|
THỬ ĐỀ NGHỊ MỘT GIẢI PHÁP GIỚI THIỆU THƠ TIỀN NHÂN TA
D̉NG THƠ THIỀN CỦA D̉NG VÔ NGÔN THÔNG *
Hưu hướng Như Lai Thiền sư QUẢNG NGHIÊM
----o0o----
Lời thưa trước Trong bài thiền Hưu hướng Như Lai (休向如來) của ngài thiền sư QUẢNG NGHIÊM giúp cho ta thấy sự thể hiện một cách nhất quán về cách tiếp cận “phép tu” của Ngài Gautama đă dạy và đă trải nghiệm. Cả hai bài thơ đều rất nổi tiếng của ḍng thi thiền Lư Trần.
Điều rất đặc biệt là thiền sư QUẢNG NGHIÊM đă dùng
bài Hưu hướng Như Lai để đề cập đến “ thế nào là niết bàn, cho dù
từ này không được nêu một cách cụ thể – sinh tử -tử sinh -sau tử th́” ?”
“TA” về đâu ?
QUẢNG NGHIÊM, thiền sư
休向如來) Hưu hướng Như Lai
Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ, Vài rắc rối khi bản văn do có quá nhiều người giới thiệu. Bài thơ trên, cho đến nay vẫn c̣n bị vướng v́ từ 休, HƯU. Thực nghĩa là ǵ ? Người dịch bản văn, hiểu như thế nào th́ dùng nghĩa ấy mà áp vào bản văn của ḿnh, Từ đó họ dich tiếp ra thơ quốc âm. Lớp đàn anh, tinh thông Hán học đă công bố các bản dịch của họ. Lớp sau, có người tin theo, có người không tin theo. Có người tin vào do hào quang thông thạo chữ Hán của người Đàn anh mà thuận theo họ. Ai cũng có lư -bởi cả hai đều dùng đúng một trong các nghĩa của nó. Một kư tự, một âm nhưng có nhiều nghĩa đúng như luật NGÔN NGỮ SINH HÓA, LUẬT DARMESTETER :. . . . . " NGÔN NGỮ SINH HÓA là sự biến nghĩa theo thời đại, theo tác giả, theo vị trí lời văn. . . . . " Định luật Darmesteter : "Ngôn ngữ có sinh hóa như một sinh vật. Nếu một sinh vật trải qua 3 thời kỳ ấu trĩ, trưởng thành, lăo suy th́ ngôn ngữ cũng có 3 thời kỳ : thô sơ với một vài nghĩa, phong phú với nhiều nghĩa tế nhị và cuối cùng mất hẳn nghĩa sâu xa chính yếu. " trích nguồn từ Giáo sư Thạch Trung Giả.
Người dịch, có người là ông nghè, Ngô tất Tố; có người là Chuyên gia hàng đầu của Viện Hán nôm Hanoi. Toàn thứ “dữ “ với lớp hậu bối. HƯU là ǵ ? Hưu có nhiều nghĩa. Do đây là chữ Hán, thứ chữ quốc ngữ của người Tàu nên người Tàu dùng rất đa dạng. Có thể thiền sư QUẢNG NGHIÊM của chúng ta cũng vậy? Tuy nhiên thiền sư QUẢNG NGHIÊM cũng là người vay mượn chữ để dùng thế nên, Ngài chỉ dùng một hai nghĩa chính mà thôi. Xưa nay thứ chữ du nhập th́ “độ dăn “ về ngữ nghĩa sẽ ít đi so với người bản địa dùng nó.
Hưu, một khi là trạng từ th́ có nghĩa là ĐỪNG,
Hưu hướng Như Lai (休向如來) có nghĩa là đừng theo hướng của Như Lai. Nhưng
nếu chúng ta hiểu “ hưu” là VUI, th́ vui vừa là tính từ, vui vừa là động
từ, tạm dịch “vui v́ có hướng của Như Lai đă vạch sẵn“, hay dịch “vui mà
theo hưóng đi của Như Lai ( Đức Phật) “ hay vui hướng theo Như Lai ( Đức
Phật), tất cả đều cùng một nghĩa. Chung quy là đồng ḷng theo hướng đi
của Như Lai ( Đức Phật)
Nếu dùng chữ “ĐỪNG” để thông dịch th́ được hiểu ‘ là
hăy làm khác với người xưa, đừng rập khuôn, phải tự sáng tạo riêng cho
ḿnh một lối đi để đến bến bờ giác ngộ, cũng có lư, bởi tại câu thứ ba,
rất cao ngạo “Nam nhi tự hữu xung thiên chí”, thế th́ đă là NAM NHI phải
khác Người. Người đây là Đức THẾ TÔN. Thế nhưng "Ai đó" hỏi xưa nay đă
từng có ai chưa?, Người có khả năng vạch cho ḿnh một lối đi để đạt đến
Bậc GIÁC NGỘ, Chánh Đẳng Chánh Giác, không ai ngoài Ngài Gautama -tức
Như Lai ( Đức Phật)!
Nếu chỉ có mỗi bài thơ của thiền sư QUẢNG NGHIÊM th́
c̣n tranh căi, nhưng trước Ngài đă có thiền sư Không Lộ với bài Ngôn
Hoài th́ tôi “e rằng” dịch “hưu” là “đừng” th́ “có thể” không khớp với
tính thống nhất của hai bản văn khi luận về cách tiếp cận bến bờ giác
ngộ, cảnh sắc Niết bàn ( Nirvana). bởi cả hai đều là thiền tổ của ḍng
thiền Vô Ngôn Thông Việt hóa.
Tạm hiểu ư bài thơ này như thế nào đây ?
