Đặng Tiến

VŨ TRỤ THƠ  I

ĐỨC TIN TRONG HỒN THƠ

HÀN MẶC TỬ

 

Đặng Tiến qua nét vẽ Đinh Cường 1979

 

          HÀN MẶC TỬ tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912, tại Lệ Mỹ, tỉnh Đồng Hới, Trung Việt.

Học tại Quảng Ngăi, Qui Nhơn, Huế, tới năm thứ ba ban Thành chung. Làm sở đạc điền được ít lâu, sau bị bịnh, bỏ sở. Vô Nam, làm báo một thời gian rồi bỏ về Qui Nhơn.

Bắt đầu làm thơ Đường từ năm mười lăm tuổi (kư nhiều bút hiệu: Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh…). Đă đăng thơ trên các báo Phụ nữ Tân văn, Sàig̣n, Trong Khuê pḥng, Đông Dương Tuần báo, Tân thời, Người mới… Chứng bịnh phong cùi hiểm nghèo đă đem đến cho Hàn Mặc Tử nhiều thi tứ cao siêu, thanh thoát, như một vùng trú ẩn cần thiết cho cơi linh hồn đau khổ triền miên.

Tác phẩm của ông đă được xuất bản, có: Gái quê (Tân Dân Hà Nội, 1936, tựa của Phạm văn Kư); Thơ Hàn Mặc Tử (Đông Phương, Hà Nội, 1942, tranh vẽ của Phạm Tú).

Tại trại hủi Qui Hoà, tỉnh Qui Nhơn, Hàn Mặc Tử trút linh hồn ngày 11 tháng 11 năm 1940, hưởng dương 28 tuổi. Cái chết yểu của ông là một thiệt tḥi lớn cho nền văn học đất nước, v́ ông được coi như một nguồn thơ tinh khôi và kỳ lạ bậc nhất trong thi sử hiện đại.
 

*


Hàn Mặc Tử mất ngày 11 tháng 11 năm 1940. Từ 1942, Vũ Ngọc Phan đă nhận xét: “Từ ngày Hàn Mặc Tử từ trần đến nay, mới trong khoảng hai năm trời, mà người ta đă người ta đă nói rất nhiều, viết rất nhiều về Hàn Mặc Tử…” [1]

Và đến nay, bao nhiêu giấy mực đă được dành cho nhà thơ bạc mệnh. Có lẽ ở miền Nam, Hàn Mặc Tử là thi sĩ được nhắc nhở nhiều nhất. Tôi chỉ e rằng dù vậy sự hiểu biết của chúng ta về thi tài đó vẫn không tiến bộ được bao nhiêu. Có lẽ lại lùi lại nữa là khác. Năm 1941, Hoài Thanh muốn nói đến Hàn Mặc Tử đă hỏi mượn thơ do Trần Thanh Địch giữ [2] . Cùng năm đó, khi viết cuốn Hàn Mặc Tử, có lẽ Trần Thanh Mại cũng dùng nguồn tài liệu đó, tức là của em ḿnh. Ngày nay, ngoài tập Thơ Hàn Mặc Tử mỏng manh của nhà xuất bản Tân Việt, chúng ta không c̣n thi liệu nào khác. Chính Quách Tấn, bạn thân, ân nhân, người đă được nhà thơ kư thác trọn vẹn tác phẩm, cũng tỏ vẻ không có nhiều tài liệu hơn chúng ta. Trong bài nói về nhà thơ quá cố đăng trên Văn, Quách Tiên sinh, khi trích thơ Hàn Mặc Tử đă làm một việc mà ai cũng làm được, như Vũ Ngọc Phan đă làm, nghĩa là trích từ tập thơ thiếu sót kia, hay trích lại của Trần Thanh Mại và Hoài Thanh - trừ vài bài tứ tuyệt không mấy quan trọng. Lư do rất giản dị: chiến tranh đă làm thất lạc hết tài liệu, mặc dù Quách Tấn giữ ǵn cẩn thận, sao nhiều bản gửi Bộ Giáo dục Nam triều thời đó và tất cả bạn bè của Tử [3] . Như vậy trong mọi hành tŕnh vào tác phẩm Hàn Mặc Tử, chúng ta sẽ giẫm chân tại chỗ, đua nhau kể cuộc đời ái t́nh và sự nghiệp của nhà thơ – dĩ nhiên là éo le gay cấn, nhưng không giúp hiểu thêm nhà thơ bao nhiêu - trừ một vài bài quan trọng; như của Quách Tấn trên số Văn thượng dẫn; ngoài việc đưa ra một số sự kiện chung quanh việc sáng tạo của Hàn Mặc Tử c̣n bổ chính nhiều điều do Trần Thanh Mại kể trong cuốn biên khảo về Hàn Mặc Tử [4] xưa nay vốn là tài liệu tham khảo căn bản cho mọi người về cuộc tranh tụng giữa hai họ Quách và Trần năm 1942, th́ chúng tôi không có ư kiến ǵ. Nhưng xin tán đồng Quách Tấn về hai điểm: thứ nhất là Trần Thanh Mại ẩu, thứ hai là ông không hiểu thơ, và cứ ưa phê b́nh thơ, và Vũ Ngọc Phan cũng đồng ư như vậy [5] . Tuy nhiên, nếu không có cái ẩu, cái trích dẫn bừa băi của họ Trần, th́ các nhà nghiên cứu - kể cả Quách Tấn - lấy đâu ra thơ Hàn Mặc Tử để tham khảo, sau khi người giữ bản quyền để thất lạc hết di thảo? Tưởng khi nhắc đến chuyện ba mươi năm về trước, Quách Tiên sinh không nên chua cay mới công b́nh [6] .

