|
Phạm Ngọc Lân
CHA VÔ DANH

Hà Hồi, làng quê tôi
(Trích nhật kư của Long)
Tháng giêng 2007.
Một buổi sáng đẹp trời, một chút gió mát. Se se lạnh. Gọi là
lạnh chứ dĩ nhiên chẳng thấm ǵ với cái lạnh cóng người
tháng giêng bên Pháp mà tôi vừa nếm mùi mới tuần trước đây.
Tháng giêng và tháng hai là những tháng lạnh nhất mùa đông
bên trời Âu.
Mấy anh em dừng xe trước cổng ga Thường Tín chụp tấm h́nh kỷ
niệm.

Tác giả và
em gái trước cổng ga Thường Tín, 2007
Sáng sớm hôm nay xe đ̣ Sinh Café thả ba
anh em xuống trước trạm ngay gần khu trung tâm Hà Nội, trong
khi các xe đ̣ khác phải đậu ở bến rất xa. Tôi quyết định
dành ngày đầu tiên ở đây cùng với hai vợ chồng Hoài và Vy đi
thăm làng Hà Hồi là quê ngoại của hai anh em tôi.
Cũng như trên con đường từ Nha Trang ra Ba Ng̣i vài ngày
trước, chúng tôi thuê hai chiếc xe Honda và theo quốc lộ 1
xuôi nam, đi ngược lại con đường xe đ̣ mới đưa chúng tôi từ
Huế ra Hà Nội đêm qua.
Cách lái xe hai bánh ở Hà Nội chẳng thua ǵ ở Sài G̣n : cũng
ẩu như nhau ! Có phần c̣n ẩu hơn nữa, v́ số lượng xe Honda
tăng vọt nhanh chóng, người lái xe c̣n hăng máu lắm ! Cũng
may, Long tuy đă sống từ lâu bên Pháp và bên Mỹ, vẫn c̣n
kinh nghiệm xe đạp, xe Honda, rồi xe Vespa ngày c̣n trẻ ở
Sài G̣n, nên không nao núng giữa ḍng xe lúc nào cũng sẵn
sàng lấn lên như muốn tông vào ḿnh !
Ra khỏi nội thành Hà Nội, chúng tôi qua Văn Điển, nổi tiếng
v́ ở đây là nghĩa trang lớn nhất Hà Nội (i) . Rồi đến Ngọc
Hồi, địa danh quen thuộc với học tṛ cả nước khi học sử v́
đây là một trong những chiến thắng quyết định của vua Quang
Trung đánh đuổi quân Thanh vào mùa xuân năm 1789 (Hà Hồi,
Ngọc Hồi, Đống Đa). Đến một ngă tư có tấm bảng chỉ Hà Đông
về phía tay phải. Tôi lại nhớ như in câu Ông Phó dặn khi tôi
mới sáu bảy tuổi ǵ đó : " Con nhớ nhé, quê ngoại con là
làng Hà Hồi, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. " Nhưng gần
đây tôi mới khám phá ra là làng Hà Hồi nay không c̣n thuộc
tỉnh Hà Đông nữa, mà thuộc tỉnh Hà Tây ! Quái ! Sao có thể
tương phản đến như thế nhỉ ! Đang " đông " lại dời qua " tây
" ? Truy t́m măi mới vỡ lẽ : trong một cuộc sắp xếp lại các
tỉnh thành, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây ráp lại làm một, lấy
tên là Hà Tây (1).
Ga Thường Tín lớn hơn ga Ngă Ba ở Ba Ng̣i nhiều. Phía sau
nhà ga có nhiều đường sắt và những dăy dài toa chở hàng hóa.
Tôi t́nh cờ gặp một nhân viên làm việc ở đấy, hỏi thăm mới
biết ga Thường Tín tuy khá lớn, nhưng các chuyến tàu chở
khách không ngừng lại đây nữa. Ga này chỉ c̣n dùng cho các
tàu chở hàng hóa thôi. Tôi lại chợt nhớ bà ngoại tôi thích
kể về ông ngoại khi c̣n làm việc ở Hà Nội, mỗi lần về nhà
luôn luôn dùng tàu hỏa từ ga Hàng Cỏ đến ga Thường Tín, chỉ
có 19 km. Bây giờ ai cũng dùng đường bộ, xe máy hay xe đ̣,
chẳng c̣n dùng tàu hỏa cho quăng đường ngắn như thế nữa.

