LAIQUANGNAM

Cao Bá Quát
 高伯适

(1809-1854)

 

laiquangnam giới thiệu thơ văn Cao bá Quát

Thanh Tŕ phiếm chu nam hạ

 

1- Nguyên tác

清池 舟南下

 

清潭催別袂
珥水濺行襟
沙闊黄雲暮
天低白日沈
客舟寒氾氾
江色晚陰陰
不見波濤壯
安知萬里心

 

2- Phiên âm

Thanh Tŕ phiếm chu nam hạ

 

Thanh Đàm thôi biệt duệ

Nhị Thủy tiễn hành khâm

Sa khoát hoàng vân mộ

Thiên đê bạch nhật trầm

Khách chu hàn phiếm phiếm

Giang sắc văn âm âm

Bất kiến ba đào tráng

An tri vạn lư tâm.

 

Cao Bá Quát

  

3- Ư kiến của laiquangnam  về việc dịch tiêu đề thơ cổ văn của tiền nhân   

Thanh đàm phiếm chu nam hạ

 Tạm dịch tiêu đề: Từ đầm Thanh chèo thuyền xuôi NAM

 

Laiquangnam xin có đề nghị nhỏ là khách thơ hăy cố nhớ lấy vài chữ nho thuộc tiêu đề trong thơ nguyên tác. V́ sao ? v́  từ đó ḿnh có thể truy t́m nó trên mạng Google. Google cái ǵ cũng có. Với thơ tiền nhân th́ sự nhớ như vậy cũng đáng bỏ công nếu ḿnh sau này muốn dịch lại cho đạt với khẩu khí của ḿnh, của địa phương ḿnh, của thế hệ ḿnh. Thơ chữ Hán của tiền nhân người Việt tuy không nhiều nhưng quá hay nhất là thơ đời Lư Trần, thơ thiền, thơ  của Cao bá Quát  hay của Nguyễn Du. Mỗi người  có cái “ air ” rất riêng, có khi năm ba năm sau đọc lại thấm, th́ bản dịch của ḿnh sẽ sống theo thơ tiền nhân,l aiquangnam nghĩ đó là việc nên làm và nay th́ xin chia sẻ cùng khách thơ  thuộc thế hệ sinh thập niên 1940.

 

4- Ư kiến về việc dịch sang thơ quốc âm với chữ quốc ngữ ngày nay

            Việc dịch đúng thể loại ngũ ngôn như nguyên tác bằng chữ quốc ngữ cho hay ai cũng chịu, đó là đích đến cuối cùng khi khép lại bài thơ cổ văn. Với thơ tiền nhân các khách thơ cùng nên  góp một tay. Có khi giới thiệu và dịch áp sát mà đạt th́ công đức ấy lớn lắm. Việc  thông mặt chữ Tàu và việc dịch chuyển âm là hai việc khác nhau. Một bên uyên thâm, phương pháp và giải pháp  làm việc, một bên là  tài hoa, sân chơi cổ văn nước ta c̣n rộng lắm.

 

5- laiquangnam chú thích vài từ xa lạ  nay không c̣n dùng nữa, hay có  tần số xuất hiện rất thấp trong ngôn ngữ Việt ngày nay.

 

Trong câu tiêu đề  Thanh Tŕ phiếm chu nam hạ

 có từ  phiếm [ ]  là chèo, chu là thuyền

câu 1 có - đàm  là đầm, thôi là thôi thúc, duệ ống tay áo

câu  2 có - tiễn là vẫy, khâm là cổ áo, vạt áo

câu 3 có - khoát là rộng, mộ là trời về chiều 

câu 4 có - đê là cuối xuống, trầm là d́m xuống nước, hàm nghĩa trời đất đă gần nhau lắm.

câu 5 có - phiếm () này là lớn, phiếm phiếm [氾氾]rất lớn, không hay bằng cụm  “mang mang mê mê” trong Việt ngữ 

câu 6 có - văn là  trời tối, âm âm không hay bằng cụm  cụm “âm âm u u “ trong Việt ngữ,  cảnh sắc rờn rợn âm u …

câu 7 có - tráng là mạnh ( từ Việt Hán, từ thường dùng, cường tráng)

câu 8 có - An tri là  làm sao mà biết.

