Đặng Tiến
THI GIỚI ĐINH HÙNG
ĐINH HÙNG sinh ngày 3 tháng 7 năm 1920 tại làng Trung Phụng,
ngoại vi thành Hà Nội (chánh quán làng Phượng Dực, tỉnh Hà
Đông), Bắc Việt.
Thuở nhỏ, học trường Sinh Từ. Đậu tú tài khi học xong trường
Bưởi, Hà Nội.
Tham gia sinh hoạt văn nghệ từ rất sớm, từ trước 1945, nhưng
chỉ chính thức sống bằng nghề văn báo ít lâu trước khi di cư
vô Nam (1952-54). Tại Sài G̣n, ông viết truyện dài dă sử (kư
Hoài Điệp, Thứ Lang), làm thơ trào phúng (kư Thần Đăng), vẽ
tranh, soạn kịch thơ và phụ trách mục thi ca Tao Đàn trên
các luồng sóng phát thanh. Năm 1962, ông được trao tặng giải
thưởng Văn chương Toàn quốc (về Thơ).
Ông từ trần ngày 24 tháng 8 năm 1967 tại Bệnh viện B́nh-dân
Sài G̣n, sau một cơn đau ung thư bao tử, để lại một vợ ba
con cùng một sự nghiệp c̣n dang dở.
Tác phẩm đă ấn hành: Mê hồn ca (thơ, Tiếng Đông
phương, Hà Nội, 1954); Đường vào t́nh sử (thơ, Nam
Chi Tùng thư, Sài G̣n, 1961); Ngày đó có em (thuật kư,
Giao điểm, 1967), Đốt ḷ hương cũ (hồi kư, Lửa Thiêng,
1971) cùng vài cuốn truyện dài dă sử do Nguyễn Đ́nh Vượng
xuất bản khoảng 1959-60.
Đinh Hùng tạo được cho riêng ông một thi giới rất lạ, tựa
như một con suối chảy từ trữ t́nh đến tượng trưng sang siêu
thực, mang theo ḍng những h́nh ảnh giàu có, một ngôn ngữ cá
biệt và một tâm hồn lạ lùng của miền núi rừng hoang vu, bí
ẩn, nguyên sơ…
*
Những cánh thủy tiên nở muộn sau một cơn mưa, dọc con đường
quanh chưa kịp ráo mùi cỏ dại. Tôi muốn dừng lại bên cạnh
một cành hoa nhỏ - loài hoa nở muộn lạc loài. Thơ Đinh Hùng.
Từ lâu, tôi có vài ư, muốn viết về ông; tôi từng hỏi ư đó
với các anh em; gần đây anh Trần Phong Giao có thư cho tôi
bảo: Đinh Hùng bị ung thư dạ dày, chắc chết. Cậu có ư ǵ th́
nên viết ngay cho anh được đọc trước khi nhắm mắt. Tôi lần
lữa măi cho đến khi tôi bắt đầu viết th́ được tin Đinh Hùng
mất. Tôi rất ân hận. Tôi không dám nghĩ là ḿnh có lỗi với
người đă khuất v́ tôi chưa được quen biết với Đinh Hùng, và
nghĩ như thế là một lối tự măn mà tôi tự xét không xứng đáng,
nhưng ít nhất tôi cũng có lỗi với các anh em, nhất là anh
Trần, người đă nhắc nhở tôi không phải một lần, mà nhiều lần.
Tôi đọc lại Mê Hồn Ca và Đường Vào T́nh Sử với
rất nhiều ân hận. Đinh Hùng là một trong vài nhà thơ lớn
nhất của nền thi ca Việt Nam hiện đại, và trước khi ĺa đời
không được đọc một tác phẩm phê b́nh nào cho đàng hoàng
dành cho thơ ḿnh, cho cuộc đời ḿnh dành trọn cho Thơ.
Trong lịch sử văn học thế giới, một người viết tiểu thuyết
hay kịch, có thể tự xác định vị trí, nhưng một nhà thơ khó
mà quan niệm được chỗ đứng nếu không có môi giới của ngành
lư luận văn nghệ. Cái buồn của Đinh Hùng âu cũng là chung
cho các thi sĩ Việt Nam, chỉ khác ở chỗ là Đinh Hùng đă mất
sớm.
Đinh Hùng làm thơ và nổi tiếng từ thời tiền chiến; thời đó,
thơ ông đă đạt tới một vóc dáng đặc biệt, chứng tỏ khả năng
sáng tạo độc đáo, dựng được một thế giới thi ca mới mẻ, khác
biệt với ḍng thơ t́nh tự lăng mạn đă cạn nguồn. Trong những
tài liệu hiếm hoi c̣n giữ được trên bước đường lưu lạc, tôi
đọc thấy “Bài ca man rợ” đang trên giai phẩm Đời Nay
năm 1943, sau này xuất bản trong Mê Hồn Ca (1954),
“Liên tưởng” đăng trong Thơ Văn Mùa Xuân của Đại La,
năm 1943, măi đến 1961 mới gặp trong Đường Vào T́nh Sử
- những năm hồi cư, về soạn thi Tiểu học, tôi c̣n nhớ đă
đọc thơ Đinh Hùng đăng rải rác trên các tuần báo Hồ Gươm,
Giang Sơn… xuất bản tại Hà Nội vào khoảng 52-53; tôi
thuộc những câu Khi miếu đường kia phá bỏ rồi và
Ôi những người em đi viễn phương từ thời đó. Mười năm
sau khi cho ra mắt độc giả những bài thơ hay nhất của thi
nghiệp, Đinh Hùng vẫn là một hành tinh lẻ loi. Tập Mê Hồn
Ca xuất bản mấy tháng trước Hiệp định Gienève ít người
đọc, ít người c̣n giữ. Sau khi di cư nhờ giữ mục Tao Đàn,
Đinh Hùng được nhiều người biết hơn, nhưng vẫn gây cảm giác
như là đi bên lề sinh hoạt văn nghệ của miền Nam.
Những bài thơ cuối cùng, Đinh Hùng vẫn c̣n giữ mực thước
những tác phẩm đầu tiên, h́nh thức thơ cũ. Bạn đọc trẻ cho
là xưa quá; người đọc đứng tuổi cho rằng không truyền cảm
bằng thơ Xuân Diệu, Huy Cận. Sự thật không đúng như vậy; so
với các nhà thơ tiền chiến, nghệ thuật cấu tứ và tạo h́nh
của Đinh Hùng vượt rất xa, đă dựng được một thế giới thi ca
thuần nhất, song song với thực tế trong khi những Xuân Diệu,
Huy Cận chỉ mới tô điểm thực tế bằng văn vần. So với các nhà
thơ tự do c̣n đang ḍ dẫm, thơ Đinh Hùng là một hư cấu đă
trưởng thành, một năng lực sáng tạo đă vượt khỏi thực tại.