Phía trong
ga Thường Tín 2007
Đi tiếp trên quốc lộ 1 về phía nam, đến
một ngă tư, phía trái có tấm bảng đề " Bộ Văn Hóa – Đ́nh
làng Hà Hồi đă xếp hạng di tích lịch sử văn hóa – 800m "
Mũi tên trên tấm bảng chỉ vào con đường nhỏ đi vào làng Hà
Hồi. Một thoáng xúc động : tôi vừa đặt chân lên ngôi làng
quê ngoại sau 56 năm xa cách.

Đầu đường
vào làng Hà Hồi 2007
Con đường vào làng không có cây đa cổ thụ
đón chào người phương xa về nghỉ chân dưới bóng mát như
trong truyện cổ xưa, mà chỉ có con đường tráng xi-măng vừa
đủ rộng cho hai xe hơi có thể tránh nhau nếu chịu khó nép
sát vào vách nhà hai bên đường.
Và rồi đ́nh làng xuất hiện trong một khu công viên thật
rộng, sừng sững với bức tường bao bọc có 5 cổng vào. Cổng
chính thật đồ sộ, hai cổng hai bên tuy nhỏ hơn nhưng cũng
rất bề thế, thêm hai cổng nhỏ ngoài cùng. Tiếc là phía trong
đang sửa chữa xây cất lại (nhờ có tiền của nhà nước khi được
công nhận là di tích lịch sử văn hóa) nên không vào được để
ngắm ngôi đ́nh thiết kế như thế nào. Nh́n quang cảnh bên
ngoài như thế th́ chắc bên trong cũng bề thế không kém.
Đ́nh làng Hà Hồi được xây dựng từ cuối thế kỷ 16. Vào cuối
thể kỷ 18, vua Quang Trung đă đóng quân trong khuôn viên
ngôi đ́nh này để chuẩn bị đánh trận Đống Đa là chiến thắng
quyết định trong mùa xuân năm Kỷ Dậu đuổi quân Thanh ra khỏi
bờ cơi.

Đ́nh làng
Hà Hồi 2007
Hai vợ chồng Hoài và Vy đă một lần đến
đ́nh làng này mấy năm về trước, trong một chuyến phiên lưu
mạo hiểm hơn một tháng trời từ Nam ra Bắc bằng chiếc xe
“Honda” Trung Quốc cũ mèm. B́nh thường ra th́ chuyến đi như
thế cũng chưa thể gọi là “phiêu lưu mạo hiểm”, nhưng với
t́nh trạng đường sá vào thời điểm đó, và nhất là với cách
lái xe bạt mạng của tài xế xe đ̣, nếu không bị tai nạn trên
suốt dọc quốc lộ 1 từ Sài G̣n ra Hà Nội th́ đúng là một phép
lạ. Và phép lạ đă không xảy ra với cặp vợ chồng liều lĩnh
này. Khi gần đến Hà Nội tai nạn đă xảy ra, nhưng không phải
do tài xế xe đ̣ lái ẩu, mà v́… thằng bé con đi xe đạp băng
qua đường mà không cần biết có xe nào khác trên đường hay
không ! Hai vợ chồng ngă sóng soài v́ lách tránh thằng bé,
không may gặp đúng chỗ trơn trợt. Tuy chỉ bị thương nhẹ,
nhưng cũng đành phải tiếp tục cuộc hành tŕnh với chiếc xe
Honda nằm trên mui một chiếc xe đ̣ !
Tuy gặp tai nạn trắc trở như vậy, Vy và Hoài vẫn rất thích
thú với chuyến đi bằng xe hai bánh này. Hoàn toàn tự do muốn
nghỉ đâu th́ nghỉ, muốn ngừng đâu th́ ngừng. Được ngắm nh́n
đất nước hùng vĩ trên đỉnh “đèo Ngang bóng xế tà” hay
dừng chân để ngậm ngùi bên hai ḍng sông (2) “chia tay
chân và cắt đứt ngang ḿnh” như Phạm Duy hát trong Mẹ
Việt Nam (ii).
Trước chuyến đi đó, tôi đă truyền lại cho cô em những ǵ tôi
biết về làng Hà Hồi. Ngày xưa mẹ và bà ngoại hay kể cho tôi
nghe về cuộc sống ở quê ngoại, v́ trong mấy anh em chỉ có
ḿnh tôi được sống ở đấy vài năm lúc c̣n bé tí.
