thức nỗi cho nên cửa hàng có vẻ ế ẩm.

Những con bài được phóng lớn và dán lên các tấm b́a cứng
cho người chơi cầm.

Du khách không chơi th́ quay sang t́m một cảm giác khác:
đó là thú ăn uống. Đặc sản nổi tiếng của Hội An là cao
lầu, ḿ Quảng và cơm gà.
Những hàng quán lề đường c̣n bán các
món chè bắp, chè hột sen, chè trôi nước, v.v. và đậu hủ,
nước mía, sữa đậu nành, đậu phụng.

Các nhà hàng th́ bán đủ loại thức ăn Á, Âu. Bàn ghế được
đưa ra "tấn công" cả lề đường. Menu được ghi lên tấm
bảng to để chào mời khách.
Và âm nhạc cũng không thiếu: rất nhiều thể loại âm nhạc
trầm bổng du dương phát ra từ các quán cà phê, nhà hàng,
và cả những tiệm bán quần áo.

Sau khi đi bộ loanh quanh, cháu bé thỏ thẻ "mỏi chân rồi"-
mà khi mệt mỏi th́ mọi thú vui, mọi cảm giác không c̣n
hấp dẫn như lúc ban đầu.
Thôi th́ đành lên xe xích lô dạo một ṿng phố và trở về
pḥng ở khách sạn.
(Tiếp
theo phần 2)