Tôi e rằng một số đông người yêu và không yêu thơ Đinh Hùng,
cũng đều v́ những ngộ nhận. Hai mươi năm sau khi đăng thơ
trên báo của nhóm Tự Lực, Đinh Hùng kư tên trên tạp chí
Sáng Tạo: một chi tiết này cũng đủ gợi giá trị hằng cửu
của thơ Đinh Hùng, giá trị mà chúng ta sẽ t́m hiểu.
Muốn đi vào thi giới của Mê Hồn ca và Đường Vào
T́nh Sử, trước hết, phải tách rời nó ra khỏi thực tại.
Tách rời hẳn ra. V́ thi giới đó, không phải là một phản ánh
thơ mộng của thực tại như ta lầm tưởng. Thi giới đó là một
hư cấu, hoàn toàn độc lập với thực tại, nếu có tương quan
th́ tương quan đó chỉ là tác giả và người đọc, những nhân sự
khởi đi từ trần lụy để t́m đến một vũ trụ khác.
Hai chủ đề chính trong thơ Đinh Hùng là thiên nhiên và t́nh
yêu, cần đặt lại trong một thế giới hư ảo. Cần nhớ Đinh Hùng
– cũng như bất cứ một thi sĩ lớn nào – sáng tạo thế giới chứ
không tái tạo. Dĩ nhiên là phải sáng tạo từ những vật liệu
sẵn có - những yếu tố của thực tại, ở đây vật liệu chỉ thuần
là ngôn ngữ. Những từ ngữ cũ kiến trúc một thế giới mới, tôi
gọi Đinh Hùng là thi sĩ với tất cả ư nghĩa của danh từ.
Đặc tính của thế giới Đinh Hùng là một thành tố đều, được
hoà giải; khí hậu t́nh tự giải toả những mâu thuẫn biện
chứng, không c̣n sự khác biệt giữa người-nh́n-vũ-trụ và
vũ-trụ-được-nh́n, giữa tâm giới và ngoại giới, giữa bản ngă
và vô ngă, giữa thực thể và vô thể, giữa tôi và tha nhân,
giữa t́nh yêu và t́nh nhân; trong thế giới đó, tôi là rừng
núi, rừng núi là t́nh yêu, t́nh yêu là Em, Em là mùa Thu,
mùa Thu là cơn mưa, cơn mưa là một ḍng chữ, ḍng chữ là tôi.
Chữ tôi đă bao hàm cái không phải tôi, nhưng chủ thể không
mâu thuẫn với khách thể v́ tất cả chưa đạt tới những h́nh
thể đủ cứng rắn để va chạm. Trong hư cấu của Đinh Hùng, sự
vật là những nhu h́nh tương giao với nhau, thu hút vào nhau
trong từ trường ngôn ngữ. Một hư cấu nằm ngoài vận chuyển
biện chứng.
Chúng ta có thể chọn bất cứ đoạn thơ nào của Đinh Hùng cũng
nhận diện được thi giới đó. Ví dụ những câu thơ đầu của
Đường Vào T́nh Sử
Trên đường ta đi.
Những đoá hoa nở mặt trời xích đạo
Những làn hương mang giông tố b́nh sa
Những sắc cầu vồng nghiêng cánh chim sa
Và dĩ văng ngủ trong hồ cẩm thạch
Của đôi mắt sáng màu trăng mặc khách
Thời gian qua trên một nét mi dài
Núi mùa thu buồn gợn sóng hai vai
Ḍng sông lạ trôi sâu vào tâm sự.
Mặt trời nở trong một đoá hoa, giông tố nép ḿnh theo một
làn hương nhẹ, vũ trụ đổi toạ độ, chuyển ḿnh theo một thái
dương hệ mới, theo đó, mọi sự vật luân hoán thành một trật
tự mới, trở thành b́nh đẳng và hỗ tương liên hệ. Trong thực
tại, giữa mặt trời và hoa chỉ có tương quan một chiều, mặt
trời di chuyển trên thế chủ động, hoa nở trên một vùng thuộc
địa, trong hư cấu của thơ Đinh Hùng, tương quan chạy hai
chiều, b́nh đẳng và thân ái. Hoa nở theo mặt trời; nhưng
đồng thời tạo ư nghĩa cho mặt trời; không có hoa, không có
sinh vật, th́ mặt trời chỉ là một thực thể vô nghĩa, v́
không có tương quan; từ đó, ta hiểu mặt trời đă tái sinh
trong một đoá hoa.
Thời gian cẩm thạch ngủ trong đôi mắt sau hành tŕnh
qua một nét mi: dĩ văng không phải là thời gian đă mất, mà
thời gian chiếm được, thời gian tư-hữu-hoá. Đinh Hùng hoà
giải được phút đă qua và phút sắp đến, ở một đoạn sau, chúng
cũng như đă phối ngẫu cái tôi với ngoại cảnh, với sông
núi mùa thu, tâm giới với ḍng sông lạ.
Thi giới Đinh Hùng là một thế giới mở. Mở để đón sự vật,
trong khi chính sự vật cũng mở ḷng đợi nhau. Không gian
không có giới hạn, ḍng sông không bờ, cánh hoa không viền,
con đường không lề, căn nhà không vách. Làm sao tạo được một
thế giới không cửa, một khi chữ “cửa” đă là một ngăn đón?
Đinh Hùng đă bôi xoá ư niệm ngăn đón trong chữ “cửa”, bằng
cách tạo những cánh cửa hư ảo:
Em đến từ trong giấc hỗn mang…
Lời ca không mở cửa thiên đàng
(ĐVTS)
Em đi rồi then khoá cả chiêm bao
Gầy vóc mộng gói tṛn manh áo nhớ
(ĐVTS)
Then không thể khoá được chiêm bao, lời ca không thể mở cửa
được, nếu, nếu đó là then, là khoá, là cửa thật. Vậy th́ cửa
phải là cửa không thật. Ngược lại, nếu chiêm bao có cửa thật,
th́ mọi cái cửa thật đều trở thành hư ảo, tức là mất hẳn tác
dụng ngăn đón. Thế giới Đinh Hùng để ngỏ là v́ vậy. Không
gian là một lời mời, con người là tiếng gọi; giữa cảnh và
người là sự đón đưa vĩnh viễn. Không một cánh cửa nào ngăn
được tôi v́:
Hồn tôi bay theo khói kinh thành
Mộng ngoài sơn hải làm mây trắng
(ĐVTS)
Tôi là mây, là khói, là mộng, tôi vào không gian, tôi trở
thành không gian, tôi đầy không gian, tôi là
không gian: không c̣n lằn mức giữa chủ thể và khách thể. Thi
giới Đinh Hùng đầy sương đầy khói
[1]
. Khói là trạng thái đặc đang biến thành hơi, sương là hơi
đang đọng thành nước: những thành tố đang biến trạng. Sự vật
trong thi giới Đinh Hùng không có cạnh, không có góc, nên
không va chạm; không có mâu thuẫn giữa các yếu tố, v́ đây
chỉ mới là những khiếm thể (moinsétre) đang vươn tới hữu thể
(étre) hoặc vô thể (non-étre). Thi giới Đinh Hùng là miền
giao thoa giữa người và vật, giữa vật và cảnh, một niềm giao
động thường xuyên, giữa giờ phút:
Những đám tinh vân sắp sửa chia ly.