 

Khách thơ  cần quan tâm thêm chút nữa, Cao bá Quát dùng rất nhiều từ đa ngữ nghĩa, đầy ẩn dụ  như  thôi ( trong thôi thúc), ống tay áo, cổ áo ( đừng dùng “vạt áo “ thay cho  cổ áo). Cổ áo ướt, chỉ hành nhân cúi thấp tâm t́nh cùng gịng sông quê hương và Nhị hà  th́ âu yếm vẫy nước lên người con trai thương yêu của ḿnh khi họ chia tay. Tiền nhân ta có ư lắm, mây vàng, chiều, cát, băi cát, cúi thấp, trầm, hàn, chiều tối. Bất kiến ! ngôn ngữ rất Cao bá Quát, dằn mạnh.

1- thả ống tay áo báo cho biết sự bịn rịn  chấm dứt.

2- mây vàng là điển từ, xuất hiện  trong tục ngữ, mây vàng th́ gió mây đỏ th́ mưa

3- tiễn là vẫy, một từ đa ngữ nghĩa, tiễn không nên dịch là bắn sẽ không tinh tế với Cao thi bá

4- Sa khoát là băi cát rộng, trong bài Trường sa hành (CVCN, art2all.net ), Cao bá Quát mô tả ngừời  hành nhân bối rối v́ mỗi bước đi lên th́ cát kéo chân lùi lại. Nhắc lại Cát trong thơ Cao bá Quát đầy tính ẩn dụ, mênh mông và không mấy thân thiện với người ra đi. Nỗi cô đơn của hành nhân không tiến lên được đành đứng giũa trời mà chịu trận. Trường sa hành là bài thơ hay của Cao bá Quát

5- do là thơ ngũ ngôn, chữ phải cô đọng, nên chữ “ hàn” hàm ư cô hàn ( khách & thuyền lạnh và cô đơn.)

 

Laiquangnam dùng lời chú giải trên đây và dưới đây, chỉ mong Khách thơ góp công bỏ ống cho tiền nhân ta bằng các bản dịch súc tích hơn, hay hơn, áp dịch hơn, nhằm tạo ra một làn sóng yêu thích thơ tiền nhân ta. Việc  này dẫn đến một kết quả rất đáng mong ước của thế hệ ḿnh, là làm sao cho số người  giới thiệu ba cái thơ Tàu, đường cát đường phèn  nay đă  quá quắc trên không gian bơn bớt lại mà chuyển sang giới thiệu và dịch thơ tiền nhân.

 

            Ư thơ, Hành nhân ra đi vào lúc trời về chiều sau khi ngồi uống rượu bên bờ đầm Thanh thuộc Thanh tŕ, ngoại vi nội thành Hà nội ngày nay. Lúc ra đi trời có gió, trời đă về chiều,  trước mặt là băi cát  rộng gây ấn tượng không mấy thân thiện trong tâm trí ngừời đi. Con thuyền cô đơn đi không bao lâu th́ trời tối. Hành nhân ra đi với ḷng mong ước có dịp đem tài năng và sự đảm lược ra phục vụ đất nước. Thương thay, một dự báo bất hạnh cho tác giả. Đau thương thay dân tộc Việt mất một kỳ tài văn học chỉ  đứng sau Nguyễn Du và Nguyễn Trăi.

 