Chúng tôi tŕnh bày những khó khăn về tài liệu đó là có ư rào đón những thiếu sót trong bài này, khi đề cập đến một đề tài hệ trọng và bao quát: đức tin Thiên Chúa giáo trong thơ Hàn Mặc Tử. Chúng tôi không khám phá ra điều ǵ mới mẻ, mà chỉ khai triển một nhận xét của ông Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh… cách đây mấy mươi năm. Chúng tôi chỉ đào sâu thêm tác phẩm để có một cái nh́n nhất quán trên toàn thể thi phẩm. Thay v́ trích dẫn những câu có h́nh thức Thiên Chúa giáo như Maria, linh hồn tôi… th́ tôi cố chứng minh là kiến trúc toàn bộ của thơ Hàn Mặc Tử đều vang dội lời truyền giảng của Phúc Âm. Bài báo chia làm năm phần:
 

  • Nhận định tổng quát
     

  • Gái quê: Thế giới đợi chờ
     

  • Đau thương: con người sáng tạo và mơ ước
     

  • Xuân như ư: Thế giới khải huyền.
     

“Tôi đă sống mănh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn… Thôi mời cô cứ vào… Ánh sáng tạ trong thơ tôi…” [7] (tr.8)

Đối với Hàn Mặc Tử thơ và đời sống là một bất khả phân, nhất là khi lâm trọng bệnh. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú (tr.8). Tác phẩm của Hàn mang tên Đau Thương v́ nó là Đau thương, nó là “kinh nghiệm trước hết của một con người, một thực tại con người ngay trong thân phận” [8] . Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Có lẽ ông là người Việt nam ca ngợi Thánh nữ Đồng trinh Maria và Chúa Jésus bằng thơ trước nhất. Ông ca tụng đạo Gia-tô rất chân thành. Lần này cũng là lần đầu, thi ca VN thấy được một nguồn hứng mới” [9] . Hoài Thanh nới rộng đến vấn đề tương quan giữa tôn giáo và dân tộc, “Thơ Hàn Mặc Tử ra đời, điều ấy chứng tỏ đạo Thiên Chúa ở xứ này đă tạo ra cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những t́nh cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những t́nh cảm đă thấm tận đáy hồn đoàn thể”. Nhận xét này của một kẻ “thiếu ḷng tin, du khách bỡ ngỡ” [10] là Hoài Thanh mang một ư nghĩa đặc biệt, trong Gia-tô giáo Việt Nam niềm tin Thiên Chúa đă trở thành một niềm tin thuần túy Việt Nam. Và thơ Hàn Mặc Tử đă chứng thực điều đó: một đức tin Việt Nam ở Thiên Chúa, diễn đạt bằng một ngôn ngữ Việt nam: ngôn ngữ của thi ca. Đó là điều tôi muốn tŕnh bày qua một dàn bài b́nh dị. Tôi chỉ khai triển thêm một câu của Hàn Mặc Tử trong lời “Tựa”: Người đang say sưa đi trong Mơ Ước, trong Huyền Diệu, trong Sáng Láng và vượt hẳn ra ngoài Hư Linh… (tr.7) trong đó người đọc gặp lại những chủ đề cương lĩnh của Kinh Thánh: một vũ trụ ngây thơ đổ vỡ v́ nguyên tội; những khổ hạnh của thân xác như một kinh nghiệm của Mơ ƯớcHuyền Diệu; để vươn tới một thế giới khác sáng láng ngoài Hư linh, thế giới của Phục Sinh, của Khải Huyền. Ba giai đoạn đó là cơ cấu của đời thơ Hàn Mặc Tử. Vũ trụ Gái Quê đă sụp đổ trong Đau Thương mà nhà thơ đă chịu đựng để đợi sống lại một mùa Xuân Như Ư.

Ai nói vườn trăng là nói vườn mơ. Ai nói bến mộng là bến t́nh. Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo. Trên đầu người là cao cả, vô biên và vô lượng; chung quan người là mơn mớn với yêu đương…

Những ḍng mở tác phẩm không khỏi làm ta nhớ đến thiên “Sáng Thế Kư” mở đầu Cựu Ước. Nhưng vườn, đây không nằm ở hướng đông như vườn Eden (“Gen II.8”), mà chỉ là một vườn mơ, bến mộng, niềm nhớ nhung đằng đẵng về một hạnh phúc nguyên thủy. Hạnh phúc của nguồn trong trẻo mà loài người phải từ giă ra đi, và bị cấm cản đường về (“Gen III, 24”). Nguồn ở đây là ḍng sông trước khi chia làm 4 nhánh, tưới vườn Eden bằng t́nh yêu cao cả, vô biên và vô lượng, chưa bị giới hạn v́ nguyên tội, khi con người chưa khó nhọc, chưa đổ mồ hôi, chưa biết chông gai và mùi cát bụi (“Gen III 17, 18 và 19”). Bài tựa của Hàn Mặc Tử đă mơ ước khôi phục lại mùa xuân trinh nguyên của ngày sáng thế, đầy thinh sắc, tinh hoa và châu báu, như nhũ hương và bích ngọc bên bờ nhánh sông thứ nhất (“Gen II, 12”). Thơ Hàn, cũng như ḷng lê thứ, nói như Pascal, là niềm hoài vọng bất lực về một hạnh phúc sơ khai, một tráng lệ đă phôi pha