(ĐVTS)
tức là giờ phút Thái cực không c̣n là Lư nữa, nhưng chưa rơ
thành Lưỡng nghi, giờ phút Âm, Dương mới sắp sửa thành h́nh
trong giai đoạn khiếm thể. Chúng ta nghe những xao xuyến rộn
ràng
Hôm nay có phải là thu?
Mây năm xưa đă phiêu du trở về.
Cảm v́ em bước chân đi,
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn.
Ai về xa măi cô thôn
Một ḿnh trông khói hoàng hôn nhớ nhà?
Ngày em mới bước chân ra.
Tuy rằng cách mặt ḷng ta chưa sầu.
Nắng trôi vàng chảy về đâu…
(MHC và ĐVTS)
Thế giới Đinh Hùng nghe như lúc nào cũng xôn xao; thiên
nhiên đợi đổi mùa, t́nh yêu đến giờ gặp gỡ hay lúc chia phôi,
nắng chiều đợi tàn phai, tiếng dương cầm hắt hiu lời vĩnh
biệt, hoặc vàng thu sắp sửa làm thương nhớ,
Gió mùa thu sớm bao dư vị, Soi màu trăng cũ
lẫn vào đêm.
V́ là một thế giới mở, nên cũng đồng thời là một thế giới
đầy. Đầy sương, đầy khói, và đầy:
Nụ cười phiêu lăng giữa không gian
Người đọc có cảm giác là một không gian hạnh phúc:
… Nụ cười Em giữ thiên thu lại…
hoặc:
…Nụ cười Em gửi gió thu bay…
Hạnh phúc v́ tràn đầy tâm giới; trong thơ Đinh Hùng nội giới
và ngoại giới là một, nên vũ trụ cũng đầy t́nh cảm và nhan
sắc:
Mảng nhớ thương Em rừng đă vàng
Dáng chiều giục giă cửa đài trang
Cảm thương nhan sắc mờ thu thuỷ
Phơ phất trùng dương khói ải quan.
Im lặng, thời gian… cũng đầy, nghĩa là vươn tới một sự trọn
vẹn. Dung tích của im lặng là một dung tích chất chứa, trong
khi thời gian là một sự tích lũy t́nh cảm. Cho nên không khí
trong thơ Đinh Hùng thân mật từ đầu ngọn cỏ, từ phiến đá
t́nh si, từ v́ sao cũ, đoá hoa xưa. Nhưng
đặc điểm lớn nhất của vũ trụ đầy là một vũ trụ thường ch́m
trong mưa, hay bóng tối. Hai nhà thơ Việt nam thường đưa mưa
vào tác phẩm là Huy Cận và Đinh Hùng. Ở Huy Cận cơn mưa
choàng lên thế giới một tấm màn sầu mộng, tạo cho nhà thơ
cảm giác b́nh an và êm dịu, mưa cướp mất không gian của Huy
Cận. Đêm mưa làm nhớ không gian. Nhưng sự mất mát êm
ả, v́ chỉ khi mất không gian mới biết là có không gian, cũng
như bao nhiêu ư thức sở hữu chỉ nảy sinh như những vật sở
hữu đă bị thất lạc. Ở Đinh Hùng, cơn mưa cũng êm ả, nhưng êm
ả một cách khác. Trên tôi đă nói thế giới Đinh Hùng không
phân biệt hữu thể và vô thể. Mưa chính là một khiếm thể môi
giới: mưa lấp đầy khoảng trống của không gian, khoảng trống
vốn là h́nh ảnh của vô thể; mưa lấp đầy vô thể bằng một hữu
thể bằng một hữu thể nhu nhuyễn, một hữu thể có thể vượt qua
được, mưa ngập không gian nhưng không phải v́ thế mà không
gian bế tắc. Mưa tạo chiều dày cho vũ trụ, mưa làm môi giới
cho ba chiều của vũ trụ, con người sống giữa chiều dày đó mà
không bị mặt phẳng nào ngăn cản, mưa là một thể tích không
có diện tích. Mưa làm cho vũ trụ mềm lại, nhưng cũng làm cho
tôi mềm lại nữa. Mưa bọc cái nh́n của tôi bằng tấm màn lụa,
nhăn tuyến tôi bị ṃn đi, không c̣n đâm thủng không gian để
chinh phục; phản tuyến tôi không c̣n gây hấn, nhưng cũng
không khuất phục như khuất phục trước những mặt phẳng khi
trời nắng: tôi vẫn nh́n qua màn mưa, màn mưa xoá nhoà các
góc cạnh, cái nh́n len lỏi giữa những sợi tơ đan ẩm đục, đi
tới, đi tới măi, nhưng đi tới một cách nhu hoà, chậm chạp.
Mưa hoà giải thị dục của tôi với kháng lực của ngoại cảnh.
Mưa làm tan ră các mâu thuẫn giữa bản ngă và vô ngă. Mưa lấp
khoảng trống đồng thời cũng lấp khoảng cách. Mưa là môi giới
giữa tôi và chân trời, giữa ư niệm và đối tượng của ư niệm.
