|
Đặng Tiến BÙI GIÁNG NGUỒN XUÂN
Ta về rũ áo đười ươi Trút tờ phong nhă cho người phụ nhau (Ta về,-Thơ Bùi Giáng)
Hôm mùng ba mùng bốn theo nhau đẩy lùi
mồng một mồng hai của hôm nay Nguyên Đán
Câu thơ văn xuôi này của Bùi Giáng mang hai
đặc tính: một là ư nghĩa nói về ngày Tết và mùa Xuân, hai là
chữ nghĩa đi ngược chiều thời gian. Dĩ nhiên là mồng ba đẩy
lùi mồng hai; mồng hai đẩy lùi mồng một. Như vậy hôm nay
Nguyên Đán nằm ở vị trí nào trên chuỗi tháng ngày? Nói khác
đi, Bùi Giáng đứng từ thời điểm nào ở đầu tháng giêng để
phát ngôn? Lời thơ theo trật tự số mục, và lối đếm thông thường: mùng một, mùng hai... mùng ba, mùng bốn... Nhưng theo ư nghĩa câu thơ, th́ phải nói ngược lại: mùng bốn mùng ba (sẽ) theo nhau đẩy lùi mồng hai mồng một. Như vậy, nhà thơ phát ngôn từ ngày hôm nay Nguyên Đán, như Nguyễn Bính năm 1940:
Năm mới tháng giêng mồng một Tết C̣n nguyên vẹn cả một trời Xuân
Nhưng nếu hiểu (đă) theo nhau,
th́ tác giả lên tiếng vào ngày mồng Năm. Và trong cả hai giả
thuyết, trật tự chữ nghĩa trong câu thơ Bùi Giáng vẫn không
thuận chiều. Rối rắm như vậy để nói lên một điều cơ bản: thơ Bùi Giáng là một ''ḍng nước ngược'', một tâm thức đi ngược chiều thời gian, trong một Sử Lịch, ngược ḍng Lịch Sử.
Trong hàng vạn trang sách để lại, Bùi Giáng thường dùng từ Sử Lịch. Chỉ một lần dùng chữ Lịch sử để chối bỏ:
Sử Lịch phai trang Chạy quàng Là Lịch Sử (Lá Hoa Cồn, tr. 55)
Xuân trong thơ Bùi Giáng là xuân không mùa, xuân duy nhất và tuyệt đối, mà ông gọi là Nguyên Xuân (Lá Hoa Cồn, tr. 26), là khởi thủy của nguồn sống, nguồn thơ, quê của Em Mọi, của Đười Ươi, đồng thời là đối tượng, là cứu cánh của sáng tạo, của Lời Cố Quận, Tiếng Gọi Về:
Thưa rằng ly biệt mai sau Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân
(Mưa Nguồn, tr. 25) Tác phẩm, và cuộc đời Bùi Giáng là niềm thủy chung trước sau như một với một Màu Hoa Trên Ngàn: ông khởi đi từ đây và trở về lại đấy. Xuân là nguồn mạch thơ tuôn tuôn từ miền xa biệt:
Lỡ từ lạc bước chân ra Chết tự sơ ngộ màu hoa trên ngàn
Mưa Nguồn thi phẩm đầu tay và đều tay nhất của Bùi Giáng được in năm 1962, gồm có nhiều bài làm từ 1948. Lời thơ trong sáng, tươi thắm và tha thiết, vào tập bằng hai câu mào đầu: Xin chào nhau giữa con đường Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau
là câu thơ nổi tiếng sớm nhất
của Bùi Giáng, v́ nó có thể được sử dụng ở nhiều tần số khác
nhau: buồn hay vui, u hoài hay đùa cợt, ví dụ khi bè bạn gặp
nhau ngoài phố, lặp lại câu thơ: xin chào nhau giữa con
đường, dù không hiểu miên trường là ǵ. Có thể là thơ của tuổi xanh, nên tập Mưa Nguồn đă khởi đi từ nhiều h́nh ảnh thắm tươi, điệu thơ ánh ỏi: Những nhành mai sớm sương bên lá Những nhành liễu chiều gió bên cây Cũng lay lất bởi đời xuân em ạ Thế nên chi anh cũng viết ḍng này
(Những Nhành Mai, Mưa Nguồn,
tr. 10) Lời thơ tham dự với đất trời vào niềm hoan lạc của mùa xuân. Thể thơ cổ điển, nhưng tác giả đă trộn lẫn thơ bảy và tám chữ, với âm điệu lạ ở câu hai. Nhưng đặc sắc trong thơ Bùi Giáng, thời ấy là những h́nh ảnh tân kỳ, trong thể thơ truyền thống:
Tay lẩy bẩy níu ǵ xuân bay biến Ô thiều quang! Làn nước cũ trôi mau Em đi lên vói bắt mấy hương màu Miền đất Thượng có mấy bờ hoa mọc Xa biệt lắm Mưa Nguồn trên mái tóc Đă mấy lần thổi lạc lệ lưa thưa (Giă từ Đà Lạt,1958, Mưa Nguồn, tr. 94)
Lời thơ diễn tả niềm hoang mang trước thời gian, ư tưởng không mới, nhưng lối kết hợp ẩn dụ th́ mới, so với lối thơ tám chữ trước đó.