Nhắc lại ḍng thơ Thất ngôn bát cú luật thi của Tàu, họ dùng các  qui ước sau, một là dùng điển từ, từ rút từ các bài thơ cổ, ca dao, thành ngữ, hai là dùng  điển tích, ba là dùng địa danh để tăng độ nén cho bài thơ có số chữ hạn định. Xin đọc bài Hoàng hạc lâu của laiquangnam đầy đủ ư hơn.  Người Việt ḿnh với thứ chữ Việt alphabet  ngày nay của ta so ra có  ưu thế tuyệt đối  hơn so với thơ chữ Tàu ngày xưa. Một là  do v́ thơ Việt có  dấu chấm câu, có chữ thường, chữ  hoa, hai là cộng  thêm các thủ thuật của Kưhiệuhọc  đă  góp phần  tăng độ nén câu thơ của tiền nhân ta ..Ví dụ, kư hiệu  gạch dài (_) trước  đầu từ  trong câu thơ dịch là sẽ chỉ cụm từ ấy là câu thoại  nội tâm, hay là  một cách viết đa dạng như q(Q), q(Q)ua,  như g(D), như g(D)́  có nghĩa là qua hoặc Qua ( đă nhân  cách hóa ), g (d) đọc là ǵ hay D́  và hiểu theo với nó một kư hiệu, một kư tự  mà có hai âm đọc thành lời. Dân miền Bắc, dân miền Trung (Nam Ngăi B́nh, Phú… ), dân  miền Nam  mỗi miền đều có thú thẩm âm  khác nhau. Thú vị !  Chính những điều này làm cho ta thán phục tiền nhân ta. Tại sao tiền nhân ta  bỏ ngay lập tức thứ chữ Tàu, h́nh vuông, bùa chú từ ngàn năm qua  mà quay ngay sang với thứ chữ phiên âm alphabet vô cùng tiện lợi  nay là điều dễ hiểu. Các  ḍng Việt khác, theo ư phân loại của  Hán tộc, là Nam việt ( Quảng đông ), Mân việt (Phúc kiến).. .các ḍng Việt này lại không làm được điều mà dân Đại Việt, ḍng lớn nhất, bền bỉ nhất  trong ḍng Bách Việt  làm được, điều này  đă chứng minh rằng đă có  bản sắc rất riêng của giống ṇi Đại việt trước khi bị Tàu vùi dập.   Có thể nói chữ viết này là sự  hoàn chỉnh nhất trong ḍng dùng các kư tự alphabet để ghi lại ngôn ngữ giao tiếp ngày nay trên thế giới. Viết sao đọc vậy mà lại rơ nghĩa khi tưởng chùng như đồng âm do sắc giọng từng miền.  Người Việt hiện nay chỉ  cần quan tâm thêm chút nữa thôi là ngôn ngữ ḿnh sẽ trở nên hoàn chỉnh hơn, ḥa nhập vào nền văn minh thế giới toàn cầu hóa như hiện nay một cách nhanh hơn  thuận lợi hơn, đó là làm rơ tính song âm, tam âm, tứ âm của người Việt. Thay v́ viết toàn cầu hóa ( ba từ rời ) mà ta viết toàncầuHóa, th́ rơ ràng chữ hóa đây là một hậu tố (suffix) , hóa là làm cho có,  hay các chữ xanhŔ, điĐi, ngủĐi, ăn Đi, rơ ràng vai tṛ của các chữ ŕ, đi đă khác hẳn.  SắpNhỏ sinh ra tại xứ người, tụi nó có thể hiểu được qua tiếng quê hương Việt Nam  nhanh hơn v́ nó đă quen tiéng tây tiếng u , thư tiếng của quêhương mới  dung nạp của nó  …. Đó là việc mà các thế hệ “ sắp nhỏ” sẽ làm tiếp …vv và vv…nhưng người lớn cũng phải gợi ư mà thôi. Xin mời khách thơ  đọc lại bản dịch nôm của laiquangnam  lần nữa, như là một  thí dụ

 

Do laiquangnam nay chưa kham nỗi dịch áp ngũ ngôn quốc âm cho hay nên đành dùng lục bát và song thất  lục bát  để chuyển ư thơ tiền nhân  vậy. laiquangnam xin đóng góp vài chú thích nhỏ, có ai đó sẽ dùng, như là sự chia sẻ cùng khách thơ trước gánh nặng mà thế hệ ḿnh đă vác.

 

Hai bản dịch quốc âm

với thể văn truyền thống Việt

 

01

 

Lục bát

Thanh Đàm thúc , _thả ống tay, 

Nhị hà vẫy nước áo hoài cổ ai.

_Mây vàng! _chiều!… _cát! _băidài!

Bầu không vơng xuống, trời lài lài rơi. 

 

Khách thuyền cô lạnh bời bời

Sắc sông, sắc tối , sắc trời âm âm     

_Sóng cuồng!_không gặp, _trần thân! 

“_Dẫu tâm ngàn dặm” ai lần cho ra.

 

 

02

Song thất  lục bát

 

_Buông ống tay, Thanh Đàm giục ngược, 

Sông Nhị ḿnh vẫy nước cổ ai.

_Mây vàng! _chiều!… _cát! _băidài!,

Bầu không chùng xuống, trời lài lài rơi. ….

 

Mang mang…  thuyền khách trời cô lạnh,

Sông sắc âm âm cảnh tối trời.

Sóng cuồng không vấp trong đời

_Dẫu tâm vạn dặm, ai người biết q(Q)ua? .

Laiquangnam

 

Chú riêng :

Các từ đậm nét, là từ Việt đa ngữ nghĩa _q(Q)ua? ,Cao bá Quát cao giọng xưng Qua cũng đúng với những ǵ mà đời ông thể hiện.

 

  

trang  laiquangnam 

 

www.art2all.net