Mưa giăng từ tôi đến chân trời tôi mơ ước, bản ngă tôi loăng
trong khoảng ẩm đục giữa tôi và chân trời mơ ước đó, t́nh
yêu tôi thấm vào không gian đi tới người tôi yêu. Khoảng
cách mâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể, mưa lấp đầy khoảng
cách đó: tôi nói thi giới Đinh Hùng không phân biệt chủ thể
và khách thể là như thế:
Dĩ văng dầm mưa lén bước về
Áo trùng, mây tỏ, mặt sầu che
Run tay ấp nửa bàn chân lạnh
Thương những con đường mưa cuốn đi
Lác đác trong mê rụng tiếng đàn
Hồn ai khóc rợn bốn giây oan
Gót chân thuở ấy vào mưa gió
C̣n thoảng hơi sương đậu cánh màn
Đường Vào T́nh Sử nhoè nhoẹt mưa bay. Thơ Đinh Hùng
là một tâm sự vào mưa gió. Hiện tượng mưa cấu tạo
chung quanh những h́nh ảnh liên hệ như bóng tối, lửa, ánh
đèn… đều là những hư cấu cần phải được phân tích cặn kẽ;
khuôn khổ một bài tiểu luận chỉ cho phép tôi dừng lại ở hiện
tượng chính.
Tôi chỉ cần nói thêm sơ lược về thành tố nước trong
thơ Đinh Hùng. Bạn đọc chắc đă từng để ư đến rất nhiều
suối, sông, hồ, ao, và biển trong thơ Đinh Hùng.
Thơ Đinh Hùng rất ướt át. Dường như hầu hết những câu thơ
hay đều có nước hoặc có h́nh ảnh liên quan đến nước, một
cách trực tiếp hay gián tiếp; tôi trích hai đoạn thơ câu nào
cũng có h́nh ảnh trực tiếp của nước:
Giấc mộng đêm nào cũng gió mưa
Gối chăn như hải đảo vô bờ
Sóng dâng bốn vách sầu nghiêng bóng
Thoáng ngọn đèn trôi ánh mắt xưa
(ĐVTS)
Mộng ơi! thuyền có trao đầu sóng
Xin nở tươi màu hoa đại dương
Biển biếc, cù lao dài ánh mắt
Ngàn khơi xa bóng nguyệt hoang đường
(ĐVTS)
Nước có đặc tính hoà giải: nước là hiện tượng liên tục, tiệm
tiến của vũ trụ; nước là Nguyên thuỷ mà cũng là mạch sống,
nước tạo sinh vật và nuôi sinh vật, nước là sự hiện diện của
vũ trụ trong thời gian. Nước là chiều sâu mà cũng là chiều
rộng của vũ trụ, đồng thời cũng là của thời gian. Nước mời
mọc, làm giảm trọng lực của tôi, tạo cho tôi các cảm giác
tiếp xúc với ngoại giới. Trong nước, tôi cảm giác tôi gắn
liền với vũ trụ, tôi thân mật với vũ trụ. Nước dày, nhưng
không đặc, tôi có thể xuyên qua; nước nhu nhuyễn, nhưng
không thể mờ như hơi, tôi có thể sờ. Nước nuôi tôi bằng
những giấc mơ. Nước liên tục, nhưng vẫn có thể cắt xén. Mọi
vật thể đều có sở-hữu-chủ, chỉ có nước là của tôi, đồng thời
cũng là của mọi người.
Suối là nguồn sống, Sông là cuộc sống trong
thời gian. C̣n hồ ao?
Tôi lây chung buồn của hồ ao…
(ĐVTS)
Hồ ao là sự sống lắng đọng ngoài thời gian có cái tôi trong
thời gian, bơ vơ như ḍng sông, bâng khuâng khua lái:
Ḍng sông bơ vơ t́m dĩ văng
Thuyền trôi bâng khuâng về tương lai
(ĐVTS)
Có cái tôi ngoài thời gian, b́nh an, tĩnh mịch, như cảnh
Tây Hồ:
Sen bạch, sen hồng của chúng ta
Mà bông chưa nở, cánh chưa già
Trong vùng gió đợi, hương chờ ấy
Ḷng tưởng cùng ai đă dạo qua
(ĐVTS)
C̣n biển, trùng dương, đại dương? Gió từ sông lại mưa từ
biển? Biển là sự hoá thân của sông, lời hẹn tuyệt đối,
sự hoà giải vĩnh viễn của vật thể; nhà thơ chứng kiến điểm
trở về giữa ṿng luân hồi trường cửu. C̣n Ḷng nhớ sông
hồ gửi đại dương? Đại dương là Nước vô danh, sự
sống vô kỷ, vô thuỷ, vô chung, nơi vong thân của những ṿng
cuồng lưu lảo đảo. Và Phơ phất trùng dương khỏi ải quan:
trùng dương là khởi điểm của vô hạn, giờ bắt đầu của chân
trời, đặc điểm của trùng dương là một chân trời tôi có thể
tiếp xúc được, tôi có thể với tới, tôi có thể cư ngụ. Tóm
tắt th́ biển, đại dương, trùng dương đều là một hợp đề của
vũ trụ, một trạng thái đón đợi để ôm ấp, để chuyển hoá. Biển
là sự hoà đồng trong thế giới Đinh Hùng, thế giới không có
mâu thuẫn như tôi đă nói. Nhân phân biệt các danh từ đồng
nghĩa với biển, tôi thấy cần lưu ư độc giả ở những danh từ
đồng nghĩa nhưng có tác dụng khác nhau thường gặp trong thơ
ông, như những chữ suối và nguồn, sông
và trường giang, giăng, và nguyệt.
Nước, trạng thái trung gian, c̣n là một yếu tố môi giới giữa
người và cảnh, giữa các vật thể với nhau. Tác giả dùng rất
nhiều h́nh ảnh như cỏ, rong rêu… và những
trạng thái như trôi, nổi, ch́m, ướt,
thấm, dần,… những ư niệm cần khai triển rộng
răi. Tôi chỉ gợi ư môi giới của nước trong ḷng vũ trụ:
Ôi nắng cũ nhạt mùi hương dă thảo
Lạnh mùi rêu tảng đá nhớ chân đi
(ĐVTS, tr. 62)
Rêu là nước của đá, làm môi giới với bàn chân; nước là t́nh
của vật thể vô tri, nhưng cũng là t́nh của vật thể hữu tri;
nói một cách phàm tục hơn cho dễ hiểu th́ cực điểm của nhiệt
lượng t́nh yêu giữa người đàn ông và đàn bà là một chất nước.
Nước là Nguồn Sống, là Nghĩa Mẹ. Cho nên không riêng ǵ
trong thơ Đinh Hùng, mà trong các thi phẩm bất cứ nước nào,
nước vẫn chiếm một diện tích quan trọng, v́ thi sĩ là kẻ đi
t́m nguồn. Đường Vào T́nh Sử là đường về tiền sử.
Tôi
muốn đo thể tích của dĩ văng trong thơ Đinh Hùng. Con người
có ba dĩ văng. Dĩ văng của tôi hôm nay là thời thơ ấu; dĩ
văng thơ ấu là tiền sinh, và của tiền sinh là tiền sử. Thơ
Đinh Hùng là hôn phối của một hiện tại và ba dĩ văng.
