laiquangnam

 

THỬ ĐỀ NGHỊ MỘT GIẢI PHÁP GIỚI THIỆU THƠ TIỀN NHÂN TA

 

 

D̉NG THƠ THIỀN CỦA D̉NG VÔ NGÔN THÔNG *

 

Hưu hướng Như Lai

Thiền sư QUẢNG NGHIÊM

----o0o----
 

Lời thưa trước

Nhằm hổ trợ cho việc giải mă bài Ngôn Hoài của Không Lộ thiền sư, (? – 1119) quá khó nuốt đối với chúng tôi hiện nay, để khỏi hiểu lầm giữa người luận giải và bạn đọc sau này, rằng người xưa có nghĩ như ông không? Chúng tôi gởi đến các bạn một bài thi kệ của “người truyền thừa “ của Ngài Không Lộ thiền sư, người trực tiếp tiếp nhận ngọn lửa của người đi trước đó là thiền sư QUẢNG NGHIÊM (1121 - 1190). Ngài là tổ đời thứ XI trong khi Không Lộ thiền sư là tổ thứ IX của ḍng Vô Ngôn Thông.

Trong bài thiền Hưu hướng Như Lai (休向如來) của ngài thiền sư QUẢNG NGHIÊM giúp cho ta thấy sự thể hiện một cách nhất quán về cách tiếp cận “phép tu” của Ngài Gautama đă dạy và đă trải nghiệm. Cả hai bài thơ đều rất nổi tiếng của ḍng thi thiền Lư Trần.

Điều rất đặc biệt là thiền sư QUẢNG NGHIÊM đă dùng bài Hưu hướng Như Lai để đề cập đến “ thế nào là niết bàn, cho dù từ này không được nêu một cách cụ thể – sinh tử -tử sinh -sau tử th́” ?” “TA” về đâu ?

Niết bàn ( Nirvana) được định nghĩa ra sao?, và có biết bao nhiêu từ được dùng để dịch từ Nirvana ra tiếng Trung, cũng như tiếng Hán Việt. Nay người Việt chúng ta tiếp cận với từ này một cách rơ ràng, nhưng lúc mà đất nước này chưa có chữ quốc ngữ th́ từ này vẫn c̣n ”khó hiểu“, huống ǵ vào thế thứ XII, mà đất nước này vừa mới độc lập trên dưới 250 năm. Dân th́ nói tiếng Việt, mà chữ viết để điều hành quốc gia, hiểu về tôn giáo lại là chữ Hán, thứ chữ mà người biết quá hiếm hoi.

---oOo---

 


Hưu hướng Như Lai

QUẢNG NGHIÊM, thiền sư
(tổ đời thứ XI ḍng Vô Ngôn Thông )
Laiquangnam giới thiệu

Nguyên tác

休向如來)
離寂方言寂滅去,
生無生后說無生。
男兒自有衝天志,
休向如來行處行。

Phiên âm

Hưu hướng Như Lai

Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ,
Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.
Nam nhi tự hữu xung thiên chí,
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành

 

Vài rắc rối khi bản văn do có quá nhiều người giới thiệu.

Bài thơ trên, cho đến nay vẫn c̣n bị vướng v́ từ 休, HƯU. Thực nghĩa là ǵ ?

Người dịch bản văn, hiểu như thế nào th́ dùng nghĩa ấy mà áp vào bản văn của ḿnh, Từ đó họ dich tiếp ra thơ quốc âm. Lớp đàn anh, tinh thông Hán học đă công bố các bản dịch của họ. Lớp sau, có người tin theo, có người không tin theo. Có người tin vào do hào quang thông thạo chữ Hán của người Đàn anh mà thuận theo họ. Ai cũng có lư -bởi cả hai đều dùng đúng một trong các nghĩa của nó. Một kư tự, một âm nhưng có nhiều nghĩa đúng như luật NGÔN NGỮ SINH HÓA, LUẬT DARMESTETER :. . . . .

" NGÔN NGỮ SINH HÓA là sự biến nghĩa theo thời đại, theo tác giả, theo vị trí lời văn. . . . . "

Định luật Darmesteter : "Ngôn ngữ có sinh hóa như một sinh vật. Nếu một sinh vật trải qua 3 thời kỳ ấu trĩ, trưởng thành, lăo suy th́ ngôn ngữ cũng có 3 thời kỳ : thô sơ với một vài nghĩa, phong phú với nhiều nghĩa tế nhị và cuối cùng mất hẳn nghĩa sâu xa chính yếu. " trích nguồn từ Giáo sư Thạch Trung Giả.

 

Người dịch, có người là ông nghè, Ngô tất Tố; có người là Chuyên gia hàng đầu của Viện Hán nôm Hanoi. Toàn thứ “dữ “ với lớp hậu bối.