Tịch là ǵ ? Tịch là lặng yên khi nó là một từ
đơn. Từ này tạo ra một thuật ngữ khác khi ghép cập, một minh triết Phật
giáo. Tịch là “ không gian “ (field) trống rỗng và lặng yên. Trong bài ư
nói khi người hành giả, thiền giả diệt hết mê vọng, sân si th́ họ sẽ
được vào nơi Cơi tịch, cơi trống lặng. Từ này chỉ mới “ sem sém “, “chút
chút “ xa gần đến từ niết bàn (Nirvana). V́ khó đến như thế mà
Ngài Không Lộ thiền sư đă dùng một “mă ngữ “ là Hàn thái hư ==>
hàntháihư để thay cho từ niết bàn ( Nirvana) vào thời điểm của ngài c̣n
tại thế, thế kỷ XII, (**). Câu thứ tư của bài thi kệ Ngôn Hoài là “trườngkhiếu,
nhấtthanh, hàntháihư” chính là Hưu hướng Như Lai (休向如來) đấy. (**). Chúng
tôi dùng hai đinh nghĩa của hai tác giả “ danh giá nhất hiện nay là
Thiều Chữ ( lớp xưa ) và Tâm Tuệ Hỷ ( lớp nay ). S, P: Nirodha
Dứt sạch hết mọi phiền năo, vô minh, vọng tưởng, chứ
không phải là chết và mất hết tất cả. Đồng nghĩa với -» Niết Bàn, là
giải thoát khỏi ṿng sanh tử luân hồi. Đó là cảnh giới bất tử, nghĩa là
không sinh không diệt. Một trạng thái tịch tĩnh tuyệt đối, vượt khỏi sinh tử, thành hoại, thời gian và không gian. Trạng thái này không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả được (->bất khả thuyết) và nằm ngoài tư duy (-> bất khả tư nghị). Thiền tông quan niệm -> sinh tử tức Niết Bàn. Ngày nay thông qua chữ quốc ngữ chúng ta dễ tiếp nhận các từ này. Ngày xưa khi c̣n chữ Hán vay mượn th́ từ niết bàn ( Nirvana) rất khó hiểu, và hiểu lầm là đàng khác, rồi nhiều nhà sư gốc Phật Hán dẫn giải lung tung, v́ thế cho nên, Ngài Không Lộ thiền sư dùng “mă ngữ “ Hanthaihư để chỉ cơi niết bàn ( Nirvana) là vậy. (***) Do Nhà sư Thiều Chữu đă định nghĩa tịch diệt như sau: “Nhà Phật cho tu hành sạch hết mê vọng, vào nơi rỗng lặng, hưởng thú chân thường là tịch diệt “, trong đó ta hiểu chữ “Tịch “ là một thuật ngữ Phật giáo. Cơi đó chỉ có khi mà nhà tu hành đă rời bỏ được mê vọng, tham sân si, người nay đă nhẹ, tiến vào cơi tịch diệt một cách nhẹ nhàng. Cách hiểu như thế có lẽ đúng với tinh thần thi kệ khi mà trước khi vào cơi niết bàn ( Nirvana), các Ngài đă để lại một lời dạy, hay một kinh nghiệm mà các Ngài đă trải nghiệm trong quá tŕnh tu tập. Từ đó “Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ”, ta có thể tạm hiểu ư như vầy, -hăy ĺa bỏ các mê vọng đi th́ sẽ nói về, bàn tới, cơi tịch diệt. Thế nên “Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ” ==> “Ĺa mê vọng bước vào tịch diệt” Và các câu c̣n lại là Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh ==> Sinh, vô sinh đi đă, rồi sau đó mới nói thế nào là “vô sinh” Sinh ra, chết đi đă, rồi sau đó mới nói đến ṿng luân hồi và cơi Nirvana ( Niết bàn ) là ǵ Nam nhi tự hữu xung thiên chí ==> Làm trai tự có ư chí cao như trời
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành ==>Vui thay đă có
hướng vạch ra từ Như Lai ( Đức Phật) đă đi.
Ĺa mê vọng bước vào sân Tịch
Laiquangnam dịch
Li tịch đi đặng hay tịch diệt
Laiquangnam dịch
Ngô Tất Tố
*ghi chú ** xin xem bài “Giải mă Ngôn Hoài “, tại phân đoạn ““thuật ngữ của người xưa” trên cùng trang này, nay mai (*) - Các từ viết liền, là viết dính liền lại một đề xuất của laiquangnam nhằm thúc đẩy sự phát triển tự vựng tiếng Việt qua chữ quốc ngữ hiện nay, đây là của thuật ngữ Phật giáo, minh triết của nhà Phật, hay gọi là Phật triết. Trong bản văn F2, các từ viết liền, là viết dính liền lại, đó là của thuật ngữ Phật giáo, hay nói khác hơn là các từ Phật triết của sắc dân Đại Việt thời Lư. Có ba cách viết trong bản văn Việt ngữ, viết rời, viết dính liền và viết có ngang nối. Mỗi cách viết khiến một cặp chữ mang một thẻ trạng khác nhau –
Ví dụ: đoạn ngữ lạc vô dư, (viết rời, viết rời rạc )
hoàn toàn khác với lạc vôdư, lạcvôdư. Người Mỹ dùng cách viết rời viết
liền và viết có gạch ngang nối để tăng thêm kho tự vựng, mà quốc ngữ của
chúng ta nay là một lợi thế so với thứ chữ Hán tượng h́nh. https://thuvienhoasen.org/a6213/nhung-loi-cuoi-cung-cua-phat
Bures-Sur-Yvette (Pháp quốc)
|