C̣n đâu tráng lệ những thời xanh
Mùi vị thơm tho một ái t́nh
Đố kiếm cho ra trong lớp bụi
Ít nhiều hơi hám của kiên trinh (tr. 32)

Sau khi phạm trái cấm, loài người không mang nguyên tội ra khỏi địa đàng rồi dựng lại một b́nh an khác. Với tội kiêu căng, loài người phải chịu bao nhiêu hưng phế: từ Hồng Thủy cho đến cơn thịnh nộ của Thiên Chúa hủy hoại tháp Babel, thành Sodome và Gomorrhe, bao nhiêu lớp bụi phế hưng đă lấp mất cánh đồng xanh lẫn hơi hám của kiên trinh

Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cơi hư vô dấu đă ch́m (tr. 32)

Dân Do-thái, lưu linh c̣n hy vọng có ngày t́m về đất Hứa, c̣n con người đă vĩnh viễn đánh mất tất cả tráng lệ của thời xanh. Nhưng thơ Hàn Mặc Tử vẫn là một mơ ước, một đón đợi, như Cựu Ước là sự chờ đón đấng Cứu Thế. Trong Gái Quê và những bài đầu Đau Thương, thơ là niềm mong đợi

Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về (tr. 21)

Ngày xuân mong đợi đó c̣n thuần lương, c̣n là một mùa xuân ngoại đạo - một thứ printemps païen - hồn nhiên và vô tư lự, như tất cả những hội hè của mùa xuân Việt Nam.

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lư – Bóng xuân sang

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.

Cái hồn hậu đó, như Hoài Thanh đă nói “chỉ là một mùa xuân đầu năm” [11] , tôi nói thêm là một u minh đợi chờ để nở lên một mùa xuân sáng thế “hồi trời đất mới dựng lên” hay mùa xuân tái tạo “ra đời một lần với chúa Jesus” 11.

Khác biệt đó không có ǵ mâu thuẫn và Hoài Thanh cũng không cần ngại người đồng đạo với nhà thơ sẽ “khó dễ v́ một hai dấu tích Phật giáo c̣n sót lại”10. Quách Tấn c̣n cực đoan hơn: “Tôi nhận thấy vang bóng của đạo Phật có phần đậm hơn đạo Thiên Chúa” [12] . Sự phân lượng e rằng khó chính xác nhưng vết tích Phật giáo và ngay cả Lăo giáo, Khổng giáo trong thơ Hàn Mặc Tử đậm đà, từ trong rung cảm đến ngôn ngữ. Điều đó không có ǵ là nghịch lư cả; hạt mầm Thiên Chúa, khi nảy nở trên đất Việt nam th́ tự nhiên thích ứng với khí hậu, phong thổ. Gần đây, tôi có đọc tác phẩm của linh mục Jacques Dournes nói về việc truyền giáo tại bộ lạc Jorai, Cao nguyên Trung phần. Sách có nhiều điểm tế nhị và sâu sắc, nhắm bảo vệ truyền thống một chủng tộc: “Cơ quan hành chánh phát cho dân Jorai hạt giống bông vải gốc Phi châu, năng suất cao hơn giống địa phương; dân Jorai đă gieo hái, nhưng chỉ một lần thôi rồi không tiếp tục. Lư do là họ phải nhuộm chỉ trước khi dệt, và thuốc nhuộm làm bằng lá cây của họ không ăn vào chỉ bông nhập cảng. Họ lại trở lại với giống bông cũ. Từ đó tôi không quên bài học bông vải” [13] . Và tôi lại càng không dám quên khi viết bài này. Theo Quách Tấn, gia đ́nh Hàn Mặc Tử (dường như) theo Thiên Chúa từ đời nội tổ Tử, tên Phạm Bồi, v́ liên can quốc sự nên đổi theo họ mẹ; rồi được một linh mục Pháp đỡ đầu, rồi lập nghiệp tại Thừa Thiên, thân sinh Hàn Mặc Tử là Nguyễn Văn Toản học Đại Chủng viện Huế, đến chức Thầy Tư rồi bỏ ra đời [14] . Ông sinh hạ được năm người con và đặt tên là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín và Hiếu. Tôi dài ḍng như vậy để tŕnh bày không khí và giáo dục gia đ́nh nhà thơ, một mảnh đất mới đang hấp thụ đức tin, đang dần dần thấm nhuần ơn tŕu mến.

Tôi là trăng cổ độ
Lượng trời rộng bao la.

