|
BÀI THƠ MAI MỐT TÔI VỀ Của VI KHUÊ
MAI MỐT TÔI VỀ
Vi Khuê Cuộc di tản ra khỏi miền Nam t́m lẽ sống đánh động lương tri của loài người yêu chuộng công lư, hoà b́nh rằng nơi nào chế độ gọi là “xă hội chủ nghĩa” h́nh thành, nơi đó cái địa ngục trần gian đang được tạo dựng! Cuộc di cư hơn một triệu người miền Bắc vào Nam theo tinh thần Hiệp Định Genève 1954, hàng triệu con người bỏ lại tất cả, ngậm ngùi thương tiếc ra đi và cũng đă góp công, góp của, góp máu xương bảo vệ miền Nam, và vẫn đợi chờ có ngày trở về đất Bắc. Định mệnh lịch sử một lần nữa đă quay mặt với con dân miền Nam, tṛng vào họ mỗi người một tai họa tùy cơ chịu đựng và định đoạt. Người người lại ĺa bỏ quê nhà, người người vội vàng xôn xao vượt thoát, người người ngày đêm bung ra hướng biển Đông, khấn nguyện trời lặng biển êm để những tàu thuyền chạm bờ hy vọng. Hàng vạn sinh linh may mắn ơn cứu rỗi th́ hàng vạn thân phận rủi ro khác đắm ch́m cơi thuỷ mộ sâu kín, mênh mông! Nhà thơ Vi Khuê chung ḍng sinh mệnh cam go thách đố ấy và đặt chân lên miền hứa hẹn. Hơn ba mươi năm phấn đấu đă hội nhập vào xă hội đa văn hoá Hiệp Chủng Quốc sinh động, phong phú, ổn định, và luôn hướng lên phía trước, ngày mai, mà h́nh bóng quê hương quá khứ, xuân xanh kỷ niệm, thôi thúc, khơi gợi, nhắc nhở một ước mơ - mai mốt tôi về - và ngày về lần lữa quyện lẫn đắng cay, tiếc nuối : Mai mốt tôi về, tóc đă bạc Tóc đă bạc, thương tiếc nhớ thuở hoa niên, cầu cũ sông xưa, mặt sông phẳng lặng, dịu mát, và tuổi mười tám chất chồng mơ mộng giữa đời :
Đứng trên cầu cũ nh́n sông xưa Dáng dấp cô nữ sinh xứ Huế, e ấp chiếc nón bài thơ, đang đợi chờ, chờ đợi. Nỗi đợi chờ của tuổi mười tám học tṛ, đợi chờ ai? Đối tượng tha nhân đă có lần phác họa, nửa mộng, nửa thực, chung kết một lứa đôi hạnh phúc đầu đời. Vi Khuê mơ về, h́nh dung rơ nét thơ mộng của cô học tṛ mười tám nghiêng nón đợi chờ, ḍng kỷ niệm đậm nét, khó phai. Giấc mơ ấy bỗng gián đoạn, bừng tỉnh bởi h́nh tượng chinh chiến, loạn ly (Ồ không! thuở ấy mùa ly loạn). H́nh như cây cầu đă găy sập từ lâu. Hai bờ sông nối bằng chiếc phà ngang qua lại, xe cộ chuyên chở dụng cụ chiến tranh, con người vào cuộc, huyên náo, rộn ràng, không khí chiến chinh oi nồng, và cô con gái học tṛ mười tám cũng mang dấu mất mát, ly tan.