Ở Xuân Diệu, Huy Cận niềm ám ảnh của phôi pha không gây bất ngờ như với Ôi thiều quang! làn nước cũ trôi mau…
Trần gian phôi pha, thời gian hủy diệt, nhưng nhà thơ chấp nhận quy luật, nên đă gh́ siết hai tay, Nàng Thơ đẹp của trần gian ứa lệ:
Tôi đă nguyện yêu trần gian nguyên vẹn Hết tâm hồn và hết cả da xương
(…) C̣n một đêm c̣n thở dưới trăng sao Th́ cành mộng c̣n tung lên không ngại Níu trời xanh tay vói kiểng chân cao Nhưng em hỡi trần gian ôi ta biết Sẽ rồi ra vĩnh biệt với ngươi thôi Ta chết lặng bó tay đầu lắc Đài xiêu ôi xuân sắp rụng mất rồi (Phụng Hiến, Mưa Nguồn, tr. 30)
Những bài thơ tin yêu cuộc sống, tươi sáng và thắm thiết như vậy ít khi thấy ở những tập thơ sau, mà cũng ít người nhắc đến. Âu cũng là một thiệt tḥi cho ông. Chúng tôi trích dẫn một bài thơ xuân thắm tươi, có lẽ làm vào mùa xuân 1973, toàn văn:
Chạy đi em, nắng gió bốn chân trời Về chân đất dưới chân em mọc cỏ Nắng Nguyên Đán lục lam hay hồng đỏ Tía vi vu hồng lục cũng bao hàm Chạy đi em! sương gió nắng thênh thang Trời đất đẹp từ b́nh minh vũ trụ Nắng Nguyên Đán của nguyên xuân đầy đủ Cỏ hoa hương chồi nhú lộc miên man Nắng xuân xanh mở cỏ mọc hai hàng Và riêng mở duy Một Hàng Ẩn Mật Nắng phơ phất v́ sắc hương phơ phất Dưới khung trời mặt đất mở thênh thang Chạy đi em, gót ngọc bỏ hai hàng. (Bài Ca Quần Đảo, tr. 54) Phong cách nhắc lại một bài thơ trước: Chạy đi em, qua vườn thắm theo ngày Cùng với phút giây này phơi mở lá Em ngó nhé cành xanh cây giục giă Hoa nghiêng đầu ríu rít cạnh chim kêu … (Mưa Nguồn, tr. 96)
Nhưng nhịp thơ nhanh, âm điệu
khỏe, h́nh ảnh rộn ràng hơn, một điệu thơ hiếm có ở Bùi
Giáng, nhưng vẫn lấy lại chủ đề nguyên xuân, và giọng lẳng
lơ cố hữu, cỏ mọc hai hàng, đi đến ngôn ngữ Ẩn Mật về sau.
Tóm lại, một bài thơ không Bùi Giáng mà vẫn Bùi Giáng. Trở lại với giai đoạn Mưa Nguồn, chàng thanh niên Bùi Giáng c̣n giữ niềm tin ở mùa xuân, ở trần thế trong thời gian, ở Màu Xuân: Ngàn xuân rộng vô ngần trong bóng nguyệt, hay trong bài Bờ Xuân tiếp theo: Mùa xuân bữa trước mùa xuân bữa sau, xuân bốn bên trong hiện tại vây hăm tấn công đời hạnh phúc lạnh như băng không làm sao nhúc nhích. (Mưa Nguồn, tr. 38-39)
Thơ là hạnh phúc của ngôn
từ như trong Một Ngày Lễ Hội, tên một bài thơ Holderlin được
Heidegger b́nh minh. Hạnh phúc trong lời nói, của lời nói,
dù nói để chẳng nói ǵ: thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia.