HƯU là ǵ ? Hưu có nhiều nghĩa. Do đây là chữ Hán, thứ chữ quốc ngữ của người Tàu nên người Tàu dùng rất đa dạng. Có thể thiền sư QUẢNG NGHIÊM của chúng ta cũng vậy? Tuy nhiên thiền sư QUẢNG NGHIÊM cũng là người vay mượn chữ để dùng thế nên, Ngài chỉ dùng một hai nghĩa chính mà thôi. Xưa nay thứ chữ du nhập th́ “độ dăn “ về ngữ nghĩa sẽ ít đi so với người bản địa dùng nó.

Hưu, một khi là trạng từ th́ có nghĩa là ĐỪNG, Hưu hướng Như Lai (休向如來) có nghĩa là đừng theo hướng của Như Lai. Nhưng nếu chúng ta hiểu “ hưu” là VUI, th́ vui vừa là tính từ, vui vừa là động từ, tạm dịch “vui v́ có hướng của Như Lai đă vạch sẵn“, hay dịch “vui mà theo hưóng đi của Như Lai ( Đức Phật) “ hay vui hướng theo Như Lai ( Đức Phật), tất cả đều cùng một nghĩa. Chung quy là đồng ḷng theo hướng đi của Như Lai ( Đức Phật)

Ai đúng ? Ai sai ?

Nếu dùng chữ “ĐỪNG” để thông dịch th́ được hiểu ‘ là hăy làm khác với người xưa, đừng rập khuôn, phải tự sáng tạo riêng cho ḿnh một lối đi để đến bến bờ giác ngộ, cũng có lư, bởi tại câu thứ ba, rất cao ngạo “Nam nhi tự hữu xung thiên chí”, thế th́ đă là NAM NHI phải khác Người. Người đây là Đức THẾ TÔN. Thế nhưng "Ai đó" hỏi xưa nay đă từng có ai chưa?, Người có khả năng vạch cho ḿnh một lối đi để đạt đến Bậc GIÁC NGỘ, Chánh Đẳng Chánh Giác, không ai ngoài Ngài Gautama -tức Như Lai ( Đức Phật)!

Nếu dùng chữ “VUI” để thông dịch th́ được hiểu hăy làm đúng theo những ǵ mà Ngài Gautama đă trải nghiệm và truyền dạy. Và câu “Nam nhi tự hữu xung thiên chí” vẫn đúng v́ “chí trai” nguyện phát ḷng hạnh nguyện theo cách mà Ngài Gautama đă phát nguyện, phát Bồ Đề Tâm, cứu người v́ người ở thế gian này đều vướng Dukha (mà khổ ), nên Ngài phát nguyện hoằng pháp đến hơi thở cuối cùng, th́ người NAM NHI ấy đă có chí vươn lên cao, rất đáng khâm phục. (1)

Muốn tiếp cận được bến bờ giác ngộ th́ các bước lần lượt phải thực hiện, là am hiểu Tứ diệu đế ( bài giàng đầu tiên của Ngài sau khi Thành đạo), tiếp đến phải thực hành từng chi tiết Bát Chánh Đạo một cách nhuần nhuyễn và kiên tŕ ….

Nếu chỉ có mỗi bài thơ của thiền sư QUẢNG NGHIÊM th́ c̣n tranh căi, nhưng trước Ngài đă có thiền sư Không Lộ với bài Ngôn Hoài th́ tôi “e rằng” dịch “hưu” là “đừng” th́ “có thể” không khớp với tính thống nhất của hai bản văn khi luận về cách tiếp cận bến bờ giác ngộ, cảnh sắc Niết bàn ( Nirvana). bởi cả hai đều là thiền tổ của ḍng thiền Vô Ngôn Thông Việt hóa.

Niết bàn ( Nirvana) là ǵ ? và làm sao để có thể đạt đến cơi đó? Niết bàn ( Nirvana) là từ để chỉ một “ cơi không có trú xứ “, “không tồn tại trong không gian”, nó không là cơi “Tây phương cực lạc” cụ thể như nhiều kinh sách Tàu h́nh dung. Nó cũng không tồn tại trong không gian tưởng tượng. Cơi đó không hề mơ hồ mà là rất rơ. Thoát ṿng luân hồi là đạt đạo. Nhập Nirvana ( Niết bàn ) là nhập vào một không gian ( field) không hề có trú xứ, chỉ là ư niệm. Nơi đây là trú xứ của tánh không, cơi không sinh không diệt, là nơi hội tụ bản thể muôn vât muôn loài, chỉ có Bậc Giác Ngộ mới am tường niết bàn ( Nirvana) là ǵ.