V́ thế nên hai vợ chồng đă đến ngôi đ́nh làng này một lần từ
bốn năm trước, c̣n tôi lần đầu tiên trong đời được thấy tận
mắt một công tŕnh kiến trúc cổ xưa, một ngôi đ́nh mà tôi
chỉ được biết qua văn chương (“đ́nh là nơi thờ Thành
hoàng và cũng là nơi hội họp của người dân”) hoặc thấy
h́nh ảnh đâu đó trong sách vở. Quả thật có chút xúc động khi
nghĩ đến bao thế hệ tổ tiên ḿnh đă từng ra vào nơi này
trong các buổi hội họp đ́nh đám…
Tôi cũng muốn đến thăm nhà thờ làng Hà Hồi, nghe bà và mẹ
nói cũng to lắm. Hỏi thăm người dân làng, chúng tôi theo mấy
con đường ngoằn ngoèo vào xóm đạo. Lại nhớ ngày xưa bà ngoại
hay khoe đường làng toàn lót gạch, không phải đường đất lầy
lội khi trời mưa như nhiều làng khác, chứng tỏ Hà Hồi sung
túc. Bây giờ, gần một thế kỷ đă qua, lớp gạch đă biến mất
dưới lớp xi-măng, có nơi dưới lớp nhựa đường. Và những người
dân quê áo nâu đi bộ trên con đường gạch đó cũng được thay
bằng những thanh niên cưỡi xe máy chạy tất tả chẳng khác ǵ
người dân thị thành.
Nhà thờ nằm ở cuối một con đường nhỏ, sát cạnh khu vườn rau.
Một lần nữa tôi lại vô cùng ngạc nhiên v́ một nhà thờ làng
mà sao bề thế quá! Ba tháp chuông sừng sững, một kiến trúc
tôi chưa được thấy trước đây. Thường th́ chỉ một tháp chuông
như nhà thờ “con gà” ở Đà Lạt (iii), hoặc hai tháp chuông
thường thấy ở những nhà thờ quan trọng hơn như nhà thờ Đức
Bà Sài G̣n hay nhà thờ chính ṭa Hà Nội.

Nhà thờ
làng Hà Hồi 2007
Một cổng sắt lớn mở vào một cây cầu bắc
trên một hồ nước, dẫn đến khuôn viên rộng răi chung quanh
nhà thờ. Hai bên hông là hai ngôi nhà khang trang, đầu nhà
kiến trúc rất đẹp có tượng trên đỉnh. Chắc hai ngôi nhà dùng
làm pḥng hội họp, lớp học… Tôi lại miên man nghĩ đến mẹ tôi
lúc đi học, chắc là lớp học cũng nằm trong ngôi nhà này. Lại
tưởng tượng h́nh bóng những đứa bé từ hơn bảy chục năm trước
đă chạy nhảy đùa giỡn trong khuôn viên này, trong đó có mẹ
tôi!
Ṿng ra phía sau nhà thờ, lại một ngạc
nhiên nữa: nhà xứ là một ngôi nhà lớn, hai tầng, kiến trúc
theo lối Pháp xưa, quét vôi màu vàng nhạt. Một bức tường bao
bọc nhà xứ cách biệt với khuôn viên nhà thờ, có cổng sắt dẫn
vào một sân lớn với nhiều chậu kiểng chăm sóc thật kỹ lưỡng.
Vy bấm chuông, một cậu trai trẻ ra mở cổng, cho biết cha xứ
đi vắng. Nhưng vẫn mời chúng tôi vào nhà uống trà. Cậu giới
thiệu các h́nh ảnh treo trên tường chụp trước đó mấy năm khi
làm lễ kỷ niệm nhà thờ được một trăm năm. Cậu giải thích
thêm cha xứ nhà thờ này cũng là một giáo sư dạy ở Đại chủng
viện thánh Giuse ở Hà Nội (3). Chính cậu cũng là một học tṛ
của cha, tức là một chủng sinh. Cậu cũng cho biết là từ vài
năm nay, Đại chủng viện được chính quyền chính thức cho phép
tuyển sinh hằng năm.
Chúng tôi cám ơn cậu chủng sinh và rời nhà xứ với những t́nh
cảm tốt đẹp. Chỉ chén nước trà đơn sơ với vài cái kẹo lạc và
bánh đậu xanh, nhưng sao vẫn cảm thấy cái t́nh người chân
thật trong cách đối xử với những người hoàn toàn xa lạ…
Cũng vừa đến gần trưa, Hoài đề nghị t́m ăn món ǵ đơn giản
của dân làng. Chúng tôi quyết định đi ra chợ.