Câu thơ không mang lại một thông tin nào cả. Xưa kia làm ǵ?
Bờ nước ấy: ấy nào? Nào ai biết. Chỉ biết là không gian và
thời gian hạnh phúc. Hạnh phúc không cần nội dung. Hạnh phúc
không cần lư do, không cần tự thức.
Nhà thơ không cho biết đă có lần làm ǵ, nhớ ǵ và quên ǵ, nhưng chúng ta cảm rằng xưa kia ấy là hạnh phúc, ngay trong nhịp thơ tần ngần, ngập ngừng, lơ đăng. Hồ Dzếnh rất được Bùi Giáng yêu thích, đă thật thà hơn:
Chúng ta đối chiếu, sẽ thấy sự khác biệt giữa hai tác giả, và đặc sắc của thơ Bùi Giáng mà chúng tôi gọi là hạnh phúc của ngôn ngữ:
Hạnh phúc ấy là Xuân Trần Gian, ăm ắp trong thơ Bùi Giáng,
thời điểm mưa nguồn trên mái tóc. Cùng với tinh thần đó,
trước khi mất, ông đặt cái tên Thơ Vô Tận Vui cho một tập di
cảo sắp sửa được xuất bản.
Tuy nhiên, niềm vui vô tận ở đây chỉ là một minh triết về
cuộc sống. Từ đó không thể nói đời và thơ Bùi Giáng lúc nào
cũng vui, dù theo lẽ buồn vui tương đối của sự đời. Vui ở
đây hiểu theo nghĩa hiền triết Đông Phương, như cá vui, bướm
vui trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Nh́n dưới góc độ tư
tưởng hiện sinh của Phương Tây, th́ ngược lại, có thể nói
đến “bi kịch”. Từ 1948, Bùi Giáng có câu thơ sấm kư: Ngày Xuân xanh sơ ngộ để thiên thâu (Mưa Nguồn, tr. 57). Câu thơ quan trọng, mang mâu thuẫn, có tính cách biện chứng, giữa thiên thu và sơ ngộ. Một mặt, nó nằm trong mạch Vũ Trụ Ca của Huy Cận:
Mặt khác, nó báo hiệu cho chủ đề ''chết từ sơ ngộ'', và Màu Hoa trên Ngàn sơ khai đă là Màu Hoa Cuối Cùng:
Bùi Giáng, rất sớm, đă linh cảm rằng ḿnh suốt đời đứng nguyên ở một tọa độ, xác định bởi một không gian Cố Quận và một thời điểm Nguyên Xuân:
Có một mùa xuân nào, tuần hoàn trong trời đất, cùng với niềm vui nào đó. Nhưng có một hạnh phúc khác, màu xuân khác không bao giờ trở lại với nhân gian:
Rồi suốt đời, khi sáng suốt, khi cuồng điên, qua hằng vạn trang sách, người thơ chỉ làm hoài làm hủy một bài thơ, vẽ cho ḿnh một chân dung duy nhất, như viết hoài một màu cỏ cho xuân.
Năm mười sáu tuổi đă xảy ra biến cố ǵ trong đời tác giả làm ch́m tắt mùa xuân? Chúng ta không biết, chỉ biết là ông làm thơ từ tuổi ấy, khoảng 1942, tại Huế, theo lời ông kể ở đầu sách Lời Cố Quận.
Hai câu thơ đơn giản. Ngớ ngẩn mà thâm sâu. Vớ vẩn mà thần sầu. Thâm sâu ở chỗ: lời nói tự hủy, tự lời bôi xóa lời. Câu thơ có nghĩa là: tôi vô nghĩa.
Thần sầu ở chỗ: không mấy ai thấy cái chốn thâm sâu.
Thơ Việt Nam nhiều câu hay. Nhưng hay kiểu Bùi Giáng, xưa
nay có một.
*
Mưa Nguồn, tên sách là một từ ngữ, h́nh ảnh thông thường,
như trong thành ngữ dân gian, chớp bể mưa nguồn.
Những trận mưa rừng núi là hiện tượng thiên nhiên quen
thuộc, có lẽ Bùi Giáng đă nhiều lần chứng kiến cụ thể thời
trai trẻ, khi chăn dê miền Trung du Trung Phước, khoảng
1946. Đây là những trận mưa giông lớn, ào ạt đổ xuống rất
nhanh, nhất là vào mùa hè, gây ấn tượng mạnh. Mưa Nguồn có
thể hiểu theo nghĩa đen.
