|
Bài thơ THẮP TẠ của Tô Thùy Yên
Dọc lối đi, nàng gặp bao nhiêu sỏi đá, h́nh thể lớn nhỏ, màu sắc lạnh lùng câm lặng. Hỏi ai? Hỏi như thế nào để rơ đá tiên tri? Dù quẩn quanh, bức xúc, dặm đường t́m kiếm như vô cùng vô tận... Đang bước lên độ cao của núi, đang che khuât giữa trùng điệp rừng xanh... nàng câm lặng nguyện cầu... mai sau, quên hiện hữu thời gian phủ xuống nặng nề hai vai thân phận, bởi v́:
Về sau trời có ra sao nữa Đi, đi... là giải thoát, giải thoát ẩn ức chính ḿnh... giải thoát để chịu đựng bằng ư thức, tri ngộ... t́m an ổn ngay giữa truân chuyên, là vươn dậy bằng tâm sức dưới sức đè- h́nh khối thô bạo khôn đọa. Đá tiên tri, có đá nào đón tiếp, mở lời đâu! Chân hồng khuê các đă đến hồi ứa máu (Nàng đi thôi đă nát chân hồng). Thử thách ám ảnh mỗi bước nàng đi giữa bao la thầm lặng. Tiếng con vượn ẩn thân – con vượn cũng vừa mất quê hương như nàng. Con vượn khóc cùng chung giọt lệ chính nàng. Con vượn khóc v́ hối hận, đồng cảm, đồng cảnh với nàng, đă một lần lở dở:
Nghe con vượn ẩn thân khóc hối Qua khỏi bao rặng núi, nàng đă tới rừng sâu. Rừng sâu u ẩn lá! Cô quạnh hiu hắt khí lạnh rừng xa... Những trái nưa rừng rơi bơ phờ. Nàng nhặt lấy, và hy vọng, sắc nước nưa may ra nhuộm thắm phần nào ḷng dạ kẻ bất hạnh, khổ đau đang chất ngất... Một sát na, bất ngờ tỉnh thức, xung quanh nàng, cỏ cây chen lấn, quấn quưt nhau, gắn bó họ hàng, đồng lối... Ư tưởng tồn tại nhân sinh khác nào quy luật sinh hóa vạn vật. Một không thể tự tồn giữa xă hội, mà ắt đủ phải hai, ba, bốn... hoặc số lượng cao hơn. Sống, tồn sinh thân mật, ḥa đồng và không lọai bỏ tương quan nợ nần cuộc sống:
Thấy trăm họ cỏ cây chen quấn Thế mà cũng đă có lúc lỗi hẹn, phụ bạc nhau, trách chi trước nhiễu loạn hoàn cảnh riêng lẻ... Trung ḥa xă hội, cộng đồng là sự phối hợp hai mặt, tốt, xấu lăn trái phải... Chấp nhận để hoàn thiện tương quan ổn định giữa người và người, là mối di biên từ gạn lọc đăi trong. Sự nhận biết bắt nguồn từ mỗi phần vụ giác quan mà trí tuệ chung quyết...
Nếu như hoa biết chiều nay rụng Nàng, người phụ nữ Việt Nam, người vợ có chồng cách biệt. Nàng, một số phận trong hàng triệu số phận đă vững bước đi qua giai nhịp cầu đời – can đảm và cam chịu, tự tin và hy sinh (Mưa nắng ǵ thôi cũng một th́...). Biện chứng chuyển hóa của cuộc đời là đạo lư, thứ thẩm mỹ thâm sâu, cốt cách không thể lăng quên, nguội lạnh, dù phải kinh qua những đe dọa, những thách đố, áp bức... Những kỳ diệu đó có từ người vợ:
Rau hạnh, rau vi từ lúc có Chân hồng đă nát, dặm trường ngun ngút, nàng vẫn bước đi... mà chưa đến. Cũng giữa thế giới núi rừng giấu mặt, mang những con số thay tên gọi, người ta đang dẫn con người thành thị văn minh, lột xác, mang lông lá để thành con vượn. Con người bại trận trong ṿng vây thù hận: xua đuổi, đe dọa, hận thù thắp sáng ư nghĩa trong sáng cao thượng, không oán hờn, dằn vặt. Chưa bao giờ trỗi dậy mầm thù oán mà chỉ nguyên vẹn nỗi tiếc nuối lỡ lầm đă trở thành cuộc diện khó phục hồi.
Lâu ngày, thân thể rách như gió Cuộc đổi đời triệt để, tàn nhẫn giữa thời đại loài người khắp hành tinh đă và đang tiến bước theo đà văn minh cấp tiến. Cuộc đổi đời của một miền Nam bái trận, tưởng chừng đă bị lịch sử lăng quên, chôn vùi..., đă đường cùng, nghẽn lối, ắt phải bùng phá, khai thông (cùng tắc biến, biến tắc thông). Nàng đă qua bao nhịp cầu cam mặc, thiệt mất mây độ xuân th́ (mưa nắng ǵ thôi cũng một th́), thế nên có ngày, có lúc nàng được đền bù, đáp tạ... Chẳng lăn lộn, mơ hồ giữa thực và mộng nữa. Nàng tiếp tục cuộc đi và đă đến nơi ước vọng:
Một mai nàng đến thành hoa gâm Thành hoa gấm – đất tự do – trung tâm điểm mơ ước của rất nhiều người từ những lục địa bất an, bất hạnh. Nàng được đón tiếp, ca ngợi. Một buổi chiều cất cao tiếng hát chân phương, điệp khúc sống của loài người, nàng đă nhận bao nhiêu tiền thưởng từ những bàn tay đôn hậu, những tấm ḷng nhân ái. Ḥa đồng nỗi vui mừng, chẳng những chỉ có đồng lọai, mà cả trời cùng biển, biểu dương, tôn vinh nàng một cuộc tái đổi đời – vinh hạnh, vững bền.
