Ba du khách này được coi là thức dậy
sớm, mặc dù bây giờ mặt trời đã lên "quá đọt dừa" rồi!

Đây là đường Bạch Đằng, là bến thuyền trên sông Hoài.
Chiếc thuyền sau lưng hình như là nhà hàng nổi.

Bên kia sông là cồn nổi An Hội. Xưa kia, sông rất rộng,
nhưng dần dần, phù sa sông Thu Bồn tích tụ, trở thành
một bãi bồi lớn và lòng sông cũng cạn khiến ghe thuyền
lớn không vào được. Đây là nguyên nhân chủ yếu khiến Hội
An mất đi vị trí của một cảng thị. Hồi đó, ở Huế có cảng
Thanh Hà, cũng rất sầm uất cùng thời với Hội An (thế kỷ
XVII - XVIII), cũng có làng Minh Hương, do thần dân
triều Minh lập ra khi chạy qua Đại Việt tỵ nạn. Rồi sông
Hương bị bồi lấp. Họ di chuyển lên Bao Vinh lập phố. Nơi
đây cũng thịnh vượng một thời gian và rồi lòng sông cũng
bị bồi lấp và Bao Vinh trở thành một ngôi chợ nhỏ. Vua
Minh Mạng cho lập phố Cửa Đông và phố Gia Hội vào thế kỷ
XIX.

Ghe thuyền phía bên kia vẫn nằm im lìm. Ghế đá bờ sông
vẫn còn đợi ai.

Đã trưa lắm rồi mà ghe thuyền, bến bãi vẫn vắng bóng
người. Qua một đêm rộn ràng, bây giờ người dân xứ Hội
lẫn khách du dường như vẫn còn mơ màng giấc điệp.

Đây là một cây cầu mới bắc qua An Hội từ đường Bạch Đằng.
Con đường này cũng được nối dài xuống xóm phía bên phải
chùa Cầu có lẽ trong vòng năm năm trở lại đây.
Trước kia, An Hội là một vùng quê, ngay cả cư dân xứ Hội
cũng ít khi sang đó. Nay cũng đã trở thành đô thị.

Đây là cây cầu cũ qua An Hội, ở ngay trước mặt nhà Bảo
tàng Văn Hóa Sa Huỳnh, gần chùa Cầu. Ban đêm cây cầu này
cũng rực rỡ ánh đèn, người đi như trẩy hội.

Con đường bờ sông bên cồn An Hội ban ngày trông rất êm
đềm, với hàng dừa quyến rũ và nhà cửa khang trang, ban
đêm cũng hóa thân thành quán xá, đèn lồng giăng mắc,
tiếng nhạc rộn rã.
Bên trái cồn An Hội còn có một cồn
nổi nữa là cồn Cẩm Nam.

Chùa Cầu hay Lai Viễn Kiều là đây - bắc qua một khe nước
nhỏ. Một người bạn xứ Hội cho biết đây không phải là
sông Cổ Cò. Khe nước hay con lạch này không có tên, nó
chỉ là một bến thuyền để ghe thuyền neo đậu. Cầu có chân
làm bằng đá, bên trên là chùa làm bằng gỗ và lớp mái
ngói. Cầu do người Nhật xây nhưng phong cách lại pha
trộn giữa Trung Hoa và Việt Nam. Chắc chắn là cầu đã qua
nhiều lần trùng tu và kiến trúc nguyên thủy bị mất đi
một phần.

Đây là mặt sau, tức là phần chùa (mà không phải chùa!),
thờ Bắc Đế (có người gọi là Huyền Thiên) Trấn Vũ để trấn
yểm thiên tai của các đạo sĩ. Có một truyền thuyết kể
rằng, bên dưới cây cầu là một con cù, hay con giao long,
có đầu nằm tận bên Ấn Độ, đuôi nằm bên Nhật Bổn, còn đây
là thân của nó. Mội khi con cù này quẫy đuôi thì Nhật
Bổn bị động đất. Còn Đại Việt thì vẫn yên lành. Cầu Chùa
cũng là đầu của khu phố cổ, phía bên kia cầu là khu phố
mới.

Đây là lối vào cầu, đầu đường Trần Phú, cũng là đầu khu
phố cổ. Bên phải có hàng bán trầm hương, một sản vật quí
của đất Quảng.

Đường phố yên tĩnh với nét độc đáo là dài và hẹp. Nhà
nhà đều sơn màu vàng (có sự chỉ đạo chăng?) và chỉ có
một tầng hay hai tầng.

Phố cổ chỉ bao gồm mấy con đường nằm dọc theo bờ sông,
như Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Bạch Đằng và vài con
đường ngang nối các phố này lại như Hoàng Diệu, Trần Quí
Cáp, Hoàng Văn Thụ, Lê Lợi, Hai Bà Trưng. Thật ra hồi
đầu (thế kỷ XVII) chỉ có một con đường đi từ cầu Chùa
tới chùa Ông Bổn (thờ Phục Ba Tướng Quân Mã Viện - người
đánh bại Hai Bà Trưng!). Dần dần do phù sa bồi, bờ sông
dài ra và người ta xây thêm nhà mới có hai con đường
Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng.
(Tiếp
theo phần 3)