Lại thêm nghĩa bóng: mưa móc, ân sủng dội xuống nơi cội
nguồn cuộc sống, ào tuôn, ''giáng'' xuống một lần rồi thôi,
nhưng cũng có thể trở lại, trong lẽ tuần hoàn, như lời chờ
mong của Tản Đà: Nước đi ra bể lại mưa về nguồn, trong Thề
Non Nước. Cần hiểu thêm, chữ nguồn, ở quê Bùi Giáng, c̣n có nghĩa đời sống của dân tộc thiểu số ở miền trung du Trung Bộ, mà Bùi Giáng thường xuyên tiếp xúc. Họ thuộc nhiều chủng tộc, chủ yếu là người Gié Triêng và Ca Tu, mà cuộc đời hoang dă đă tạo ra và lưu lại nhiều ấn tượng sâu xa trong tâm thức Bùi Giáng. Cuộc trao đổi hàng hóa giữa hai miền xuôi ngược – ngày nay gọi là Kinh Thượng – đă để lại câu ca dao:
Nậu nguồn là những thương nhân chuyên môn buôn bán với Mạn Ngược. Và ở đây có thể phát âm hai vần ngùn/chùn theo giọng Quảng Nam của Bùi Giáng, cũng như Mưa Ngùn. Như vậy mới kết vần được hai câu ca dao địa phương khác, mà Tế Hanh hay Sơn Nam ưa tham chiếu:
Thơ Bùi Giáng, có khi cần phải phát âm theo giọng tác giả, mới thú vị:
Suối ở đây là Nguồn Xuân Tinh Thể. Nhưng nói vậy là
nói lắp, v́ Xuân đă là Nguồn, và Suối đă là Xuân. Tiếng Anh
rất hàm súc khi dùng một từ Spring để chỉ Xuân và Nguồn.
Trong thơ Bùi Giáng, Xuân đồng nghĩa với Nguồn, như trong
tiếng Anh. Nó là cơi uyên nguyên có trước Trời Đất, là ''cái
cửa khe huyền diệu'' - ''huyền tẫn chi môn'' theo lời Lăo
Tử. Chữ ''tẫn'' Ngô Tất Tố diễn dịch là khe, mà có người
''cắt nghĩa là giống cái, tức là mẹ đẻ của muôn vật. Đó cũng
là một nghĩa''. [1] Có lẽ, từ đó h́nh ảnh khe, kết hợp với người Nữ, thường xuất hiện nơi thơ Bùi Giáng. Chữ môn nghĩa là cửa (nhân tạo), linh mục Ḍng Tên, Claude Larre dịch là Porte (des secrètes merveilles) [2] có lẽ, về sau đă gợi ư cho Bùi Giáng làm đoạn thơ nổi tiếng bắt đầu với hai chữ ngơ là cửa:
Niềm vui, nghĩa sống con người đă xô cửa bước ra từ cơi ban sơ ấy, và ngân dài, âm vọng qua lời thơ của người tài tử. Nhưng về sau lại lỡ từ lạc bước bước ra… và tác giả, hay độc giả có thể tùy nghi ráp nối nhiều câu lục bát khác vào đoạn trên, như Tuệ Sĩ đă gợi ư trong một bài báo rất uyên bác, trên báo Văn 1973:
Vân vân... Như đă nói: toàn bộ tác phẩm Bùi Giáng có
thể xem như là một bài thơ duy nhất, một nét chữ lên đàng
quẩn quanh. Và người đọc lư thú, v́ cảm giác tham dự vào
cuộc chơi, thậm chí là đồng tác. Người đời thường trích dẫn mấy câu thơ hay, bề ngoài đơn giản, nhưng kỳ thật là phức tạp:
Hai câu đầu là một h́nh ảnh từ chương. Câu sau đă khó
hiểu hơn: một, hai, ba nghĩa là ǵ? Hoặc ta cho là thơ cà
chớn, không cần t́m hiểu; hoặc ta t́m hiểu và tham chiếu vào
Đạo Đức Kinh, lời Lăo Tử: ''Đạo sinh ra một, một sinh ra hai,
hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật''; ư thức con người đong
đưa giữa cái nghi và cái diệu: không nghi th́ không có diệu,
không nhờ cái diệu th́ không giải tỏa được cái nghi. Đo và
Đếm là hai thao tác của Tâm và Tưởng để tiếp xúc và nhận
thức ngoại giới: đo cái liên tục và đếm cái gián đoạn. Nhưng
c̣n là, là ǵ? Là môi giới qua Lời Nói. Nhưng Lời Nói là ǵ?