Chợ nằm trên một khu đất rộng, gần ruộng, không phải trong
trung tâm làng như tôi tưởng. Chợ khá lớn, gồm rất nhiều
hàng quán bao quanh một cái nhà chợ cũ kỹ. Cái nhà chợ này
nhỏ so với diện tích chung quanh, chắc là xây cất từ rất
lâu, và có lẽ từ lâu chưa quét lại lớp vôi vàng. Hàng chữ
lớn trên mặt tiền: “Chợ Vồi, Xă Hà Hồi”. “Làng Vồi, chợ
Vồi”, ngày xưa tôi được bà ngoại và mẹ nhắc đến bao nhiều
lần rồi, nhưng nay được đọc chữ “Vồi” ghi trên bức tường
ngôi nhà chợ… tôi không khỏi bồi hồi!

Cái chợ này giống như bao nhiêu chợ khác
ở các làng quê miền Bắc, chẳng có ǵ đặc biệt cả. Nhưng đối
với mọi người th́ thế, c̣n đối với tôi là cả một quá khứ sâu
thẳm hiện về. Hơn sáu chục năm trước, chắc chắn cái nhà chợ
cũng y hệt như bây giờ. Và gần cửa cái nhà chợ đó, bà ngoại
và mẹ tôi đă dựng một túp lều bán nước và vài cái bánh kẹo
cho người qua đường ngổi nghỉ chân uống bát nước chè tươi.
Tôi được nghe bà ngoại kể bao nhiêu lần là tôi quanh quẩn
suốt ngày với bà và mẹ ở cái quán cóc đó, và khách ghé hàng
ai cũng thích xoa đầu đứa bé lai Pháp tóc nâu nhạt…
Đó là thời gian gần hai năm từ tháng 3 năm 1945 khi cả gia
đ́nh phải từ giă Sài G̣n trở về quê. Lúc đó tôi mới được 14
tháng, chập chững chạy đi. Chính ở ngôi làng này, tôi đă bập
bẹ nhưng tiếng đầu tiên, và cũng v́ thế tôi vẫn c̣n giữ
giọng nói làng Hà Hồi, mặc dù tôi sinh ra trong Sài G̣n, mặc
dù sau này tôi sống rất lâu trong Nam.
Tôi mường tượng một thằng bé con níu áo mẹ trên đường từ nhà
ra quán, đi trên những con đường hôm nay tôi đang đi qua. Nó
có chạy nhảy chung quanh hàng quán không, hay là nhút nhát
ngồi nép vào bà vào mẹ? Nó có chơi với những đứa trẻ khác
không? Nó có bị bắt nạt v́ nó lai không? Không biết!
Không nhớ!
Vy và Hoài kéo tôi ra khỏi những mộng tưởng về quá khứ, đi
vào trong nhà chợ và ngồi xuống mấy cái ghế đẩu thấp trước
mặt một quán hàng quà. Ghế đẩu tôi nhớ ngày xưa bằng gỗ, bây
giờ toàn bằng nhựa. Gọi là quán, thật ra là một cái sạp bán
quà bánh th́ đúng hơn. Cô chủ hàng c̣n trẻ bặt thiệp mời
chào khách. Tôi đă nghe nhiều về cách đối xử đôi khi không
lịch sự của người bán hàng đối với khách hàng, nhưng có lẽ
số tôi hên, chưa gặp cảnh đó bao giờ.
Tôi ăn cái bánh chưng rán, rồi bánh trôi và bánh chay. Bên
Pháp hay bên Mỹ, bánh chưng ngày Tết rất ngon nếu biết chỗ
mua, và sau vài ngày cũng thưởng thức món bánh chưng rán,
trong Nam gọi là bánh chưng chiên. Nhưng cái bánh của cô
hàng này là bánh chưng nhỏ, dùng làm quà hằng ngày, không
phải loại bánh chưng ngày Tết là bánh to để bày cúng. Và
bánh chưng rán cũng chỉ là để nguyên cái bánh rán lên cho
nóng và có thể hơi vàng bên lớp nếp ở ngoài. Nhưng ăn vẫn
thấy ngon. Có lẽ v́ ăn trong chợ Vồi với bao nhiêu hồn
thiêng quanh quẩn đâu đây ?