Vui nôn náo trời, thốc tháo biển... Cuộc biến đổi kỳ diệu, thần thánh – từ địa ngục trần gian, nơi kẻ ác dựng lên do thù hận – những nạn nhân khốn khổ sau một cuộc chiến tranh, bỗng đáp xuống cửa ngơ thiên đường hạ giới. Dung mạo con người hồi sắc, tươi thắm, chân thân khỏe mạnh, thoáng đạt an lành trong môi trường tinh khiết bao la... Ngọai giới đảm bảo sinh mệnh con người, dâng tặng, cấp dưỡng trong điều kiện có và đủ. Quay theo ṿng quay biến đổi mới mẻ ấy, con người vẫn vướng bận, khắc khoải từ nơi tâm ḿnh. Tự hỏi: Địa giới nào đây? Quê hương ai? Một tiếng gà, một ánh trăng tựa hồ xa xôi, bàng bạc... Mộng hay thực mà sao nỗi hoài nghi lộn kiếp, hoang mang, rời ră tư duy... mà ngờ ngợ từ nơi chôn xa xăm hầu như huyên tưởng:
Gà nửa khuya gáy xổ trăng muộn Bài thơ dẫn dắt người thưởng thức suôt một hành tŕnh của nhân vật “Nàng”. Cuộc hành tŕnh – một bi kịch thời nay, chứa đựng những hồi, lớp thử thách, bất ngờ, đồng, dị... diễn đạt chiều sâu tâm trạng người trong cuộc về triết lư nhân sinh tải đạo. Nàng được “thắp tạ” bởi nàng là h́nh tượng của đạo lư và con người sắc thái, truyền thông dân tộc. Nhà thơ Tô Thùy Yên luôn biểu hiện tính cách sử dụng thi từ. Luôn có những từ mới. Những sáo ṃn, cũ kỹ đă được lối bỏ, lơ quên. Những cụm từ “nát chân hồng”, “vượn ẩn thân khóc hối”, “rách như gió”, “gà gáy xộ” v.v... khoác vào câu thơ nhiều thi ảnh hiện thực mà tinh tế. Lối đảo ngữ trong một vài câu thơ, mà cuối câu là một liên từ, hay động từ vẫn giữ được trọn vẹn ư nghĩa: - Đá, chẳng đá nào lên tiếng với... ; hoặc: - Rau hạnh, rau vi từ dạo có... Có khi, tác giả cấu trúc câu thơ bằng âm tiết “trắc” nhằm diễn tả thời điểm đọng, ngưng đọng dài hơn, chờ đợi một hiện tượng ứng chuyển. Ví dụ: nửa khuya, gà gáy xộ, trăng muộn. Con gà chỉ gáy xộ, trong lúc chờ có ánh trăng lên muộn, trăng chưa lên sẽ chưa động tiếng gà. (trạng thái ḥa nhập thời gian). Cảm nhận hoặc thưởng ngọan bài thơ bằng trực giác, cũng đă thấy được những ẩn dụ răi rác phô bày ấn tượng thẩm mỹ của thơ:
Mây bay bay như những vẫy biệt Thành tâm “thắp tạ” của Tô Thùy Yên đối với ân nhân (thắp tạ nhân quần, một luyến thương) c̣n lan tỏa vầng sáng của một giấc mơ về quá khứ thời đại ở quê nhà, nơi người thơ được cưu mang. Giấc mơ về (mơ lại) của Tô Thùy Yên là cơi mộng tái hiện trùng trùng thương tiếc. Một tín hữu của Đức Phật mỗi khi ngước mặt trông vào hư vô, thường thầm niệm: “Một trăm năm trước ta biết được ǵ đă xẩy ra; một trăm năm sau ta biết ǵ sẽ đến”. Vạn vật tất yếu tuân thủ quy tŕnh vận động tồn sinh. Núi, sông có nơi, có lúc “sông đổi ḍng, núi chuyển chân”. Tuy nhiên, cuộc biến đổi thần bí nào đó có thể bất ngờ, hoặc một luân hồi ngọai lệ nào tái hiện, trong đó có tác giả, có đủ thời đại, xă hội, môi trường cũ, đă từng tan biến giữa ḍng lịch sử... th́ thân phận như dă tràng xe cát uổng công vẫn được ghi ơn, thắp tạ. Sống và suy nghĩ như đă có. Tinh thần kẻ sĩ, nhất quán, khuôn định trước sau, tôn trọng sự thật, can đảm nhận lănh trách nhiệm. T́nh yêu quê hương, đồng loại đích thực, nền tảng của sức mạnh đấu tranh quá khứ, dù dă tràng chỉ cống hiến, đóng góp hoài công, cũng không thể không là giấc mơ manh nha, trường tái.
Biển Đông đă một ngày xe cát
Thân dă tràng bé bỏng mà sức mạnh vô chừng, v́ dă tràng có tư tưởng.
|