Mọi tăng sĩ khi tu Phật đều hướng đến đích nhắm là nhập Cơi niết bàn ( Nirvana). Do v́, bước đầu của người xuất gia là đoạn khổ “dukha”, cho ḿnh, và hoằng pháp cứu người; thế nên ḷng từ bi của họ không cho phép họ “ rút “ về cơi Vô Sinh -Vô Tử, mà phải tiếp tục theo từng bước chân Như Lai ( Đức Phật) đă đi -, phát nguyện hạnh nguyện, mở Bồ đề tâm mà hoằng pháp cho đến cuối đời. Các vị sau Ngài, một khi đă đến bến bờ giác ngộ, họ đều phát nguyện cứu người, có nghĩa là c̣n dính đến con người, thế nên một “ bậc Bồ Tát “ xuất hiện. Bồ Tát chính là “ á Phật”, bởi Á Phật phải c̣n một ṿng luân hồi nữa th́ Ngài mới đạt đến niết bàn ( Nirvana) -Vô sinh -vô tử. , lúc này âm Á mất đi.

Bài thi kệ của thiền sư QUẢNG NGHIÊM Hưu hướng Như Lai (休向如來) liên quan đến ư tưởng này

 

Tạm hiểu ư bài thơ này như thế nào đây ?

Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ,
Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.
Nam nhi tự hữu xung thiên chí,
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành

Chú nghĩa vài từ

Tịch là ǵ ? Tịch là lặng yên khi nó là một từ đơn. Từ này tạo ra một thuật ngữ khác khi ghép cập, một minh triết Phật giáo. Tịch là “ không gian “ (field) trống rỗng và lặng yên. Trong bài ư nói khi người hành giả, thiền giả diệt hết mê vọng, sân si th́ họ sẽ được vào nơi Cơi tịch, cơi trống lặng. Từ này chỉ mới “ sem sém “, “chút chút “ xa gần đến từ niết bàn (Nirvana). V́ khó đến như thế mà Ngài Không Lộ thiền sư đă dùng một “mă ngữ “ là Hàn thái hư ==> hàntháihư để thay cho từ niết bàn ( Nirvana) vào thời điểm của ngài c̣n tại thế, thế kỷ XII, (**). Câu thứ tư của bài thi kệ Ngôn Hoài là “trườngkhiếu, nhấtthanh, hàntháihư” chính là Hưu hướng Như Lai (休向如來) đấy. (**). Chúng tôi dùng hai đinh nghĩa của hai tác giả “ danh giá nhất hiện nay là Thiều Chữ ( lớp xưa ) và Tâm Tuệ Hỷ ( lớp nay ).

a- Nhà sư Thiều Chữu th́ định nghĩa tịch diệt như sau
Nhà Phật cho tu hành sạch hết mê vọng, vào nơi rỗng lặng, hưởng thú chân thường là tịch diệt

b- Tâm Tuệ Hỷ, Danh từ Phật học Thực dụng NXB Tôn giáo, 2005

Đinh nghĩa từ TICH DIỆT như sau

TỊCH DIỆT

S, P: Nirodha

Dứt sạch hết mọi phiền năo, vô minh, vọng tưởng, chứ không phải là chết và mất hết tất cả. Đồng nghĩa với -» Niết Bàn, là giải thoát khỏi ṿng sanh tử luân hồi. Đó là cảnh giới bất tử, nghĩa là không sinh không diệt.

NHẬP DIỆT

Một trạng thái tịch tĩnh tuyệt đối, vượt khỏi sinh tử, thành hoại, thời gian và không gian.

Trạng thái này không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả được (->bất khả thuyết) và nằm ngoài tư duy (-> bất khả tư nghị). Thiền tông quan niệm -> sinh tử tức Niết Bàn.

Ngày nay thông qua chữ quốc ngữ chúng ta dễ tiếp nhận các từ này. Ngày xưa khi c̣n chữ Hán vay mượn th́ từ niết bàn ( Nirvana) rất khó hiểu, và hiểu lầm là đàng khác, rồi nhiều nhà sư gốc Phật Hán dẫn giải lung tung, v́ thế cho nên, Ngài Không Lộ thiền sư dùng “mă ngữ “ Hanthaihư để chỉ cơi niết bàn ( Nirvana) là vậy. (***)

Do Nhà sư Thiều Chữu đă định nghĩa tịch diệt như sau: “Nhà Phật cho tu hành sạch hết mê vọng, vào nơi rỗng lặng, hưởng thú chân thường là tịch diệt “, trong đó ta hiểu chữ “Tịch “ là một thuật ngữ Phật giáo. Cơi đó chỉ có khi mà nhà tu hành đă rời bỏ được mê vọng, tham sân si, người nay đă nhẹ, tiến vào cơi tịch diệt một cách nhẹ nhàng. Cách hiểu như thế có lẽ đúng với tinh thần thi kệ khi mà trước khi vào cơi niết bàn ( Nirvana), các Ngài đă để lại một lời dạy, hay một kinh nghiệm mà các Ngài đă trải nghiệm trong quá tŕnh tu tập.