Chúng ta sẽ không dừng lại lâu ở Độ em c̣n trèo cây khế
hay ở Khi mới lớn tuổi mười lăm mười bảy của Đinh
Hùng; những bài thơ đó đă nói lên đầy đủ vị trí của ḿnh.
Chúng ta cũng chỉ cần nhắc lại dung lượng quan trọng của
nước đă phân tích ở đoạn trên cũng đủ thấy dấu vết trong
tiềm thức của thời tiền sinh, thời kỳ trứng nước của
bào thai. Tôi chỉ khai triển hư cấu thời tiền sử trong thơ
Đinh Hùng, v́ cho có một tầm quan yếu đặc biệt:
Nàng lớn lên giữa mùa xuân hoa cỏ
Nửa linh hồn u ám bóng non xanh
Ngoài thiên nhiên nở bừng thân mỹ nữ
Nàng yêu ta huyền hoặc mối kỳ t́nh…
… Chúng tôi gặp nhau trên ḍng suối ngọt
Làm đôi người cô độc thuở sơ khai
Nàng bâng khuâng đốt lửa những đêm dài
Ta từng buổi bơ vơ t́m bộ lạc
Nàng là Gái-Muôn-Đời không đổi khác
Bộ ngực tṛn nuôi cuộc sống đang xuân
Ta đến đây làm chủ hội phong trần
Lấy hoa lá kết nên t́nh Thái Cổ…
(MHC, tr. 25)
Xuân hoa cỏ. Thuở sơ khai. Gái muôn đời. T́nh Thái Cổ. Ngần
ấy h́nh ảnh gợi đủ tương quan giữa người và vũ trụ tiền sử,
vũ trụ vĩnh cửu vận động. Cuộc sống của loài người thay đổi
trên một mặt đất không thay đổi. Con người là hiện thân một
phản trắc lớn lao, mỗi lúc một xa lời thề với thiên nhiên.
Đinh Hùng muốn dựng lại thiên nhiên đó, v́ nó đáp đúng với
những khát vọng của thi nhân. Thiên nhiên tiền sử là một thế
giới b́nh đẳng giữa người và ngoại vật, thời muôn chim c̣n
biết nói tiếng người, thời sông núi, cây cỏ đều là thần linh.
Thời đó loài người trực tiếp với thiên nhiên, đối thoại với
tạo vật, lo cái lo của cỏ cây, vui cái vui của mưa nắng.
Thời mà Đinh Hùng gọi là Sông Núi Giao Thần loài
người chưa đối diện với thiên nhiên, c̣n chung sống với cỏ
cây. Đă đành là trong thực tế, vũ trụ vẫn ác nghiệt với
người tiền sử, nhưng trong hư cấu của Đinh Hùng, vũ trụ đă
mất hết nanh vuốt, chỉ c̣n lại đôi mắt hiền từ. T́nh người
con-gái-muôn-đời chỉ là khát vọng một thế giới bất biến, một
thực tại hằng hữu, Đinh Hùng chọn Buổi Sơ Khai v́ đấy là sự
chọn lựa hợp lư nhất, đồng thời Buổi Sơ Khai chính là h́nh
ảnh của thi giới Đinh Hùng, một thế giới chưa có mâu thuẫn.
Thời đó, cái tiểu ngă c̣n loăng trong đại ngă, ư thức dị
biệt chưa thành h́nh một cách đầy đủ để thành một ư thức đối
kháng:
Quên đi em hăy sống đời cây cỏ
Từng linh hồn dan díu với hương hoa
(MHC, tr. 25)
Nhưng con người nhớ dễ hơn quên. Trở về ngơ ngác:
Ta lạc hồn giữa lâu đài kỳ dị
Suốt muôn đời không hiểu dăy hành lang
Dưới hiên tây từng thế kỷ điêu tàn
Gạch ngói cũ nghe hoa thềm rụng cánh
(MHC, tr. 50)
Khi về tới thời Thái Cổ - quê hương thật sự - con người ngơ
ngác bỗng đâm hốt hoảng. Trong Mê Hồn Ca có những vần
thơ quằn quại không có trong Đường Vào T́nh Sử. Người
đọc cảm tưởng Mê Hồn Ca là một cơn mê sảng, điên loạn,
kỳ thật đó chỉ là những phản ứng của con người b́nh thường
nhất lúc trở về quê hương tuyệt đối, v́ chúng ta chỉ là:
…Một lũ người vong bản
Mất tinh thần từ những thuở xa xưa.
(MHC)
Dường như vẫn c̣n một nghi vấn trong thơ Đinh Hùng tôi chưa
giải đáp cặn kẽ. Tôi đưa ra chủ đề: thi giới Đinh Hùng không
có mâu thuẫn v́ mọi hiện tượng đều được hoà giải. Như thế v́
đâu mà có cơn hoảng hốt trong Mê Hồn Ca ? Tôi nghĩ là
cơn mê sảng trong tập thơ đầu của Đinh Hùng chính là sự
hoảng hốt của con người trong thực tại, khiến thi nhân phải
tạo một thi giới, một hư cấu khác để thay vào thực tại đầy
rẫy những mâu thuẫn. Thay v́ đi t́m cách khắc phục một thực
tại chống đối, nhà thơ tạo ra một thực tại hư ảo khác để lẩn
trốn sự chống đối. Nghệ thuật nói chung, trong đó có Thơ, là
sản phẩm của sự lười biếng, xét dưới một khía cạnh nào đó.
Thực tại là một cũi sắt, và nhà thơ là con hổ nhớ cảnh sơn
lâm, giải quyết bế tắc bằng cách sống với bóng cả cây già
trong tưởng tượng. Chung quy, thi giới của Đinh Hùng là một
cảnh tưởng tượng nhưng nó đạt tới những nguyên lư cơ động
thuần nhất nên tôi gọi là một hư cấu:
Ôi kiến trúc một chiêm bao thần bí…
(MHC)
Hư cấu, giấc chiêm bao cố t́nh ấy, đoạn trên đă tŕnh bày là
một không gian trong không gian. Riêng trong Mê Hồn Ca,
đó là một không gian; trong thời gian cơn mê sảng Mê Hồn
Ca là sự Hỗn Độn, hiểu theo nghĩa Kinh Dịch,
nói cụ thể hơn, là thời gian hỗn độn. Chỉ có một cách xáo
trộn trật tự của thời gian là đẩy hiện tại hoặc về quá khứ,
hoặc về tương lai. Mà tuyệt đối của quá khứ là thời Thái-cổ,
c̣n tuyệt đối của tương lai? Là cơi chết.