Phải, ḷng chàng là bến đợi. Trong những kích thước mông mênh; có thể là một trời thu man mác; có thể là một hàng cau nắng mới lên; thường thường là một đêm trăng sao đắm đuối. Vâng, như đón từ xa. Như đợi từ xa:

Cho ta nhận lấy không đền đáp
Ơn trọng thiêng liêng xuống bởi trời. (tr 44)

Nhưng chàng đă đến đáp. Bằng tất cả. Đau thương: tiếng Thơ và cuộc Sống. Chàng đă đem đến cuộc đời để trả lời ơn phước cả đang ngân vang trong màu nhiệm phủ ban đêm, một tiếng gọi của thượng tầng không khí. Từ lúc nhận điềm có tiên tri th́ vũ trụ trong Gái Quê và những bài Đau Thương đầu tiên nhuốm cái ư thức nguyên tội, người lương sẽ gọi là mặc cảm tội lỗi. Những bài đó gợi cảm giác có tội trước khi phạm lỗi. Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh đồng ư rằng tập Gái Quê thiên về dục t́nh; có lẽ ta cần minh định thêm về khuynh hướng ấy. Một người chỉ xin hoa đền ngựḷng ni cô th́ dục t́nh… đi tới đâu? Tôi xin giải thích thêm về điểm này:

Mới lớn lên trăng đă thẹn tḥ
Thơm như t́nh ái của ni cô (tr. 29)

Tại sao trăng lại phải thẹn tḥ? Thẹn tḥ là cảm giác của Adam và vợ khi đóng khố che thân lánh mặt Đức Chúa Trời (“Gen III, 7-8”) sau khi ăn trái cấm. Adam thẹn tḥ v́ đă phạm tội. C̣n trăng việc ǵ mà phải thẹn tḥ nhất là khi mới lớn lên? Sự thẹn tḥ của thân thể đó, chúng ta đă thừa kế của Adam, cho nên tôi mới nói không khí rạo rực trong Gái Quê là di sản của nguyên tội. Những câu thơ Vũ Ngọc Phan cho là “gợi t́nh, thiên về xác thịt” [15] là một dục vọng, nhưng đồng thời cũng là một cấm đoán, một ghẻ lạnh:

Da thịt trời ơi trắng rợn ḿnh.

Hàn Mặc Tử nhắc đến t́nh ái của ni cô, hay da thịt nàng dâu để gợi lên cái vô tội của ḿnh trong một thế giới đă hư hỏng v́ nguyên tội, mà ḿnh phải gánh chịu. Ngay trong giáo lư, dục t́nh, tự nó, không phải là tội lỗi: “Đó là một căn bệnh, chứ không phải là tội lỗi. Tuy nhiên căn bệnh đó là h́nh phạt của một tội lỗi” [16] – tác giả muốn nói đó là nguyên tội; và “dục t́nh, bản năng sinh lư như ta thường thấy là tiếng gào phản kháng của một h́nh hài bị thương tổn” [17] .

Nhà thơ dự phóng những rạo rực của bản năng ra ngoài vũ trụ; cái nh́n của chàng vuốt ve, mơn trớn với yêu đương, tất cả tạo vật. Từ ánh trăng, đến cành liễu, mặt hồ, cơn gió, cho đến bài thơ của người yêu, tất cả đều có nhiều độ nồng nàn của da thịt, tất cả đều tương giao trong nguồn ái ân bởi trăm giây quyến luyến:

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Cây lá ngây t́nh không muốn động
Ḷng Em hồi hộp, chị Hằng ơi! (tr. 32)

Dục t́nh trong đoạn thơ nằm trước hết trong cách chọn chữ gợi t́nh, khi đi đôi với nhau như trăng gió, trong thành ngữ phong nguyệt hay gió giăng. Hoặc trăng hoa, hoặc liễu hoa; trong những h́nh ảnh nguyệt hoa hay ghẹo nguyệt trêu hoa, hay liễu ngơ hoa tường. Đoạn thơ lại khêu gợi bằng những h́nh ảnh táo bạo đến suồng să như nằm sóng soải, lả lơi, ngây t́nh; cuối cùng cơn mê đắm c̣n biểu lộ trong những ư tưởng lộ liễu đến sỗ sàng. Tất cả những chữ, những h́nh ảnh, những ẩn dụ, những ư tưởng đó giao thoa thành một không khí lơi lả, vừa cợt nhả vừa tinh tế, tuy có suồng să nhưng không phải là không khéo léo. Thơ gợi t́nh của Hàn Mặc Tử có lẽ táo bạo vào bậc nhất trong thi ca mới; cái tài t́nh của ông là táo bạo đến đâu vẫn c̣n ư nhị. Một lối suồng să mà không sống sượng, như ở Xuân Diệu chẳng hạn:

Hăy sát đôi đầu, hăy kề đôi ngực…

một cử chỉ, câu nói sống sượng khi tự nó, nó nói hết những điều muốn nói, và đôi khi c̣n nói luôn những điều không muốn nói. Ở Hàn Mặc Tử - ít ra ở những bài c̣n lưu truyền đến ngày nay- dù hở hang đến đâu, vẫn c̣n cái úp mở của một ngôn ngữ ư nhị và tính từ. Chúng ta không c̣n những bài thơ như Hát Giă Gạo trong tập Gái Quê đă làm cho Vũ Ngọc Phan “lợm giọng”, nhưng dù muốn dù không, ta phải công nhận nhà thơ có một quan niệm luyến ái thánh thiện, lành mạnh đến bệnh hoạn:

Cho nên tôi tưởng tối tân hôn
Chưa tới, c̣n xa để được buồn
Để sống trong niềm thương nhớ đă
Để c̣n mường tượng đến giai nhân (tr. 28)

Đọc Hàn Mặc Tử ta có cảm giác một sự giằng co giữa con người phóng túng và con người khắc khổ? Cái giọng t́nh của ông, dù có cợt nhả đến đâu, cũng chỉ tả một thứ t́nh hàm thụ, một lối ái ân không tưởng, một môi giới giữa nhân sinh và tạo vật. Nói gọn hơn, nó không thể tự măn, trong một thế giới không tự măn.

V́ vẫn c̣n là một thế giới đợi chờ, trong im lặng linh thiêng, bằng tất cả trực giác của trăm sao đắm đuối

Không một tiếng ǵ nghe động chạm
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng (tr. 27)

Một đêm thao thức đợi chờ Điềm Lạ, trong ḷng vũ trụ c̣n say ch́m nơi bất giác, nhưng đă được các tiên tri chuẩn bị để đón mừng Ngôi Hai.

Hàn Mặc Tử mô tả thế giới đợi chờ trước hết bằng di sản hồn nhiên của một nền văn hoá ngoại đạo nhưng niềm nở và hướng thượng, thứ đến bằng đức tin nuôi dưỡng trong Phúc Âm; hai phụ lưu sung măn đó đă đổ vào hồn thơ Hàn Mặc Tử, như một ḍng sông vừa nhận được cơn nước nguồn thác lũ bỗng phải vượt qua một địa thế hiểm nghèo: bệnh phong nan y đă biến hồn thơ hồn hậu đó thành một cuồng lưu khốc liệt, nếu không phải là một vũng nước xoáy.

Đau Thương. Tên một tập thơ, và tên một định mệnh. Hay tiếng gầm của một cuồng lưu lâm vào tuyệt địa. Chúng ta nói qua sự đau thương trong cuộc đời. Rồi trong thơ.

Hàn Mặc Tử nhuốm bệnh từ năm 1936. Hăm bốn tuổi, tuổi anh hoa đang phát tiết. “Khi biết ḿnh mang bệnh hiểm nghèo, Tử hết sức đau đớn, đau đớn đến phát điên. Thường ngày những cơn thác loạn nổi dậy, khi nhiều khi ít. Nhưng ngày rồi ngày, nỗi đau khổ hết phát hiện ra ngoài một cách bồng bột, th́ lại ăn sâu vào tâm hồn ngấm ngầm nung nấu nạn nhân, nung nấu đến tột độ” [18] . Hàn Mặc Tử nhiều lần mô tả những đớn đau của thân xác:

Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau v́ rùng rợn đến vô biên (tr. 53)

Bên cạnh những hành hạ của bệnh trạng, Hàn Mặc Tử c̣n phải đương đầu với hai hậu quả khác của hoàn cảnh: nghèo túng và tuyệt vọng v́ t́nh. “Hiện nay Trí về ở tạm nhà. Cái nguyên nhân là không tiền uống thuốc.” “Bữa nay Trí xuống nhà bà thầy thuốc rồi. Có một mái nắng dọi nhiều quá. Cả chiều nếu ở trong nhà th́ phải đội mũ [19] . Chúng ta c̣n có nhiều tài liệu khác về nỗi cùng khốn của nhà thơ, qua những bức thư gửi Trần Thanh Địch. Về cuộc t́nh duyên đau khổ với Mộng Cầm, chúng ta cũng có nhiều tài liệu. Đại khái hai bên yêu nhau khăng khít, thề bồi dữ dội lắm, hẹn ḥ nhau từ Phan Thiết ra đến Qui Nhơn; khi Hàn Mặc Tử chịu tang cho anh, th́ Mộng Cầm tự xin phép được “thành tâm cư tang cho ông anh một năm cũng như anh, nghe anh” v́ “người cầm bút biên mấy hàng trên đây là người em dâu chắc chắn, nhất định của ông anh rồi. Vậy ông anh nên phù hộ cho chúng em thương nhau cho đến bạc đầu” [20] . Khi biết chàng lâm trọng bệnh, th́ nàng “thề” bồi lại một lần nữa đậm đà hơn.”20 Để rồi sáu tháng sau nàng đi lấy chồng. Trần Thanh Mại cho rằng nàng không đáng trách. “Duy có cái nàng lấy chồng hơi gấp đấy thôi.” [21] Quách Tấn cũng cho biết là thái độ của Mộng Cầm đă gây ra cho nhà thơ “một nỗi buồn thương vô hạn”, “một phản ứng mănh liệt”, những tiếng kêu rên thống thiết”. [22]

Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói?
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng?
(Trần Thanh Mại, tr. 95)

