|
VẤN ĐỀ LƯ LUẬN VÀ PHÊ B̀NH VĂN HỌC
Lư luận, phê b́nh văn học được nhận như một phạm trù sáng tạo. Những thập niên đầu thế kỷ 20, văn học, nghệ thuật phương Tây phát triển đa diện, nhiều khuynh hướng mới. Mỗi trường phái nổi lên tính cách đặc thù, riêng rẽ, những tương phản, đồng, dị tự phát ngay trong quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật hoặc nghệ thuật vị nhân sinh”. Qua đó, lư luận, phê b́nh đă được chú trọng, những trao đổi, đối thoại, tranh luận đă được nhiều giới trí thức, học giả, văn nghệ sĩ tham gia, một số nhân vật tích cực đóng góp được quan tâm như N. Boileau, A. Malraux, Sainte Beuve, tiếp đến có J. Paul Sartre, E. Zola,... Du nhập ảnh hưởng văn chương lăng mạn Pháp, kể từ 1930, văn học Việt Nam xuất hiện phong trào thơ mới, văn truyện mới, những tên tuổi c̣n lại đến nay, có Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Hoàng Ngọc Phách, và đáng chú ư, có nhóm Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam. Bộ môn thơ có Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư... Hai tác phẩm luận b́nh văn thơ thời kỳ trước 1945 với Vũ Ngọc Phan (4 tập Nhà văn Hiện Đại) và Hoài Thanh – Hoài Chân (1 tập Thi Nhân Việt Nam) giúp cho thế hệ kế tiếp nhận thức về một không gian văn học không thể thiếu của dân tộc ta dưới thời thuộc địa.
Tháng 8-1945, lịch sử chuyển ḿnh, vận hội dân tộc đứng lên dành độc lập,
đưổi ngoại xâm, nhưng tiếc thay cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
dần dần đă bị phe nhóm Cộng sản lợi dụng, tiếm toàn bộ công lao chiến
đấu, cướp trọn quyền lực, dẫn dắt đất nước lệ thuộc vào chủ nghĩa
Mácxít-Lê nin nít c̣n nguy hiểm hơn cả thực dân phong kiến. Cuộc chiến kết thúc tháng 7-1954 chia hai miền Nam Bắc. Gịng sông Bến Hải ranh giới hai chế độ chính trị, đồng thời cũng là ranh giới hai hướng văn học đối kháng nhau, kéo dài đến ngày nay. Vụ án “Nhân văn Giai Phẩm” mở đầu tố cáo đường lối văn nghệ, văn học của chế độ Hà Nội năm 1955. Bằng mọi thủ đoạn, phương pháp, tập đoàn cầm quyền đă đàn áp, bắt bớ, lưu đày văn nghệ sĩ, trí thức, thành phần tiên phong, lấy cây bút làm vũ khí đấu tranh cho tự do tư tưởng và ngôn luận. Vụ “cải cách ruộng đất” trên toàn miền Bắc năm 1956, đă giết chết hàng vạn lương dân, đă lộ rơ chân tướng phi nhân, phi đạo! Tại miền Nam, văn nghệ, văn học phát triển trong môi trường phóng khoáng, cởi mở, tự do. Tuy thế, hiện tượng xă hội, lịch sử, thời đại chưa được phản ảnh rộng răi. Cuộc di cư vĩ đại của hơn 1 triệu đồng bào từ Bắc vào Nam, không chấp nhận chế độ Hà Nội là một sự kiện lớn, nhưng không có một tác phẩm nào đề cập, ghi nhận, có chăng qua bản liệt kê thành tích từ chính quyền Quốc Gia. Thảng hoặc thơ văn, sáng tác c̣n mang nặng tính lảng mạn trước 1945, và cứ thế trải dài cho đến khi cuộc chiến nổ ra làn sóng đỏ bắt đầu bành trướng, xâm chiếm, gặm nhấm miền Nam. Tác phẩm dành cho chủ đề chinh chiến, bảo vệ đất nước, quê hương, lư tưởng Quốc gia, cổ vũ tinh thần chiến đấu cũng hiếm, lại c̣n im lặng chấp nhận tư tưởng phản chiến, thờ ơ, bàng quan trước thời cuộc, vô trách nhiệm – nhưng mặt khác- nói lên được một điều. Miền Nam thật sự có tự do sáng tạo, không bị câu thúc chi phối bởi một đe dọa nào. Tại miền Bắc, những nhà lư luận phê b́nh, tuy có nh́n nhận rằng “có thể chấp nhận mọi trường phái, phương pháp và điều kiện những trường phái đó, những phương pháp đó, sáng tạo v́ mục đích cao cả Chân Thiên Mỹ”. Nhưng họ lại khẳng định là “phải phấn đấu cho chủ nghĩa hiện thực xă hội chủ nghĩa trở thành thực sự chủ lưu của nền văn hóa dân tộc” (Hà Xuân Trường – cuốn Đường lối Văn nghệ Đảng – tháng 5-1975).