Khi thấy bánh trôi và bánh chay th́ h́nh ảnh bà ngoại tôi
lại hiện về. Tôi c̣n nhớ rất rơ, hằng năm, bà ngoại chỉ làm
hai loại bánh này có một lần thôi, vào dịp một cái “Tết” ǵ
đó (iv). Bánh chay sau này vào Nam ăn chè xôi nước cũng
tương tự và cũng rất ngon tuy không giống hẳn, c̣n bánh trôi
th́ ít c̣n thấy, v́ chỉ là cục bột có nhân là cục đường thẻ
bỏ vào luộc khi chín nổi lên nên gọi là “trôi”. Tôi c̣n nhớ
bánh trôi bày trên đĩa như những viên bi to trắng xóa rất
đẹp, nhưng mà c̣n bé ăn phải coi chừng, dễ nghẹn lắm đó! Bà
ngoại dặn thế. Và không thể không nhắc đến bài thơ của Hồ
Xuân Hương “Thân em vừa trắng lại vừa tṛn…”
Trong suốt cuộc hành tŕnh với hai vợ chồng Hoài Vy, tới địa
phương nào chúng tôi cũng t́m ăn những món địa phương, nhưng
không phải trong những tiệm “đặc sản” dành cho du khách, dù
có thể rất ngon nhưng đó là cái ngon đă được chế biến để
theo tiêu chuẩn và sở thích của người tây phương và người
Việt sống lâu ngày bên trời tây. Ở Mũi Né ăn món lẩu dê quán
Tám Lộc “không có chi nhánh” như nêu rơ trên bảng hiệu. Ở
Cam Ranh ăn trong “Quán cơm Đồng Xoài” là một quán mà khách
phần đông là tài xế xe vận tải Sài G̣n Hà Nội, không có một
du khách nào cả. Tôi được ăn cơm với mực xào rau, tôm chiên
và canh chua cá hồng, chưa khi nào ngon như thế! Ngon không
phải v́ là cao lương mỹ vị, mà v́ mực tôm cá, cả rau đều rất
tươi, và nhà bếp rất khéo. Và rất rẻ! Ở Hội An tôi được ăn
tô cao lầu của một bà bán gánh ngoài lề đường, chỉ bán từ 2
giờ chiều đến 4 giờ là hết, đi về! Dĩ nhiên do người địa
phương mách bảo. Và cũng người địa phương mách quán ḿ Quảng
“cây da kèng” (hỏi kỹ lại mới biết là “cây đa cằn”, quán nằm
gần gốc một cây đa cổ thụ cằn cỗi, buổi tối chung quanh có
nhiều hàng quán). Ở Đà Nẵng ăn tô bún ḅ bà Đào có từ ngày
xửa ngày xưa. Ở Huế được ăn bánh khoái (v) đêm khuya ở gần
Thành Nội đường Mai Thúc Loan, ăn chè đậu ván và chè khoai
môn ở cửa Thượng Tứ.
Sau buổi quà trưa trong chợ Vồi, chúng tôi đi t́m quán
cà-phê. Không thể nào thiếu mục này được! Hoài là một tay
“cà-phê thuốc lá hạng nặng”, nên sáng nay trên quốc lộ trước
khi rẽ vào làng Hà Hồi, anh chàng đă nhắm một quán “cà-phê
vườn” ngay bên lề đường.
Từ nhiều năm rồi, sau khi có “đổi mới”, nhiều nhà ở các
thành phố có vườn rộng sửa sang lại làm “cà-phê vườn”, khách
đến uống cà-phê, ăn bánh ngọt, nghe nhạc nhẹ, dưới tàn lá
cây, một nơi lư tưởng để nghỉ ngơi hoặc tâm sự với bạn bè,
xa tiếng ồn ào của phố xá.
Quán bên quốc lộ 1 này không hẳn là một cà-phê vườn đúng
nghĩa, mà là một gian nhà lớn bằng tre trang hoàng giản dị,
rộng răi mát mẻ, nh́n ra mảnh vườn rộng đang được tu bổ lại.
Chúng tôi vào gọi cà phê, Hoài châm điếu thuốc lá. B́nh
thường như mọi khi thôi. Nhưng không ngờ, từ cái cảnh “như
mọi khi” ấy lại là đầu mối cho tôi thực hiện một việc mà tôi
hằng ấp ủ từ mấy chục năm qua…
________
(i) Nghĩa
trang Văn Điển thuộc huyện Thanh Tŕ (nổi tiếng từ ngày xưa
có bánh cuốn Thanh Tŕ, loại bánh cuốn rất mỏng, không có
nhân chỉ có chút mỡ hành và cũng không " cuốn ", người sành
điệu mới cảm thấy được cái ngon của bánh cuốn này) chính
thức đóng cửa năm 2010 để xây dựng lại thành một " công viên
nghĩa trang ".
