|
LAIQUANGNAM
Laiquangnam giới thiệu Áng
hùng văn
NAM QUỐC SƠN HÀ
của danh tướng
LƯ THƯỜNG KIỆT
Bài Hịch thuộc thể thi,
“thiHịch” độc đáo nhất trong quân sử cổ kim.
'Nam
quốc sơn hà' là một bài thơ đă được dạy học tại các cấp lớp một hai tại
Việt nam từ xưa tới nay, ngay cả thời Pháp thuộc lớp đàn anh chúng tôi
cũng đă học bài này. Với bản phiên âm sai tại ngay câu thứ hai mà thế hệ
tôi bao đời nay đều thuộc theo sách của cụ Dương Quảng Hàm. “Tiệt nhiên
địnhphận tại thiên thư” đă làm giảm cấp t́nh tự dân tộc Lạc Việt
nhiều lắm! Nay buộc phải gút lại cho đúng. Nhất là sách giáo khoa và các
trang mạng. Phần lớn người Việt có cắp sách đến trường đều thuộc, có thể
họ không hiểu hết ư v́ có các từ cổ và khí phách người xưa nay không có
sách vở nhắc lại, hoặc do v́ tŕnh độ của quư thầy cô, hoặc do v́ không
có nhiều tư liệu để tham khảo thêm. Do bài 'Nam quốc sơn hà' quá nổi
tiếng, số người ăn theo như những “tên đốt đèn”, nhân vật hắc ám nổi
tiếng trong văn học Roma. Họ bằng mọi cách tấn công vào danh tướng Lư
thường Kiệt bằng cách này hay cách khác. Về bản văn th́ sắp xếp cho nó
là một bản “Tuyên ngôn độc lập đầu tiên” của nước ta, lấy cớ rằng ngay
câu đầu “Nam quốc sơn hà Nam đế cư, ” dịch là “Sông núi nước nam vua nam
ở “ thay v́ phải dịch theo ngôn ngữ của thể hịch văn. Rồi dựa vào câu
trong sách sử ĐVSKTT viết ” người đời truyền rằng Thường Kiệt làm hàng
rào theo dọc sông để cố thủ. Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền
Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt
nhiên phân định tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? Nhữ đẳng
hành khan thủ bại hư!”. V́ câu này trong ĐVSKTT mà họ cho bài 'Nam quốc
sơn hà' là bài thơ thần chứ không phải của Lư thường Kiệt. Thế là
cứ âm ỉ tấn công quyền tác giả. Tại Việt nam hai giáo sư đại học là Đỗ
B́nh Trị và Bùi duy Tân ghi “ Lư thường Kiệt“ có dấu ? trong sách Văn
học lớp 9, NxB Giáo dục H, 1995, khi giới thiệu bài 'Nam quốc sơn hà'.
Bùi duy Tân lấy làm đắc ư v́ chiến thắng này!
Nay laiquangnam xin viết lại, chuyện đúng sai mong
Bạn đọc tự cho điểm nhận xét. Vấn đề là không phải để hơn thua, mà là
bài” Nam quốc sơn hà” nay cần phải giải quyết gấp những tồn tại một cách
dứt điểm, để mỗi khi “ai đó” cần giới thiệu với người nước ngoài th́
người giới thiệu không hề bối rối và cùng vui với tiền nhân. Rất mong
mọi ư kiến phản hồi để chúng ta sang trang việc tranh luận này và đi t́m
một bản dịch khả dĩ có thể chấp nhận được bởi trong gần một thế kỷ nay
vẫn chưa có bản dịch nào khiến chúng ta tạm hài ḷng. Tam ngu thành hiền!
laiquangnam viết được, có ư kiến được, th́ các bạn của tôi c̣n làm giỏi
hơn tốt hơn tôi 1000 lần. Mong lắm thay!
Laiquangnam
Phần
01
I-
Dẫn nhập
Tại tờ 9-b ( bản kỉ, quyển 3) của bộ Đại việt sử kư toàn thư

Cho thấy thứ tự trước sau của hai chữ[ 定在 ] ( phân định). Trang chụp này
do giáo sư sử gia Nguyễn khắc Thuần công bố vào năm 2004. laiquangnam
chép lại và chú lại.
Toàn văn nguyên tác của bài thơ hịch này như sau:
Nguyên tác
南 國 山 河,
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 分定在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
李 常 杰
Phiên âm
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Lư Thường Kiệt
-o0o0o-
II- Hịch văn là ǵ ?