Cách biện giải rơ là: người Cộng sản luôn đề cao, tôn vinh sắc thái văn
hóa dân tộc - Chân, Thiện, Mỹ – lại không hàm chứa ư nghĩa đích thực –
nó chỉ thu hẹp trong khuôn mẫu bản sắc, bản thể – loại Chân Thiện Mỹ do
quyền lực đề xướng, áp đặt, đúc kết, tựa hồ món hàng mẫu, và đương nhiên,
mọi sáng tác phẩm văn học buộc theo quy tŕnh, quy phạm nhất định, rập
khuôn – lệch ra ngoài, dù chỉ gang tấc cũng bị loại bỏ, truy cứu, phê
phán gay gắt. Phản đề – hợp đề – ḍng chính tương quan tham luận, thảo luận, tranh luận – Thảo Luận hoặc Tranh luận một chủ đề, một luận điểm văn học nghệ thuật – là tiến tŕnh t́m kiếm, so chiếu, phát hiện và cũng là sáng tạo. Lư luận thiếu nhận thức cả quan sát hiện thực xă hội, đời sống, con người, sáng tạo sẽ lúng túng, vấp váp, chật vật, không phô diễn được cái cốt lơi, cái cần thiết, cái mong muốn, có khi những sự hiện biểu hiện chủ quan, giả tạo, vô cảm... Với người Cộng sản, nội hàm tranh luận mang tính tự do chăng nữa, th́ kết cuộc vẫn là một h́nh thái tiền chế. Phủ nhận góc cạnh đối lập đă soi sáng qua lư luận, cuối cùng đồng quy vào mốc điểmn giáo điều, tiếm đoạt sứ mạng hàn lâm. Sau tháng 4-1975, ắt hẵn, rất nhiều văn nghệ sĩ, học giả, trí thức miền Nam trong các trại “cải tạo lưu đày”, đă hơn một lần đọc và hiểu nhiều tập truyện của tác giả trong phe xă hội chủ nghĩa, điển h́nh cuốn “Thép đă tôi thế đấy” và “Ruồi Trâu” (tác giả Liên Xô). Khỏi phải chờ đọc hết trang cuối sách, cũng đă dự báo phần kết của hai cuốn truyện nầy. Trọn vẹn là những mẫu mă, có thể sản xuất hàng loạt – chuyên chở một thứ nội dung nặng mùi tuyên truyền, khích động, đồng thời đả phá tận gốc các đối tượng thù nghịch ư thức hệ. Nền văn học Nga dưới chế độ Xô viết, thông qua và tuân phục phương pháp luận duy vật đă gieo nọc độc hại, gây mê hàng ngũ văn nghệ sĩ suốt 70 năm, cho đến nay, sự thay đổi bối cảnh xă hội, chính trị, vẫn chưa thức tỉnh được tư duy lớp người mang danh cầm bút nầy. Phản ứng có điều kiện của Páp lốp – cái gông sắt c̣n nặng ṿng cổ họ. Từ đó đến nay, nước Nga mới chưa có được một tác phẩm văn học nào phản ảnh đời sống, thái độ và suy nghĩ của người Nga phù hợp với trào lưu tiến hóa nhân loại dưới bầu trời tự do, mà lư tưởng sáng tạo văn học nghệ thuật đang ước mong, chờ đợi. Tại Việt Nam, sau thử thách đổi mới, tức nước vỡ bờ, t́nh h́nh sáng tác và lư luận văn học tuởng đă phần nào thoát ra được ṿng vây hăm triền miên của chủ nghĩa lỗi thời, lạc hậu. Một vài tác giả mang bệnh lư ẩn ức trầm kha đă chợp thời cơ cất cao tiếng nói theo đà đổi mới như Dương Thu Hương, Dương Hướng, Đào Hiếu... Các tác giả nầy đă có tác phẩm mang nội dung thoáng hơn, mạnh dạn hơn qua suy nghĩ và sáng tác những điều cấm kỵ trước đây đă được giải mă phần nào. Tập đoàn cầm quyền đóng vai tṛ đồng lơa giai đoạn, để chứng tỏ với quần chúng, dư luận trong và ngoài nước rằng, họ đă bắt đầu tiếp nhận luồng sinh khí, tiến lên phía trước theo hướng tự do. 30 năm qua, người Việt khắp nơi hải ngoại đă ư thức rơ vấn đề tập hợp đấu tranh văn hóa là chính, trong đó có văn học, đẩy lùi xóa bỏ văn học Mác xít, xói ṃn chế độ chính trị độc đảng, xấu xa, bất lực đưa dân tộc đến bờ vực nghèo đói, tha hóa và ruỗng nát đạo lư làm người... Số văn nghệ sĩ trước 1975, và những thế hệ tiếp nối sau 1975 tại hải ngoại ngày càng bổ sung lực lượng mạnh mẽ, đồng thời văn hóa phẩm, sách báo, truyền thông cũng phát triển trên diện rộng. Tác phẩm truyện, thơ muôn màu muôn vẻ bên ngoài, nhưng chưa hoàn thiện nội dung, chưa khai thác đúng mức chiều kích của một tập thể, cộng đồng lớn, lư do dễ nhận diện: thiếu nền tảng “lư luận và phê b́nh”. Thành phần trí thức, học vị cao, học giả giàu kinh nghiệm, văn nghệ sĩ kinh qua hệ lụy lịch sử rất đông đảo, lại ít ai chú trọng lĩnh vực lư luận phê b́nh. Ngày nào lư luận phê b́nh không được chấn hưng, phát huy tác dụng, làm động lực thúc đẩy sáng tạo, th́ ngày đó, t́nh trạng tự phát mâu thuẫn phi nguyên tắc, trật tự văn nghệ, văn học bị lũng đoạn. Không t́m phương cách giải tỏa thích ứng trên căn bản lư luận và mang tính khoa học – là cái CHÂN – mà nhận thức mỗi con người văn hóa, văn học chỉ biết chấp nhận những ǵ lẽ THẬT, và loại trừ trí trá, ngụy tính.
Mong sao, lĩnh vực lư luận phê b́nh được quan tâm hơn dù đă muộn. Nên
hiểu rằng: Không có lư luận phê b́nh văn học th́ sẽ không có văn học./.
|