Trời cuối thu rồi - Em ở đâu?
Nằm trong đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu
(MHC, tr. 37)
Thi giới Đinh Hùng kết tinh bằng Thiên Nhiên huyền bí,
bằng dị thảo, kỳ hoa, biển Giáp, non Thần, bằng xuân
phương thảo cũng như xuân tùng bách, nuôi dưỡng bằng một
mạch sống mănh liệt – hay mạch sầu bất diệt – đă nở thành
những đoá hoa đẹp nhất trong lịch sử thi ca Việt Nam. Cơi
chết – Cơi Rùng Ḿnh tuyệt đối – cũng tuyệt diễm như một
Bồng Lai Mới:
Nàng nằm mộng một đêm hè dưới nguyệt
Nụ cười buồn lay động ánh trăng sao
Xa nấm mộ chúng ta cuồng dại hết
Để yêu tà về khóc dưới trăng sao
(MHC, tr. 41)
Thậm chí đến những vật vô tri nhất cũng thăng hoa thành
những lâu đài diễm ảo:
Biết chăng ai trong giấc ngủ hoang tàn
Hồn gỗ đá nặng nề vừa tỉnh giấc
(MHC, tr. 51)
Đinh Hùng đánh thức các vật vô tri, đưa chúng vào ṿng tuần
hoàn bất tận và Dựng Mê Cung để ru ngủ các vật hữu
tri. Thi giới Đinh Hùng là trạng thái nhập nhoè của vật thể
và bản ngă. Giá trị của một nhà thơ là giá trị của hư cấu do
nhà thơ dựng lên từ ngôn ngữ và linh thị. Hư cấu có thể có
hay không có tương quan với thực tại. Nếu có, th́ tương quan
thay đổi tùy theo mỗi nhà thơ, người đọc phải có nhiều ch́a
khoá khác nhau nếu muốn đi vào thi giới của nhiều thi sĩ.
Một người yêu thơ tầm thường chỉ có thể yêu một thi sĩ trong
đời ḿnh cũng như chỉ có thể yêu thật sự một người đàn bà.
Những người đàn bà khác chỉ là bóng dáng của Người Đàn Bà
Tuyệt Đối. Hoài Thanh và Hoài Chân không thích thơ Đinh Hùng
âu đó cũng là một vinh hạnh cho Đinh Hùng, chứ không phải là
một điều bất hạnh như nhiều người – trong đó tôi nghe anh
Trần Phong Giao nói có cả chính thi sĩ - thường tưởng. Tôi
không dám nghĩ là Hoài Thanh và Hoài Chân dốt thơ, nhưng các
ông ấy có ít ch́a khoá quá - nếu không phải chỉ có một ch́a
khoá passe–partout – v́ cuốn Thi nhân Việt Nam viết
trong một giai đoạn mà ư thức thi ca của văn giới Việt Nam
c̣n phôi thai.
Chúng ta trở lại với thi giới Đinh Hùng. Kỳ ảo biết bao
nhiêu.
Chiều tái tạo bâng khuâng từng ngọn cỏ
(MHC)
Trong thi giới đại đồng không có khác biệt giữa hữu thể và
vô thể, tiểu ngă và đại ngă đó, t́nh yêu mang một sắc thái
đặc biệt. V́ Đinh Hùng bị cái ám ảnh gần như mặc cảm thơ ông
chỉ là loại thơ t́nh cho nên chúng ta dành riêng một
phần bài này cho chủ đề t́nh yêu.
Trong thực tại t́nh yêu dù say đắm đến đâu, cũng bị giới hạn
trong mực thước. Giới hạn cụ thể nhất là Người Yêu, hiện thể
của tha nhân; người yêu là một đối tượng cần chinh phục,
thoả măn, ǵn giữ, nó đối diện với tôi, đôi khi chống lại
tôi. Và tôi chỉ có thể yêu một phần của cô ấy, có thể chiếm
đoạt một phần người của cô ấy, phần c̣n lại vẫn thuộc về cô,
thuộc về xă hội.
Người yêu là một khách thể, là một giới hạn. Ngay chủ thể
cũng bị giới hạn: trong bản thể, tôi có cái tôi của tôi
và cái tôi của kẻ khác, như xă hội, ngoại giới.
Tôi không thể xử dụng toàn hữu thể để yêu đương. Trái lại
trong hư cấu do tôi dựng lên, chỉ có cái tôi của tôi, tôi
làm chủ toàn diện cái tôi, nên tôi có thể yêu đương hết ḿnh.
Chỉ trong điều kiện chủ quan đó, tôi mới có thể yêu mănh
liệt, tự đồng hoá trong t́nh yêu tàn khốc:
Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn
(MHC)
T́nh nhân nào mà không muốn chết trên môi người yêu? Nhưng
ít ai chết như thế, trước hết v́ người ḿnh yêu chưa đáng
cho ḿnh chết, sau nữa v́ những hệ lụy khác không cho ḿnh
chết như vậy. Trong hư cấu, t́nh yêu hội đủ điều kiện để
biến thành khốc liệt:
Ôi cám dỗ! Cả ḿnh em băng tuyết,
Rợn xuân t́nh trên bộ ngực thanh tân
Ta gần em, mê từ ngón bàn chân,
Mắt nhắm lại để ḷng nguôi gió băo.
Khi sùng bái ta quỳ nâng nếp áo,
Nhưng cúi đầu trước vè đẹp trang nghiêm
Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm,
Chưa tội lỗi đă thấy tràn hối hận.
Em đài các, ḷng cũng thoa son phấn,
Hai bàn chân kiêu ngạo dẫm lên thơ
Ôi vô lương! trong một phút không ngờ,
Ta muốn trở nên người vô đạo
(MHC, tr. 30)
Một mối t́nh thật chỉ có thể thực hiện bằng cái tôi không
thật, hướng về một người đàn bà không thật trong một thế
giới không thật; tôi không thể quan niệm được một người đàn
bà lư tưởng mà vẫn c̣n những nhu cầu bẩn thỉu như đại tiện,
tiểu tiện hay kinh nguyệt; nếu ở một chân trời nào đó có một
người vừa đẹp vừa thông minh – hai đức tính ít khi đi đôi –
th́ người đó cũng không cho tôi cơ hội si mê đến đắm đuối.
Có thể trong một lứa tuổi nào đó, tôi có lần si mê điên dại,
nhưng chính là lúc tôi choàng quanh người đàn bà một làn
sương ảo mộng.