(ii) Ca
khúc " Những ḍng sông chia rẽ " trong phần " Sông Mẹ " của
trường ca " Mẹ Việt Nam " của Phạm Duy, Phạm Ngọc Lân hát
với đàn ghi-ta :
http://www.youtube.com/watch?v=J_-ayr87GlM
(iii) Dân
Đà Lạt ai cũng gọi nhà thờ chính ṭa Đà Lạt là nhà thờ " con
gà " v́ trên đỉnh tháp chuông có con gà bằng kim loại dùng
làm đầu cột thu lôi. Tác giả sống thời gian dài tại đây khi
c̣n trẻ nên cũng nghĩ như nhiều người : con gà là một đặc
điểm của nhà thờ Đà Lạt nên người ta mới gọi là " nhà thờ
Con gà ". Khi qua Pháp mới thấy là tất cả làng mạc lớn nhỏ
đều có nhà thờ cổ xưa, và nhà thờ nào cũng có con gà ! Vậy
là bên Pháp có cả chục ngàn " nhà thờ con gà " là ít !
(iv) T́m
trên mạng Internet th́ thấy đó là " Tết Hàn Thực " (hàn thực
là thức ăn nguội) ngày 3 tháng 3 ta. Hồi nhỏ tôi chỉ được
biết Tết Đoan Ngọ ngày 5 tháng 5, được ăn bánh gio (bánh
tro) và rượu nếp để giết sâu bọ.
(v) Có mấy người quen, gốc Huế
lâu đời, cho biết " bánh khoái " nguyên ủy là " bánh khói "
v́ khi đổ bột vào khuôn, khói bay lên nghi ngút. Nhưng qua
cách phát âm của người Huế, " khói " nghe gần như " khoái "
nên " bánh khói " trở thành " bánh khoái "!
(1) Từ năm
2008, thành phố Hà Đông trở thành quận Hà Đông thuộc thủ đô
Hà Nội, nằm trong đề án " mở rộng thủ đô Hà Nội ". Huyện
Thường Tín cũng thuộc về Hà Nội từ đấy.
Hà Đông, ngoài áo lụa và " sư tử ", c̣n nổi tiếng v́ các
thay đổi hành chính chóng mặt ! Ngày xưa thị xă Hà Đông là
tỉnh lỵ tỉnh Hà Đông, đến năm 1965 trở thành tỉnh lỵ tỉnh Hà
Tây (khi hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây sáp nhập làm một), năm
1975 là tỉnh lỵ tỉnh Hà Sơn B́nh (do Hà Tây và Ḥa B́nh sáp
nhập). Đến 1991 Hà Sơn B́nh lại tách ra thành hai tỉnh Hà
Tây và Ḥa B́nh như cũ, thị xă Hà Đông vẫn là tỉnh lỵ Hà
Tây. Đến năm 2006, từ thị xă, Hà Đông " lên chức " thành
phố. Được có 2 năm, đang là " thành phố Hà Đông " bị tụt
xuống thành " quận Hà Đông ".
(2) Sông Gianh thuộc tỉnh
Quảng B́nh nổi tiếng trong lịch sử là ḍng sông chia cắt đất
nước trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, từ cuối thế kỷ 16
đến cuối thế kỷ 18. Phía bắc sông Gianh do quân Chúa Trịnh
án ngữ ở đèo Ngang trước cuộc Nam tiến kia là ranh giới giữa
nước Việt và Chiêm Thành. Phía nam do quân Chúa Nguyễn cố
thủ với lũy Thầy do Đào Duy Từ xây đắp.
Sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị chia cắt đất nước trong
hơn 20 năm ở vĩ tuyến 17. Sông đổ ra biển Đông ở cửa Tùng.
Phía bắc sông là huyện Vĩnh Linh, phía nam là Gio Linh, cây
cầu bắc qua sông là cầu Hiền Lương.
(3) Đại chủng viện Thánh Giuse
Hà Nội nằm ở phố Nhà Chung, gần nhà thờ lớn Hà Nội. Hoàn
thành trong những năm 30, Đại chủng viện bị đóng cửa thời
gian dài khi đất nước bị chia cắt. Gần đây được mở cửa trở
lại, và được chính thức tuyển sinh để đào tạo các linh mục.
Đây là một trong 8 đại chủng viện tại Việt Nam hiện nay
(2015) : Hà Nội, Bùi Chu, Nghệ An, Huế, Nha Trang, Sài G̣n,
Xuân Lộc, Cần Thơ.
trang phạm ngọc lân
art2all.net
|