Tiếng kêu trầm thống đó chất chứa cả kiếp cùng khốn vật chất lẫn tinh thần, cho đến ngày bị con bệnh tàn phá đến thảm thê, theo thư một người bạn thân, cùng bị hủi, kể lại “hai mắt nằm lọt vào sâu hai lỗ hũm sâu hóm, đến không c̣n mở ra được. Thân h́nh chỉ c̣n có da bọc lấy xương, chân tay th́ co rút lại, mà đầu tóc bù xù rối trết lại từng về, trong ấy nhô nhúc những chí là chí” (thư của ông N. V. Xê, đề tại Quy Hoà ngày 25-6-1941) [23] . Tôi tưởng không có ǵ thê thảm hơn t́nh trạng băng hoại đó. Ấy thế mà Hàn Mặc Tử can đảm chịu đựng cái cảnh làm ta phải rùng ḿnh, vui vẻ chịu đựng nữa là khác: Tuy cực khổ thế mà tôi vẫn an vui, ngày nào cũng có cười cả. Nếu không cười với ai, th́ cười một ḿnh, xem ra thú vị không biết mấy [24] . Niềm an vui đó, Trần Thanh Mại, người biết cuộc đời thật của nhà thơ cho là “yêu quái” là “kinh dị”. C̣n Vũ Ngọc Phan chỉ biết Hàn Mặc Tử qua một số thi phẩm cũng không khỏi ngạc nhiên: “một người mang bệnh rất đau đớn mà có một tâm thần thư thái, b́nh tĩnh như thế, thật cũng lạ” [25] . An vui của Hàn Mặc Tử không phải là cay đắng, gượng gạo, có khi nổ tung ra trong những câu thơ hớn hở:

Hôm nay vui quá Anh Phùng ơi
Buồn xa không đến, lệ không rơi
Buồn không thắt ruột, t́nh không lại
Cười nói làm sao cho hả hơi?
(Trần Thanh Mại, tr. 122)

Họ Trần phê b́nh là: “Đau thương giam cầm không kỹ, thoát lọt ra trong một biến thể mới, dị kỳ, quái gở, thật đáng rùng ḿnh”. Sở dĩ ông không hiểu can đảm của bệnh nhân, theo tôi, là v́ ông không hiểu được sức mạnh của đức tin trong con người Hàn Mặc Tử. Khi đề cập đến vấn đề này, Hoài Thanh, cũng là người ngoại đạo, nhưng tinh tường hơn Trần Thanh Mại, thừa nhận ngay “Thiếu ḷng tin tôi chỉ là du khách bỡ ngỡ” [26] c̣n họ Trần th́ cứ phán đoán ầm ĩ cả lên. Nhưng nhờ có ông mà chúng ta được một dữ kiện về đời sống tín ngưỡng của nhà thơ: “Trong khi sưu tầm tài liệu về nhà thi sĩ, tôi có t́m thấy trong một nhà trọ của chàng, một mẩu báo dán trên khung cửa sổ tre, đă nhàu nát vàng vọt, và nh́n lối in chữ và h́nh ảnh tôi biết ngay là báo V́ Chúa. Đoạn bài đăng trên mẩu báo ấy nói về nguồn an ủi trong bệnh tật cho rằng sự đau ốm là do đức Chúa Trời ban xuống cho ta, để thử ḷng ta, nên chẳng những là ta phải chịu một cách nhẫn nhịn mà c̣n nên vui vẻ bằng ḷng nữa.” [27] Căn cứ trên đoạn này tôi cho rằng tác giả không mấy thông thạo giáo lư Gia-tô giáo. Nếu bài báo ấy có thật – V́ họ Trần măi cho đến ngày nay ở Hà Nội vẫn có cái cố tật rất bậy là ưa bịa đặt tài liệu. [28] – th́ chúng ta rất tiếc rằng họ Trần không trích dẫn chính xác, cho biết rơ xuất xứ, t́m xem báo V́ Chúa số mấy, ngày mấy…, hoặc ít nhất cũng cho ta nguyên văn. V́ theo kiến thức thô thiển của tôi, th́ không có kinh sách nào dạy rằng “sự đau ốm là do đức Chúa Trời ban” và chúng ta phải “vui vẻ bằng ḷng”. Nhưng vấn đề ở đây không phải là căi nhau về giáo lư, vừa ngoài phạm vi bài viết và thẩm quyền của tôi. Vấn đề là, như Trần Thanh Mại đă nói, đức tin “đă có ảnh hưởng tốt đẹp đối với chàng”. Quách Tấn xác nhận điều này: “Tử t́m được nguồn an ủi lớn nhất trong nguồn Đạo. Khi đă sống cùng Đạo th́ tâm hồn Tử hết bị ray rứt dày ṿ” [29] . Chính nhà thơ đă kể lại một ngày bệnh tật của ḿnh: “Lại đọc kinh, lại ngâm thơ, lại làm thơ, lại nhớ, lại nằm. Buổi tối khi ăn xong, cũng vừa đi bách bộ vừa ngâm thơ một cách sung sướng nhất đời. Cả ngày chỉ ngâm thơ và đọc kinh là nhiều hơn cả. Ngày nào cũng như ngày ấy, không thấy buồn lắm, và ngày nào cũng mong mỏi một cái ǵ… [30] Đối với Hàn Mặc Tử, Thơ là Đạo và Đạo là Thơ, Thơ đă đạt tới Đạo và Đạt để đi tới Thơ, hoặc như Hoài Thanh đă nhận xét chí lí: “Thơ chẳng những để ca tụng Thượng Đế mà cũng để nối liền người ta với Thượng Đế.” [31]