1. Hịch là ǵ ?
Hịch là thể loại văn thư đầu tiên trong phép dụng
binh thời cổ đại, nó xuất hiện trong buổi lễ “thệ sư “. Lễ “thệ sư “ là
ngày bắt đầu làm lễ xuất binh. Sách 'Thuyết văn giải tự' viết,
“ Hịch có khi c̣n gọi là Vũ hịch, vũ là lông chim, có nghĩa là lúc gấp
th́ cắm lông chim để truyền quân lệnh, hàm ư là quân lệnh được truyền
nhanh như chim bay.” Những bài hịch lừng danh trong văn học Tàu là ba
bài 'Dụ Ba Thục Hịch' của Tư Mă Tương Như, 'Vị Viên Thiệu Hịch
Tượng châu' của Trần Lâm, và 'Vị Từ Kính nghiệp thảo Vơ Chiếu
hịch' của Tân lạc vương (2 ).
2. Tính chất và ngôn từ của hịch văn
Ngày nay các người nghiên cứu về văn học cổ của Trung
quốc đều phải tham chiếu tác phẩm 'Văn tâm điêu long' của Lưu
Hiệp ( 465-532) viết cách nay đă trên dưới 1500 năm. Ông đă dành tới 30
năm để viết. 'Văn tâm điêu long' được đánh giá rất cao “là tác
phẩm chứa đủ tinh hoa của muôn đời” (Tôn Mai - “Tứ lục tùng thoại”),
là “kho báu ở chốn văn tuyền. . . Phàm kẻ sỹ muốn trau chuốt văn chương.
. . chưa ai có thể xa rời mà đi t́m lối dẫn dắt khác để đến đích được” (Thúc
Lâm). (4)
Thông lệ này được tác giả Nguyễn Phạm Hùng khi
viết chuyên luận 'Văn học lư trần' (sđd (6) đă cô đúc ư kiến của
Lưu Hiệp về thể hịch của Trung quốc như sau: Hịch là loại văn “Tín
thực quốc gia”, nhưng nhằm mục đích kể tội, trách mắng lẫn nhau,
ngôn từ khoa trương, điêu trá, bịa đặt, có một hệ thống sắp
xếp ngôn ngữ có phần bạo liệt, quyết đoán.
Và Đàm Gia Kiện, trong tác phẩm 'Lịch sử văn hóa
Trung quốc' đă kết luận: Thể văn hịch luôn dùng biền thể không
dùng văn vần. (sđd 4)
Lưu Hiệp đưa ra sáu tiêu chí (lục quán) để xem xét tác phẩm. Ông viết:
“Muốn xem xét t́nh cảm và tư tưởng trong văn chương, th́ trước hết phải
theo sáu mặt để mà quan sát sau : Một là “Vị thể” (chỉ nội dung,
tư tưởng của tác phẩm); hai là “Trí từ” (dùng từ đặt câu); ba
là “Thông biến” (tính khoa học và sáng tạo của nội dung và h́nh thức);
bốn là “Kỳ chính” (bố cục và hành văn có theo quy cách không);
năm là “Sự nghĩa” (điển cố và dẫn chứng có thỏa đáng không); và
sáu là “Cung thương” (âm điệu có hài ḥa không). (sđd 4 )
Dựa trên những điều trên, ta có thể nhận ra ngay bài 'Nam quốc sơn hà'
là một bài thơHịch độc đáo và hoàn hảo bởi bố cục và ngôn ngữ sử dụng có
các từ mắng mỏ kẻ địch “ như hà, nghịch lỗ, Nhữ đẳng “. Dựa trên
những dẫn chứng văn học trên, ta có thể nói rằng 'Nam quốc sơn hà'
là một bản văn hịchThơ rất độc đáo của người Việt. Nó có những ngôn ngữ
và bố cục như thể văn hịch Trung quốc thường thể hiện, nhưng khác chăng
là nó ngắn gọn, dễ thuộc, và không cần phải “khoa ngôn, lộng ngữ” như
trong hịch Tàu bởi người trong cuộc đă từng kinh qua chiến trận với kẻ
thù và họ đă từng thắng lợi. Lời thơ Hịch của Lư tướng quân đă được bảo
đảm bằng vàng.
