|
LAIQUANGNAM
Bạch Cư Dị 白居易
CẢM KÍNH
laiquangnam dịch tặng cho những người đàn ông Việt xa quê cuối đời lúc thúc một mình, trong lòng biết bao thương nhớ người vợ hiền thục .
Nguyên tác chữ Hán
感 鏡
1- 美人
與
我
別,
Phiên âm
Cảm kính
Mỹ nhân dữ ngã biệt
*
Có bản trên mạng internet ( gốc từ Trung hoa lục điạ ) ghi tại câu 8, chữ chiếu [ 照 ] ,
8-
自照 憔
悴
容。
Tự chiếu tiều tuỵ dung,
trong khi các bản của VN thì ghi tự cố [ 顧 ] trong bản Thơ Đường của giáo sư ĐHVKSG và ĐHSPSG Trần trọng San thì ghi là cố [ 顧 ], có lẽ bản nguồn của Trân trọng San này cũng có lý do bởi hai câu 8, 9 liền nhau, có mười từ mà đến có hai chữ “Chiếu “ lặp lại là điều mà người xưa thường tránh .Thế nên hai câu
8- 自顧
憔
悴
容。
Tự cố tiều tuỵ dung ,
có thể hay hơn là bản có nguồn từ Trung hoa lục địa .
*
Chú vài từ và tạm dịch nghĩa
a- Cảm kính , tạm dịch ý : Nhìn gương thương cảm . b- Thức, từ tiếng Tàu , [ 拭 ] là lau, phất thức là lau quét . c- Chiếu 照 là soi, tiếng Việt ta còn từ chiếu cố, chiếu (đt) còn nghĩa là dựa trên … ví dụ chiếu văn bản … d- Cố 顧 là trông lại, tự cố là tự ngắm …., trong tiếng Việt ta còn từ cố vấn.
tạm dịch nghĩa toàn văn
Nhìn gương thương cảm
Người đẹp cách biệt ta
Dịch thơ quốc âm
Cảm kính (Cảm xúc qua gương)
Mỹ nhân từ dạo xa ta, Chiếc gương trong hộp là quà chia phôi (!) Mặt hoa từ dạo xa rồi, Nước thu thấy đó mấy hồi thấy sen. Suốt năm không mở thành quen , Bụi hồng bám kín phủ hoen gương đồng, Sáng nay, gương mới lau xong, Mặt ai hốc hác nhác trông… sững sờ! . Soi xong buồn vẩn buồn vơ, Cặp rồng còn múa sờ sờ sau gương.
Lqn – dịch – thg6-15-2007
-o0o0-
1- Từ Mỹ Nhân dùng để chỉ người đẹp một cách toàn diện, cả từ dung nhan đến nhân cách, nhất là với những ai dùng chữ này. Đừng dịch ra là người đẹp. Trong tiếng Việt mình, đôi khi từ “người đẹp” dùng để bỡn cợt đối tượng nữ, ví dụ: đi đâu mà về khuya dzậy người đẹp. Trong trường hợp bỡn cợt này người ta không thể dùng từ mỹ nhân trang trọng. Vậy quý cô, quý bà khi nghe ai khen “người đẹp” xin đừng có vội mừng.
|