Thơ đưa về Đạo, là nẻo đường đưa đến Con Đường. Thơ là giải pháp tạm thời của Đau Thương, trong khi chờ đợi Đạo và Cứu Rỗi miên viễn. Ngày nào cũng mong mỏi một cái ǵ. Nếu Gái Quê, như tôi đă tŕnh bày ở đoạn trên, là thế giới đợi chờ Điềm Lạ, đợi chờ chúa Ra đời th́ Đau Thương làm một tâm hồn mong mỏi Ngày Chúa trở lại (“Mt” 24-42) Hàn Mặc Tử chấp nhận bệnh tật không phải là v́ “do đức Chúa Trời ban xuống” như Trần Thanh Mại đă nói nhưng trước hết v́ nó là hậu quả tất nhiên của nguyên tội và thứ đến v́ nó là phương tiện thân xác mà Chúa đă dùng để cứu thế. Linh mục Charles Journet, giáo sư Đại Chủng Viện Fribourg đă tŕnh bày vấn đề một cách mạch lạc và nhất quán trong tác phẩm về thống khổ: “Chúng ta xem khổ ải của thân xác như một mănh lực hợp-cứu-thế v́ chúng ta tham dự vào đau đớn và huyết mạch của Chúa Kitô. Vậy không có vấn đề đau đớn mà chỉ có huyền nhiệm đau đớn của Chúa Kitô và trong sự tham dự của chúng ta. Như vậy không nên nói đến chấp nhận Đau Thương mà chỉ nên nói đến gia nhập vào công đức cứu rỗi chúng ta không chấp nhận (accepter) v́ nó là một định luật của thể xác; chúng ta thu nhận (adopter) v́ nó nối liền bản thân Thiên-Chúa-hiện-làm-người.” [32]

Đoạn trên rọi sáng lời truyền dạy của sứ đồ Saint Paul trong thư gởi cho người La-mă: “Những đau khổ hiện tại không có nghĩa lư ǵ so với những vinh hiển phải được thể hiện trong mỗi chúng ta. Mỗi h́nh hài chờ đợi là một khát vọng sự thể hiện con cái đức Chúa Trời, với Mơ Ước được giải thoát ra khỏi hư nát, và đạt tới tự do vinh hiển của con cái đức Chúa Trời. V́ chúng ta biết rằng h́nh hài, đến nay vẫn rên xiết trong công tŕnh thai nghén” (“Rom”, VIII, 18-32). Đau Thương hôm nay là thai nghén cho ngày mai, thai nghén một mùa Xuân Như Ư, Người đi trong Mơ Ước… Người Ki tô giáo quan niệm đau thương như một huyền nhiệm, nhưng hữu hạn, trước Thượng Đế là một huyền nhiệm,vô hạn. Tôi thành thật nghĩ rằng Hàn Mặc Tử đă an vui được trong Đau Thương - một hoàn cảnh thể xác, vật chất và tinh thần làm chúng ta phải rùng ḿnh - là nhờ huyền nhiệm đó, nhờ sức mạnh của xác tín. Có lẽ xác tín đó, cộng với bệnh trạng, đă tạo một linh thị cho nhà thơ. Trần Thanh Mại và Quách Tấn đồng ư “là mỗi lần chàng chết đi sống lại (trong mấy năm bệnh chàng bị chết đi sống lại đến bốn năm lần) là chàng đều cảm thấy có bà Thánh Nữ Đồng Trinh Maria đến cứu” [33] . Theo Quách Tấn th́ bài thơ trứ danh “Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh” được viết khi Tử sống lại, trong cảnh đó [34] .

Dù cho rằng mộng mị chỉ là một biến thể của bệnh trạng, th́ dưới ánh sáng của khoa phân tâm, ta có thể đi đến cội rễ của mộng mị, dù xa lạ đến đâu. Cội rễ ở đây, là xác tín trong tâm hồn Hàn Mặc Tử, người đă cam chịu hư nát để chuẩn bị một vinh hiển. Thật ra, niềm tin vào cuộc sinh tồn mai hậu, của linh hồn, ở một thế giới khác, không phải đặc biệt của Thiên Chúa giáo. Trong hầu hết các tín ngưỡng tự nhiên của dân gian, nước nào cũng vậy, đều có mầm hy vọng ở một đời sống khác. Chỉ nói đến ṿng đai tôn giáo chung quanh Thiên Chúa, chúng ta đă có thể kể đến tư tưởng Assyrien, Babylonien, và nhất là Ai-cập, đều có niềm tin đó, như muốn Ra không gian và vượt hẳn thượng tầng. Đức tin của Hàn Mặc Tử không phải ở chỗ mong hồn tới tấp ở ngoài kia vũ trụ, mà ở chỗ t́m gặp Một Người ở cơi quá thinh gian; Hàn Mặc Tử t́m tới chốn chiêm bao ngoài sự thực không phải v́ chiêm bao đẹp hơn sự thực v́ ứ đầy hơi khoái lạc mà chỉ v́:

V́ có đấng hằng Sống, hằng Ngự Trị
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp hư linh (tr. 59)

Bài “Ngoài Vũ Trụ”, mà tôi đă trích các câu trên, tiếp theo hai bài “Hồn ĺa khỏi xác” và “Siêu thoát” soi sáng ư nghĩa của những bài Đau Thương và báo hiệu cho Quần Tiên Hội, Cẩm Châu DuyênXuân Như Ư. Vậy ta có thể đề cập đến một kiến trúc trong thi phẩm của Hàn Mặc Tử không? Đặt dấu hỏi v́ tôi ngờ rằng sự sắp xếp thứ lớp trong tập thơ không phải do thi sĩ, mà những người phụ trách tái bản thơ ông, tức là Quách Tấn hay Hoàng Trọng Miên ǵ đó. Do đó, tôi không dám dựa trên trật tự cụ thể của tập thơ để nói đến kiến trúc, như Marcel Ruf đă nói về “Architecture Secrète” khi tŕnh bày nhất quán thi phẩm Les Fleurs du Mal của Baudelaire. Tôi vẫn theo lối sắp xếp trong ấn bản Tân Việt, v́ nó phản ảnh thứ tự biên niên trong quá tŕnh sáng tác; tôi nghĩ ai bác bỏ thuyết cho rằng Gái Quê sáng tác trước Đau Thương; và Cẩm Châu Duyên, Duyên Kỳ Ngộ sáng tác sau cùng thời kỳ nhà thơ biết Thương Thương. Nhưng dù sao tôi cũng dè dặt mong các nhà biên khảo sau này có nhiều sử liệu đích xác hơn tôi, sẽ đào sâu cơ cấu mạch lạc của vũ trụ Hàn Mặc Tử, trên b́nh diện này hay b́nh diện khác, hoặc trong nguồn sáng tạo toàn diện th́ càng đẹp.
 

 

Xem tiếp Đức tin trong hồn thơ Hàn Mặc Tử (tt)

 


[1]Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, III, 1942 - ấn bản 1951, n.x.b Vĩnh Thịnh, Hà Nội, tr. 325.
[2]Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi Nhân V.N., Thiều Quang tái bản, Sài G̣n. 1967, tr. 204.
[3]Văn, số đặc biệt H.M. Truyện Kiều, 73-74, ngày 7-1-1967, tr. 139.
[4]Trần Thanh Mại, Hàn Mặc Tử, Tân Việt tái bản, Sài G̣n, 1957.
[5]Vũ Ngọc Phan, sđd, tr. 63-83.
[6]Quách Tấn, Văn, sđd, tr.141-148
[7]Thơ Hàn Mặc Tử đều trích từ ấn bản Tân Việt, Sài G̣n, 1959 - ấn bản này không đánh số trang, tôi dựa theo mục lục mà ghi số trang, để bạn đọc dễ kiểm chứng.
[8]Huỳnh Phan Anh, Văn số 73-74 đă dẫn
[9]Vũ Ngọc Phan, sđd, tr. 332
[10]Hoài Thanh và Hoài Chân, sđd, tr. 212
[11]Hoài Thanh và Hoài Chân, sđd, tr. 211
[12]Văn, số đặc biệt HMT, đă dẫn, tr. 120
[13]Jacques Dournes, Dieu Aime les Paiens, Aubier, 1963, tr. 149
[14]Văn, sđd, tr. 47
[15]Vũ Ngọc Phan, sđd, tr. 326
[16]J. E. KERNS. S. J, Les Chrétiens, Le Mariage et la Sexualité. Edit du Cerf, 1966, Paris, tr. 93
[17]J. E. KERNS, S.J, sđd, tr. 94
[18] Quách Tấn, Văn, sđd, tr. 81
[19]Trần Thanh Mại, sđd, tr. 73
[20]Thư MC, do Trần Thanh Mại trích, sđd, tr. 94
[21]Trần Thanh Mại, sđd, tr. 95
[22]Quách Tấn, Văn, sđd, tr. 88
[23]Trần Thanh Mại, sđd, tr. 193
[24]Trần Thanh Mại, sđd, tr. 121
[25]Vũ Ngọc Phan, sđd, tr. 330
[26]Hoài Thanh và Hoài Chân, sđd, tr. 212
[27]Trần Thanh Mại, sđd, tr. 120.
[28]Nguyễn Công Hoan, tạp chí Văn Nghệ Hà Nội số 67, Tháng 12-1962 và 68 tháng 1-1963 về Tú Xương. Tôi có thể đề cập tới trong Bns Văn số 163 ngày 1-10-1970.
[29]Quách Tấn, Văn, sđd, tr. 120
[30]Trần Thanh Mại trích, sđd, tr. 120
[31]Hoài Thanh và Hoài Chân, sđd, tr. 211
[32]Charles Journet, Le Mal, essai théologique, tủ sách giáo lư, Descleé de Brouwer, Bruges, tr. 271
[33]Trần Thanh Mại, sđd, tr. 130
[34]Quách Tấn, Văn, sđd, tr. 75
 

 

Trang Đặng Tiến

Art2all.net