III- Ai là tác giả thật sự
Xin đọc một bản hịch khác, bài hịch "Phạt Tống lộ bố văn", do Lư
tướng quân cho truyền bá trên đất địch vào năm 1075, trong đó có đoạn :
"Trời sinh ra dân chúng, vua hiền tất ḥa mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở
nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng biết tuân theo phép thánh,
lại tin kế của An Thạch tham tà, bày những phép "thanh miêu", "trợ dịch"
khiến trăm học mệt nhọc lầm than, mà riêng thoả măn nuôi ḿnh béo mập.
Bởi trăm tính mệnh muôn dân, đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào
cảnh éo le độc hại, lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xét.
Nhưng việc từ trước thôi không nói ǵ. Nay bản
chức vâng mệnh quốc vương, chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên
làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ư phân biệt quốc thể, không phân
biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca
ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thanh b́nh.
Ta nay ra quân, cốt để cứu dân khỏi nơi ch́m đắm.
Hịch văn truyền tới, để mọi người cùng nghe. Ai nấy hăy tự đắn đo, chớ
có mang ḷng sợ hăi." (5). Bản dịch của Trần Văn Giáp.
Chỉ có khẩu khí của một danh tướng, như Lư thường Kiệt mới nói ra được
câu “Nay nghe vua Tống ngu hèn”, hẳn là vua tôi nhà Đại
Tống cùng cảm thấy bực tức và nhục. Giọng hịch đều như vậy cả.
Theo thông lệ xưa nay, người tư lệnh chiến trường được hưởng quyền
tác giả qua những bản nhật lệnh hay những bài diễn văn hùng hồn
trước binh sĩ ḿnh, kể cả những chiến thắng qua từng trận đánh cho dù
người trực tiếp tham gia là binh sĩ thuộc cấp dưới quyền. Họ chịu trách
nhiệm về mọi diễn tiến xấu và tốt xảy ra trên chiến trường. Ngày ấy Lư
thường Kiệt chịu trách nhiệm tất cả các hành vi tiến hành chiến tranh
với Tống triều.
Không ai có quyền cướp bản quyền nay đă ghi đậm nét dấu ấn của Lư tướng
quân qua bài thơ hịch 'Nam quốc sơn hà' lừng danh trong quân sử,
trừ khi ai đó t́m được văn bản thật sự được viết vào thời điểm 1076 có
tên tuổi tác giả đầy đủ. Mọi ư kiến ngược lại khi nêu câu hỏi, thay v́
nói “ Có ai chứng minh được Lư thường Kiệt là tác giả đâu ? “ để
gạt Lư thường Kiệt sang bên th́ tại sao họ không đặt câu hỏi “ Có ai
t́m được văn bản gốc của một tác giả cụ thể nào để bác quyền tác giả của
Lư tướng quân theo thông lệ đâu mà nghi ngờ Lư thường Kiệt không phải là
tác giả ?“. Những kẻ có chút kiến thức bậy bạ thường có tư tưởng ấm
đầu, thường mang tư tưởng của những “kẻ đốt đền” mong t́m chút danh khi
phả nọc vào lịch sử dân tộc ta. Đốt đền lịch sử dân tộc là một tội ác !
Tại sao dựa vào câu viết của sử gia vào thế kỷ thứ 13 khi mà ngày ấy
quyền tác giả không được mấy quan tâm, khi mà nhà sử học luôn luôn nghĩ
rằng những ǵ thuộc về chính thống, có chính nghĩa luôn luôn có thần
nhân ủng hộ và độ tŕ. Trong sử ngày ấy, tiền nhân ta c̣n mô tả có
hiện tượng rồng bay trên kinh thành Thăng Long. Bạn có tin thơ thần là
do thần sáng tác? Họ đă hiểu sai hai chữ thơ thần. Xin xem đoạn lịch sử
đánh Tống tiếp theo bên dưới.
Bài thơ tứ tuyệt với 28 chữ bên trên chỉ được dịch sang quốc văn với một
bản dịch tốt nhất cho thế hệ mai sau một khi mà lớp chúng ta cùng xác
nhận văn thể của nó một cách rơ ràng. Một khi đă coi nó là một “bài thơ”
thất ngôn tứ tuyệt như thông lệ th́ bản dịch phải có chất thơ đó là đ̣i
hỏi của một lớp người thưởng ngoạn “!” nào đó.