Chỉ trong thế giới mộng tưởng mới có những mối t́nh ác liệt.
Nếu ngoài đời thỉnh thoảng có những mối t́nh ác liệt, th́
chỉ v́ tôi phản chiếu đến người yêu thật h́nh ảnh người yêu
tôi mơ tưởng, phản chiếu vào thực tại thế giới tôi ước muốn.
V́ thế giới Đinh Hùng thuần túy là cơi mộng, nên t́nh yêu đă
đạt tới cường độ mănh liệt chưa từng thấy ở một thi sĩ nào
khác, và tạo nên những câu thơ t́nh đắm đuối nhất, tha thiết
nhất:
Em đến hôm nào như hoa bay,
T́nh không độc được mà đắng cay
Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt
Mùi hương sát nhân từ ngón tay
Em đến hôm nào như mây bay
Gió mưa triền miên ch́m nét mày
Đường vào ḷng nhau toàn sạn đạo
Bước chân tha hương từ dấu dày
…Thương nhau gói trọn hồn trong áo
Mất nhau từ trong tà lụa bay…
(ĐVTS)
Thơ đẹp v́ t́nh không thật. T́nh không thật nên thơ t́nh của
Đinh Hùng chỉ dành cho người đọc ở ngoài ṿng t́nh yêu. C̣n
tuổi trẻ bồng bột yêu đương thật sự, sẽ t́m đọc những tác
giả đại khái như Nhất Tuấn, Lệ Khánh, v. v… Nói là trong
Đinh Hùng t́nh không thật, e chưa đúng; phải nói là t́nh
thật trong một thế giới không thật. Ngày xưa Xuân Diệu, Huy
Cận, Nguyễn Bính… vẽ mộng để tô điểm thực tại, làm cho thực
tại thơ mộng hơn; trái lại Đinh Hùng vẽ sự thật lên mộng, để
mộng có vẻ gần thực tại hơn. Cho nên thơ Đinh Hùng có những
đề tài như Bao giờ em lấy chồng, Gặp nhau lần cuối, Tự
t́nh dưới hoa…, để thực-tại-hoá phần nào hư cấu mộng
tưởng.
Nổi tiếng về thơ t́nh tại Việt nam có lẽ không ai hơn Xuân
Diệu, nhờ những câu hết sức lẩn thẩn kiểu Yêu là chết…
Làm sao cắt nghĩa… Thơ đă là Mộng, nghĩa là Đẹp; t́nh
yêu trong thơ Đinh Hùng là mơ trong một giấc mơ, thơ Đinh
Hùng chính là thứ bướm hai lần mộng, cho nên xa cách
với người đọc hơn là thơ Xuân Diệu.
T́nh yêu hư ảo, vậy người ra sao? Đó là một thứ Nhan Sắc
không có Chân Dung, Đinh Hùng có khi gọi bằng những tên mơ
hồ như Huyền Diệu, Nữ Chúa Sầu… có khi gọi là Diệu Thư, Diệu
Hương, Tần Hương, tức là những danh từ đang bốc thành hơi,
tan thành khói. Người t́nh đó, tôi cho chỉ là vóc dáng của
vô thể.
V́ trên khuôn mặt của Nàng, nhà thơ chỉ gặp những nét của
nội tâm: tóc, mắt, nụ cười. Đó là nhân diện hay tâm trạng?
Mắt em ngây ngất khói hoàng hôn
Mái tóc c̣n vương một chút hồn…
Và là tâm trạng của ai? của Nàng hay của thi nhân? Ở đây,
tôi trở lại với chủ đề đă đưa ra: trong thi giới Đinh Hùng
không có dị biệt giữa nội tâm và ngoại giới, giữa bản ngă và
tha nhân. Bóng dáng con người – đây là người t́nh - mờ nhạt,
nhoà lẫn vào nhau, tan biến vào không gian. T́nh yêu là vẻ
đẹp của không gian, là lời quyến rũ của cuộc sống. T́nh yêu
lấp bằng cả thời gian, phối ngẫu nguyên thủy và cực chung
trong một ánh trăng:
Em tự ngàn xưa chuyển bước về
Thuyền trên sóng mắt dẫn trăng đi
Những ḍng chữ lạ buồn không nói
Nét lửa bay dài giấc ngủ mê.
Em đến mong manh vóc ngọc ch́m
Tàn canh hồn nhập bóng trăng im
Ta van từng đoá sao thùy lệ
Nghe ư thơ sầu vút cánh chim
(ĐVTS)
Em là ánh trăng, là tiếng dương cầm, là cơn mưa, là một làn
hương quư, là ly rượu Trường Sinh: em là ngũ quan của tôi,
em là tôi-trong-không-gian mà cũng là không-gian-trong-tôi.
Tôi yêu em như tôi yêu tôi và tôi yêu cuộc đời. Em đến
như mây em vào cùng gió, cùng mưa. Tôi nh́n quanh. Không
c̣n phân biệt đâu là Em và đâu không phải là Em:
Thu về em đă gặp thu chưa
Giải nước trường giang lạnh mấy bờ
Thoảng bóng hoa buồn in lối cũ
Dặm đường mơ tưởng bước em xưa
(ĐVTS)
Vũ trụ trong những câu thơ có nhiều trùng âm (diphtongues)
như uơ, oa, uô, ưa, cơ hồ mềm nhũn lại, các đường
thẳng, các góc cạnh bị uốn cong, vật giới dịu dàng và tha
thướt, không c̣n là những thực thể tự tại (être-en soi) mà
thành thực thể bằng tơ (être-en soie); trong Pháp, chữ e
câm ở đây thật kỳ diệu, hoàn toàn thừa thăi vô ích, v́ câm
(e muet) nhưng biến đổi cả bản chất của vật thể.
Em gặp mùa thu hay chính em là mùa thu? Thu là người hay là
cảnh? Trong câu đầu, chữ thu sau không viết hoa, là mùa thu;
c̣n chữ thu đầu? Khó phân biệt quá. Thu về em đă gặp thu
chưa? Tôi có thể nói. Em về thu đă gặp em chưa?
được không? Và nói Dặm đường mơ tưởng bước thu xưa
được không?