Chúng ta trở về vị trí đong đưa sóng biển giữa Diệu và Nghi.
Hiểu thơ Bùi Giáng không phải lúc nào cũng đơn giản. Mà
không hiểu, chưa chắc đă đơn giản. Bàn về một chữ Xuân mà phải dàn xa dặm dài, như vậy phải biết ngừng lời, v́:
*
Tháng 5/1969, Bùi Giáng vào dưỡng trí viện Biên Ḥa v́ bệnh
đă từ ''cuồng nhẹ chuyển sang cuồng nặng'', các bác sĩ trong
viện đă hỏi ông về h́nh ảnh cô Em Mọi Nhỏ thường thấy trong
thơ, và họ kể lại:
''Trong thời trai trẻ, đi kháng chiến, một chiều nọ, mệt,
đói, anh đang lê từ bước một với chiếc ba lô khá nặng sau
lưng, th́ vừa quẹo một bước đường ṃn, anh chợt thấy một
thiếu nữ thiểu số đang giặt áo bên bờ suối, anh vừa dừng
chân th́ ''bông hoa rừng'' nó cũng vừa ngừng tay giặt, mỉm
cười với anh, và niềm nở hỏi chào anh. Anh tưởng chừng ḿnh
đang lạc vào suối Đào Nguyên, và h́nh ảnh này vẫn không phai
trong tâm khảm'' [3].
Câu chuyện, nếu quả có xảy ra thực cũng nên xem như một giai
thoại và một biểu tượng. Người Em Mọi Nhỏ xuất hiện thường
xuyên trong đời thơ Bùi Giáng, suốt một nửa thế kỷ khói lửa
và biển dâu, không dễ ǵ giải thích được bằng một nụ cười
sơn cước. Cuộc đời, đời ai và đời ǵ, cũng không đơn giản
như vậy và đời Bùi Giáng lại có phần phức tạp hơn b́nh
thường.
Gái Núi, hay Em Mọi Nhỏ, c̣n có tên Duồng mô Din, là một ẩn
dụ hữu cơ trong thơ Bùi Giáng, và có khả năng cấu trúc thi
hứng như một h́nh ảnh Đầu Nguồn, một sử lịch sơ khai, một
Suối Xuân diễm tuyệt như đoạn trên đă nói. Gái Núi là một khai thị, khai tâm, khai tứ, khai từ:
Mở mắt để tiếp thu mùa Xuân Tinh Thể
Em Mọi là quần thể, lập thành xă hội sơ khai một ảo ảnh mà nhà thơ đă tiếp thị thời hoa niên, và dần dà ngày một ngày hai đă cấu trúc thành một triết lư uyên nguyên, cấu trúc nguồn thơ và tiềm năng sáng tạo:
Mọi chị mọi em, vị chi là nhiều em mọi.
Kết hợp với mấy mùa xuân,
thời thơ dại, h́nh ảnh Em Mọi ở đây, cũng như ba người con
gái chiêm bao ở bờ cỏ Phi Châu ở nơi khác, không phải là
hoang tưởng t́nh ái nam nữ song phương, kiểu Kinh Thượng
giao duyên, như trong những bài hát Bông Hoa Rừng, hay Nụ
Cười Sơn Cước.
Người Gái Thiên Nhiên ở Đinh Hùng là một giấc mơ hiện đại,
với bộ ngực tṛn trên tấm thân mỹ nữ như trong những tiết
mục tŕnh diễn thi hoa hậu ở Âu Tây.
Nàng bâng khuâng đốt lửa những đêm dài là hoang tưởng lăng
mạn từ Chateaubriand hồi đầu thế kỷ 19 c̣n ngân dài qua văn
học, đến Đinh Hùng và nhiều tác gia khác.