Chỉ có phà ngang ở bên đ̣ Chiêc khăn sô quấn đầu tuổi trẻ dập d́u hoa bướm như một dấu ấn, gợn dậy suy tư thầm kín khi tuổi mười tám chưa muốn đón nhận liên quan Mộng và Thực, hai thế giới tương phản, bên Tĩnh, bên Động. Thực Mộng tranh chấp, cuối cùng thực đă chiếm lĩnh môi trường, vẻ yên lành rời xa người con gái :
Thôi thế th́ thôi, th́ lận đận Cuộc đời ném cô học tṛ ra khỏi nơi ước vọng. Cô gượng vui chấp nhận “thời thế thế thời phải thế”. Hơn nữa, ư thức cuộc đời xưa nay là đáp số của khổ đau. Ư thức khổ đau biết đâu sẽ nhẹ bớt phần nào đau khổ! Hai câu thơ đă nói đủ nghĩa khổ đau: “lận đận”, “long đong”, “lênh đênh”. Khổ đau không riêng bản thể, lấy khổ đau của tha nhân, vạn hữu, chia sẻ an ủi khổ đau tự thân:
Th́ như ai đó ngoài mưa lạnh Chiến tranh bản chất vốn tàn bạo, hủy hoại. Cuộc chiến Bắc Nam mà kẻ tội phạm là tập đoàn lănh đạo Mác xít. Họ đă nhồi nhét một thứ tư tưởng độc hại với chiêu bài “giải phóng miền Nam”. Họ đă đẩy hàng triệu thanh niên nam nữ vào tử lộ ấy. Tuổi trẻ miền Bắc cũng có thể hiểu được sự hy sinh không chính đáng, nhưng kiếp cá chậu chim lồng, dù vùng vẫy bay nhảy cũng không thoát được khung cảnh không gian vây hăm. Tuổi xuân hàng lớp phải trả cái giá khi tuổi xuân chưa một lần thơm tho hương vị sống. Vi Khuê đă nghĩ về họ bên trời Bắc:
Th́ như ai đó ngoài phương Bắc Đoàn theo đoàn, lớp tiếp lớp, ngàn dặm trường chinh, bước lên tận đỉnh nhọn Trường Sơn đôi bàn chân ứ máu. Khẩu hiệu “xẻ dọc Trường Sơn” như câu kinh nhật tụng, những điệp khúc, âm giai cao vút, thúc hối, cổ suư con người bước tới, vượt khổ tiến lên, từ lúc mặt trời rạng sáng. Sức mạnh, nhiệt t́nh con người nếu có được bao nhiêu th́ cũng đă cạn kiệt qua khai thác, lợi dụng, để rồi khi bóng đêm trùm phủ rừng núi điệp trùng th́ từ những lùm cây, góc suối, bờ khe, tuổi xuân lặng lẽ gục mặt, ḍng lệ tuôn tràn, cho vơi nhẹ oan khiên, đày đọa. Giọt lệ tức tưởi, âm thầm nhỏ xuống giữa đêm đen cho đến một ngày... ḍng lệ từng khóc tuổi xuân nức nở giữa thanh thiên bách nhật. Ḍng lệ Dương Thu Hương tiêu biểu, đứng giữa Sàig̣n, thủ đô miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Bà đă khóc khi nh́n thấy cái chiến thắng của “cuộc chiến tranh ngu xuẩn nhất trong lịch sử dân tộc...” Dương Thu Hương khóc như chưa bao giờ được khóc ở đỉnh nhọn Trường Sơn. Là thành phần trong đoàn “chiến thắng”, sao không hoà nhịp hân hoan nhận lănh vinh quang? Ḍng lệ Dương Thu Hương giải tỏa hoài nghi, bế tắc tâm tư ḿnh, là cảm xúc tỉnh thức lương tri. Đứng giữa Sàig̣n, hoành tráng mỹ lệ, dân quân miền Nam hiền hoà, lịch sự, xă hội miền Nam phong phú, văn minh, đối lập hoàn toàn như hai mặt trái phải mà tập đoàn Hà Nội đă đầu độc, tuyên truyền bóp méo, vu cáo khi bức màn sắt dựng ngăn hai bờ Bến Hải. Thủ đoạn, chính sách man trá, lừa gạt đă bị lật tẩy. Ḍng lệ trong trẻo, chân t́nh của nhà văn Dương Thu Hương không chỉ tố cáo tập đoàn độc tài đảng trị mà c̣n bung sức đấu tranh, không khoan nhượng với chế độ Mác- xít lỗi thời, phi nhân. Nỗi niềm “Móc Trái Tim Đau” mà khóc lóc, ám ảnh tuổi xuân miền Bắc đă lỡ lao vào cuộc bành trướng chủ nghĩa thôn tính và tước đoạt, trong lúc những thế hệ miền Nam nhẫn nhục chịu đựng, quyết tự bảo vệ để sống c̣n :