Chúng ta đi tới vấn đề cuối cùng là ngữ pháp trong thơ Đinh
Hùng. Chúng ta đă thấy có thể hoán chuyển chữ trong một câu,
câu thơ chẳng những vẫn có nghĩa, mà nghĩa ấy lại không xa
nguyên ư bao nhiêu. Là v́ từng câu thơ, từng bài thơ, cũng
như toàn thi phẩm không có một cơ cấu cứng rắn; trong một
bài, tôi có thể lấy đoạn đầu bỏ xuống dưới hay xen vào giữa,
bài thơ vẫn thế; hoặc lấy một đoạn trong bài này đem sang
bài khác cũng không sao. Bạn đọc ṭ ṃ, thử chọn mười bài
thất ngôn trong Đường Vào T́nh Sử, mỗi bài lấy ra một
đoạn, sắp chung lại, sẽ có một bài thất ngôn mười đoạn… vẫn
hay. Dĩ nhiên là điều này không đáng khen cũng không đáng
chê, không hay không dở, nhưng có đặc điểm là phản ảnh trung
thực hư cấu tôi đề cập ở đoạn trên. Chỉ có một thi phẩm vô
cấu (non – structurée) mới phản ảnh được một thế giới vô cơ
(inorganique), một thế giới không dị biệt, không mâu thuẫn,
trong đó các hữu thể đă được huyền đồng để hoà giải với vô
thể.
Chẳng những thi phẩm Đinh Hùng không có khớp xương, mà ngay
ngôn ngữ ông dùng cũng là một hủy thể. Theo văn phạm âu tây,
ngày nay ta phân biệt các danh từ, động từ, v. v… mà ngày
xưa các cụ tóm lược thành ba loại: thực từ, bán thực từ và
hư từ. Danh từ là một chất rắn, chiếm một thể tích nhất định
trong câu nói, chỉ định những vật thể rơ rệt trong không
gian; mỗi danh từ đều có những vách tường, những biên giới
để xác định, tĩnh từ, động từ trái lại không có kích thước,
mà chỉ co giăn theo những ư niệm mà chúng phụ thuộc, đó là
những bán thực từ. Đinh Hùng ảo hoá ngôn ngữ - một trong
những cách ảo hoá thực tại nói ở đoạn trên - bằng cách biến
thực từ thành bán thực từ, biến chất đặc của danh từ thành
chất lỏng của động từ hay chất hơi của tĩnh từ. Một ví dụ
danh từ biến thành tĩnh từ:
Giữa đêm ḷng bỗng hoang vu
Gối chăn nghe cũng t́nh cờ quan san
Bước thu chừng sớm ĺa ngàn
Nhớ dây nguyệt lạnh cung đàn thương hoa
Em về tóc rũ mưa sa
Năm canh chuốt ngón tỳ bà khói hương
(ĐVTS, tr. 24)
Cách xử dụng liên tự, giới tự của Đinh Hùng cũng có nhiều
điểm cần được khai triển. Nhiều động từ dùng bất ngờ:
Hoa quay đầu, cánh bướm cũng vu quy
Cả một mùa thu đă quá giang.
Cần được tổng hợp và phân tích. Nhưng tôi ngờ rằng một cuộc
mạn đàm quá dài, không dám lạm dụng sự kiên nhẫn của độc giả
và độ lượng của anh Trần.
Vả lại tôi cũng đă tŕnh bày khá đầy đủ những ư chính muốn
nói: thi giới Đinh Hùng là một hư cấu biệt lập sáng tạo bằng
ngôn ngữ chuyển động bằng nhiệt lượng linh thị của nhà thơ.
Thế giới đó huyền giải - hiểu theo nghĩa của Trang Tử - tất
cả dị biệt và mâu thuẫn thường có thực tại, giữa hữu thể và
vô thể, giữa tiểu ngă và vô ngă; thế giới đó có những đặc
tính là một vũ trụ mở và đầy, mở để đón tôi, đầy để tôi tiếp
xúc; thành tố đặc trưng là mưa, một khiếm thể môi giới giữa
tôi và không gian, giữa không gian và chân trời; theo mưa là
nước, nước của sông biển hay hồ ao, là môi giới của thời
gian. Trong thế giới thân mật v́ lỏng lẻo đó, t́nh yêu đạt
tới cường độ mănh liệt nhất, v́ không có mâu thuẫn, không có
ngăn trở; người yêu không phải là một khách thể chủ động, mà
chỉ là một chủ thể phân tán trong không gian. Muốn dựng nên
không gian đó, Đinh Hùng đă xử dụng một phương pháp tạo h́nh
tu từ độc đáo. Yêu thơ Đinh Hùng là:
Thương Nước vô danh, người mộng ảo
Một câu trong Mê Hồn Ca tóm tắt đầy đủ những đặc tính
trong thi giới Đinh Hùng, những đặc tính tôi đă lược tŕnh
một cách dài ḍng, đôi khi tối tăm, luộm thuộm.
Kích thước một nhà thơ là kích thước thi giới do người ấy
sáng tạo. Hư ảo, kỳ diệu, diễm tuyệt thi giới Đinh Hùng vĩ
đại.
Biết đâu bên kia cuộc sống, giờ này nhà thơ đă chẳng đạt tới
thi giới đó?
Berne, Trọng thu năm Mùi
(17-8-67)
[1]Tôi
được biết Đinh Hùng nghiện nha phiến, nên thơ ông chắc cũng
bị ảnh hưởng, qua những h́nh ảnh như: khói, ngọn đèn, pḥng
nhỏ, gối chăn, thường gặp trong thơ. Lưu ư đến khía cạnh này,
tôi t́m đọc những nhà thơ đồng thời như C. Baudelaire, Th.
Gautier, H. Michaux, J. Cocteau, A. Huxley cũng gặp lại cùng
một lối tạo h́nh. Tôi từng có ư định khai thác đề tài theo
đường hướng này, nhưng thấy vô ích. Nha phiến quan trọng đối
với Đinh Hùng nhưng thơ ông quan trọng đối với độc giả. Phê
b́nh nghệ thuật, tôi chỉ t́m hiểu tác phẩm; c̣n việc t́m
hiểu tác giả thực hiện tác phẩm ra sao, là việc làm của
người viết văn học sử.
Nguồn: Vũ trụ
thơ, tiểu luận
của Đặng Tiến, b́a Văn Thanh, Giao Điểm xuất bản lần thứ
nhất. In xong ngày 24 tháng 6 năm 1972. Số thứ tự của nhà
xuất bản: 32/72. Nạp bồn: đệ tam cá nguyệt 1972. Giấy phép
xuất bản số 982-BTT/PHNT, Sài G̣n ngày 30 tháng 3 năm 1972.
Tổng phát hành: Nhà sách Đời Mới 278-280 đường Vĩnh Viễn,
Sài G̣n. Bản điện tử do talawas thực hiện tháng 8 năm 2006.
Bản đăng trên talawas với sự đồng ư của tác giả.
Thơ, Thi pháp và chân dung
Trang Đặng Tiến
art2all.net |