Nhưng Bùi Giáng đă gặp thơ Đinh Hùng, và thân thiết với cá
nhân Đinh Hùng. Bùi Giáng viết nhiều bài khảo luận về các
nhà thơ đương thời và quen biết với ḿnh, nhưng dường như
chỉ tha thiết với thi phẩm của hai người, là Tuệ Sĩ và Đinh
Hùng:
Tuy nhiên giữa cuộc gặp gỡ đó, có điều khác nhau: Nguyên
Thủy trong thơ Đinh Hùng chỉ làm đề tài thi ca, cùng lắm là
một ẩn ước. Ở Bùi Giáng là khối ẩn ức, hiểu theo nghĩa đẹp
mà Bùi Giáng gọi là Mnemosyne, niềm nhớ nhung sâu kín, nỗi u
hoài thao thiết, nguồn thi hứng chủ đạo.
Những nét diễm t́nh này, không thấy ở Bùi Giáng, cho dù về sau, Bùi Giáng cũng có vài lời thơ mang âm hao Đinh Hùng:
Rừng xanh, rừng thiêng, lâm tuyền ở đây không hẹn ḥ kỳ ngộ
như ở Đinh Hùng, mà là nỗi tổn thương không cứu văn.
Ở đây, một năm chỉ c̣n lại ba mùa, v́ rừng đă thiêu rụi mùa xuân:
Trong chủ đề Người em Mọi, đời sống sơ nguyên, Mê Hồn Ca của Đinh Hùng không mang lại ảnh hưởng ǵ cho nguồn thơ Bùi Giáng lúc đó đă định h́nh, vững chắc, nhưng có lẽ đă vun đắp thêm vào niềm tự tin trong thi hứng của Bùi Giáng. Trường hợp tư tưởng phương Tây, như của Heidegger, có lẽ cũng tác dụng như vậy, khi Bùi Giáng tiếp cận Heidegger. Triết gia Đức này b́nh luận thơ Holderlin, đề cập đến nguồn gốc vũ trụ, thời Hỗn Mang (Chaos) và Định Danh (Nomos) và tính hoang dă thần thánh (sainte sauvageté) đâm chồi nảy lộc, những hoang dă linh thiêng (sauvagetés sacrées), hoang dă vụng về trong thi tập Les Titans [4]. Và có lúc, Bùi Giáng đă đẩy niềm u hoài tiền sử của ḿnh lên xa hơn nữa trong thời gian, qua h́nh ảnh Đười Ươi – người chưa thành người:
Đi vào cảnh giới si mê
Bùi Giáng có bài thơ tổng kết đời ḿnh:
Hai chữ Đười Ươi ở đây sao mà bùi ngùi, thê thiết! Đười Ươi Thi Sĩ, nhiều lần Bùi Giáng tự xưng như thế, để bày tỏ niềm hoài vọng t́m lại thiên tính của con người, khi chưa lập thành xă hội, trong cơi trời đất Sơ Nguyên. Thuở Uyên Nguyên ấy, là mùa Xuân của Đất Trời, mùa Xuân của Con Người. Nói chuyện Mùa Xuân trong thơ Bùi Giáng mà chưa lên tận Ngọn Nguồn để diện kiến Đười Ươi, th́ chưa vui.
Viết đến đây, chợt về đôi
kỷ niệm, chung quanh ngày Tết và mùa Xuân, hiểu theo nghĩa
thông thường, không ẩn ư hay biểu tượng, triết lư ǵ. Ba
ngày Tết, ba tháng Xuân, và h́nh ảnh Tuổi Xuân, như một cành
hoa mai, nở một lần trong thơ Bùi Giáng:
Tiếp theo là một h́nh ảnh khác của ngày Tết Nguyên Đán: Bài thơ hé mở một góc độ khác trong tâm hồn Bùi Giáng: khía cạnh xă hội, nhân đạo trong thơ ông, xuất hiện ngay ở tập thơ đầu, nhưng càng ngày càng rơ nét về sau. Nhất là từ khoảng 1970, trong đời sống lang thang bên hè phố, ông chung đụng với nhiều lớp người cùng khổ, chủ yếu là trẻ em nghèo khó và côi cút, mà ông rất mực yêu thương, chia sẻ từng miếng cơm manh áo. Đây là thời gian ông ư thức rơ t́nh người trong cơ khổ:
Trong cảnh dân tộc điêu linh và xă hội lầm than, th́ những
phong tục h́nh thức ngày xuân trở thành vô nghĩa:
Trong chừng mực nào đó – xin nói rơ: trong chừng mực nào đó
– Bùi Giáng thuộc về thế hệ thanh niên không có mùa xuân, mà
Tạ Kư (1928-1979), một nhà thơ xuưt xoát đồng tuế và đồng
hương với Bùi Giáng, gọi làThế Hệ Bốn Lăm:
|