Từ đó “Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ”, ta có thể tạm hiểu ư như vầy, -hăy ĺa bỏ các mê vọng đi th́ sẽ nói về, bàn tới, cơi tịch diệt. Thế nên

“Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ” ==> “Ĺa mê vọng bước vào tịch diệt”

Và các câu c̣n lại là

Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh ==> Sinh, vô sinh đi đă, rồi sau đó mới nói thế nào là “vô sinh” Sinh ra, chết đi đă, rồi sau đó mới nói đến ṿng luân hồi và cơi Nirvana ( Niết bàn ) là ǵ

Nam nhi tự hữu xung thiên chí ==> Làm trai tự có ư chí cao như trời

Hưu hướng Như Lai hành xứ hành ==>Vui thay đă có hướng vạch ra từ Như Lai ( Đức Phật) đă đi.

Dịch sang thơ quốc âm

Tứ tuyệt

Ĺa mê vọng bước vào sân Tịch
Sinh, tử rồi ra luận Niết bàn
Lập chí Trai bằng trời lộng lộng
Như Lai đă vạch bước theo đàng.

Laiquangnam dịch


Song thất lục bát

Li tịch đi đặng hay tịch diệt
Sinh, tử rồi ra luận NiếtBàn
Chí trai sắp sẳn dâng tràn
Reo vui vạch đàng đă có NHƯ LAI

Laiquangnam dịch


Tại câu thứ tư “Hưu hướng Như Lai hành xứ hành”, Reo vui vạch đàng đă có NHƯ LAI. Ư thơ khớp với toàn văn của bài Ngôn Hoài. Theo bước chân Phật là đường duy nhất đúng để tiếp cận được bến bờ giác ngộ. Có nhiều Bậc Giác ngộ. nhưng Như Lai ( Đức Phật) là Bậc Giác Ngộ, Chánh đẳng, Chánh giác duy nhất. Bài kệ của Quảng Nghiêm chứng tỏ ḍng thiền đốn ngộ Vô Ngôn Thông khi qua đất nước Đại Việt ta th́ các Thiền sư Việt Nam đă Gạn đục khơi trong và làm mới lại

Bản dịch của người xưa:

Thoát kiếp rồi bàn câu tịch diệt
Không sinh hăy nói chuyện siêu sinh
Tài trai có chí xông trời thẳm
Giẫm vết Như Lai luống nhọc ḿnh

Ngô Tất Tố

Laiquangnam
Một ngày giữa tháng bảy 2017

 

*ghi chú

Bài này nhằm hổ trợ cho việc giải mă bài Ngôn hoài của Không Lộ thiền sư

** xin xem bài “Giải mă Ngôn Hoài “, tại phân đoạn ““thuật ngữ của người xưa” trên cùng trang này, nay mai

(*) - Các từ viết liền, là viết dính liền lại một đề xuất của laiquangnam nhằm thúc đẩy sự phát triển tự vựng tiếng Việt qua chữ quốc ngữ hiện nay, đây là của thuật ngữ Phật giáo, minh triết của nhà Phật, hay gọi là Phật triết. Trong bản văn F2, các từ viết liền, là viết dính liền lại, đó là của thuật ngữ Phật giáo, hay nói khác hơn là các từ Phật triết của sắc dân Đại Việt thời Lư. Có ba cách viết trong bản văn Việt ngữ, viết rời, viết dính liền và viết có ngang nối. Mỗi cách viết khiến một cặp chữ mang một thẻ trạng khác nhau –

Ví dụ: đoạn ngữ lạc vô dư, (viết rời, viết rời rạc ) hoàn toàn khác với lạc vôdư, lạcvôdư. Người Mỹ dùng cách viết rời viết liền và viết có gạch ngang nối để tăng thêm kho tự vựng, mà quốc ngữ của chúng ta nay là một lợi thế so với thứ chữ Hán tượng h́nh.

1-NHỮNG LỜI CUỐI CÙNG CỦA PHẬT
Hoang Phong

https://thuvienhoasen.org/a6213/nhung-loi-cuoi-cung-cua-phat

Bures-Sur-Yvette (Pháp quốc)
(HP đă Biên soạn dựa theo một bài viết của Thiền sư và Giáo sư Triết học ngưới Pháp Gérard Pilet, đăng trong nội san của Hội Thiền học Quốc tế AZI (Association Zen Internationale), trụ sở tại Paris, và tài liệu của Bukkyo Dendo Kyokai (Society For the Promotion of Bouddhism), trụ sở tại Tokyo).

 

  

www. art2all. net