Th́ như ai đó ở phương Nam Tâm trạng dân lành phập phồng âu lo tai họa tới. Đêm đêm hỏa tiễn, trọng pháo tầm xa quân Bắc rót vào bừa băi bất kể thành thị, thôn quê, gieo hoảng loạn, hăi hùng, tang tóc. Nếu dọc dài Trường Sơn đêm xuống tuổi xuân đau buồn bằng giọt lệ âm thầm, th́ tại miền Nam, đêm dài vô tận do cuộc chiến từ tham vọng, ư đồ phương Bắc. Dưới mái gia đ́nh sum họp, bóng nến vẫn câm lặng, ưu tư. Ḍng lệ con người miền Nam xót thương ḿnh, xót thương dân tộc, lại tiếc hận những kẻ cuồng tín, lạc đường, phung phí máu xương hàng triệu tuổi xuân hiền lương vô tội. Cuộc chiến ngă ngũ, kết cục vở bi hài kịch “cười ra nước mắt”. Chân lư Nguyễn Trăi “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” đă ngược chiều thời đại. Kẻ hung tàn thắng đại nghĩa, cường bạo thay chí nhân, cho nên chí nhân, đại nghĩa t́m đường vượt thoát ra khỏi quê nhà, làm thân lưu lạc :
Th́ như ai buổi đầu lưu lạc Nỗi bức xúc, hệ lụy vẫn đeo đẳng con người cùng đến nơi xa lạ trong buổi đầu tỵ nạn. Ư chí, nghị lực con người cũng đă vượt qua, lẽ tồn sinh thiêng liêng, chỗ nương tựa ngày càng vững chắc, tin cậy, lạc quan, nhưng ḍng nước mắt cho quê hương vẫn đầy vơi thương nhớ. C̣n người ở lại? Than ôi, lỡ vận, lỡ th́, lưu đày trên chính quê hương ḿnh, vong thân giữa xă hội có ḿnh!
Th́ như ai đó nữa, bây giờ
Bài thơ minh họa tiêu biểu thân phận con người trong
và sau cuộc chinh chiến tương tàn. Cái nh́n bao hàm của tác giả qua con
người đau khổ. Kiếp người ngập ngụa nước mắt, nổi ch́m trong bể trầm
luân của cuộc đời, tuy thế con người không thể quay mặt với cội nguồn,
quê cha đất mẹ. Ư nghĩa cuộc sống gắn liền với cố quận, nơi được sinh ra
làm người, mà triết gia Heidegger khẳng quyết cuộc trở về cuối cùng của
con người là nơi từ đó ra đi. 'Mai mốt tôi về’, một hứa hẹn, một ước mơ, dù ngày về tóc đă trắng màu sương. Mai mốt, thời gian bập bềnh trôi chảy qua nhiều mai mốt khác, tác giả vẫn hy vọng thời gian chờ đợi trở về, quê hương thay đổi tốt hơn như hoài bảo của hàng triệu con người mong đợi. Nỗi đau dân tộc bằng ẩn dụ (Sông ơi, đá cũng c̣n cau mặt), lẽ nào con người vẫn vô t́nh hờ hững trước ước muốn đổi thay (mà nước sông sao cứ hững hờ ). Bài thơ c̣n được chú ư qua câu trúc thi ngữ. Động từ “th́” thông dụng trong ngôn ngữ giao tiếp, ít gặp trong thi ca. Tác giả đă sử dụng bổ từ “th́” vào đầu các câu thơ trong một đoạn thơ làm tăng giọng điệu chỉ-định-từ hoặc tính-từ (th́ như ai đó, th́ lận đận, th́ lênh đênh, th́ long đong v.v.). Đóng góp vào cái mới của thơ hôm nay chính là những từ thông dụng chứ không phải t́m kiếm thứ ngôn ngữ kiêu kỳ, khó hiểu. Dùng từ kiêu kỳ, bí hiểm, không hẳn mang tính sáng tạo, có chăng hiển lộ tính cách thời thượng, làm dáng khó coi.
Nỗi xót xa, cay đắng của những chuyến chia ly, đi về
thường gặp ở nhiều nhà thơ, buồn đau có, chịu đựng có, bùng vỡ, thầm
lặng cũng có, sợ hăi thời gian qua mau, mơ ước thời gian đúng hẹn cũng
có. Riêng Vi Khuê trang trải t́nh cảm rất thật, tấm ḷng thơ chân thành
dâng hiến sông núi quê nhà, tâm nguyện tự do, dân chủ, phồn thịnh cho
dân tộc hiện đang sống nghiệt ngă dưới hung lực thống trị của những năo
trạng già nua, bệnh họan.
|