Một khi nó đă là bản văn “tuyên ngôn độc lập” th́ nó phải có thứ ngôn
ngữ hàm súc thể hiện bản sắc văn hóa đầy bao dung của dân tộc Việt. Nó
không phải là một bản văn tuyên ngôn độc lập bởi nước ta đă dành độc lập
từ thời Ngô Vương Quyền, 938, tính đến 1076 đă có trên dưới 150 năm liên
tục sống trong cảnh thái b́nh.
Một khi nó đă là một bài thơHịch cô đọng th́ nó tất phải có ngôn ngữ đầy
tự tin lẫn khí phách đấu tranh sinh tồn lẫn lời mạt sát, hạ nhục kẻ thù,
bản 'Nam quốc sơn hà' có đầy đủ thứ ngôn ngữ này.
Và việc tối cần thiết trước khi dịch là ta phải xác quyết tác giả của
nó thật sự là ai. Người khí phách ngang tàng th́ có ngôn ngữ “ ngang
tàng “, lời nói đi đôi với việc làm đó là tính nhất quán rất độc đáo của
sĩ phu đời Lư Trần. Họ rất quyết liệt trong trong hành xử nên trong văn
luôn có cả máu và lửa ! Có cả thơ lẫn nụ cười bởi họ xem kẻ thù là kẻ
dưới tay, vấn đề là thời gian “ để xuống tay! Chỉ có Lư tướng quân mới
có ngôn ngũ kẻ cả như vậy. Năm 1075 th́ "…. Nay nghe vua Tống ngu
hèn, chẳng biết tuân theo phép thánh…(thiên thư,
sách trời ), lại tin kế của An Thạch tham tà, bày những phép "thanh
miêu", "trợ dịch" ( nhữ đẳng, thứ ngữ mày! nghịch lỗ,
bọn tù binh mọi rợ ) khiến trăm họ mệt nhọc lầm than, mà riêng thoả
măn nuôi ḿnh béo mập. Bởi trăm tính mệnh muôn dân, đều phú bẩm tự trời,
thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại, lượng kẻ ở trên cố nhiên phải
xét ( hành khan, thấy ngay trước mắt, thủ bại hư,
cầm chắc lấy thất bại hoàn toàn )
Nay vấn đề nêu trên đă được giải quyết một cách rơ ràng. laiquangnam tin
rằng sẽ có những bản dịch khác của lớp sau sẽ được giới thiệu bằng thứ
ngôn ngữ đặc trưng của ḍng thơHịch rất độc đáo của người Việt, mang màu
sắc riêng của dân tộc ta, với thứ ngôn ngữ ngày nay tương hợp hơn với
lớp trẻ hơn. Hy vọng những bản dịch đầy sức sống như thế, và sẽ được
chuyển sang Anh ngữ do thế hệ 1, 5 hay 2. 0 thể hiện. Một bản dịch ra
thơ quốc âm có hồn sẽ song hành cùng bản dịch Anh ngữ đang rất cần thiết
trong lúc này để giới thiệu khí phách của tiền nhân ta, và đất nước ta,
lịch sử ta đă có một thời như thế. Tàu là Tàu, Việt là Việt. Cả trong
hành xử lẫn trong ngôn ngữ văn chương. Đó là một tài sản vô giá để lớp
thế hệ người Việt trẻ vào đời cùng với bè bạn năm châu với hành trang
văn hóa dân tộc đầy sung măn trong thế kỷ 21 khi bọn chúng đứng lên
thuyết tŕnh nói về bản sắc dân tộc Việt.
Mỗi tác giả sáng tác đều có bản sắc riêng và có một khẩu khí đặc trưng
rất khác người. Mỗi thể văn chuyển tải ư người xưa ắt phải có một thứ
giọng ngôn ngữ phù hợp với văn thể ấy; chỉ có thế th́ lời văn của người
xưa sẽ xông thẳng vào tâm hồn người đọc, bài 'Nam quốc sơn hà' sẽ
lưu truyền măi trong hồn dân tộc Việt, nó tan vào tâm hồn người Việt
đang sống tại khắp nơi trên trái đất này, nó khiến cho họ sống lại những
phút giây hào hùng của tiền nhân. Xin Bạn đọc cố gắng thuộc nguyên tác
và hiểu rơ các từ nho đă cổ. Cần học thuộc nguyên tác để c̣n có lúc cao
hứng ngồi dịch lại và giảng cho cháu con ḿnh nghe, rằng ông bà ta ngày
xưa khí phách như thế đó !
IV- Bối cảnh ra đời của bài thơ Nam
quốc sơn hà
Đoạn văn dưới đây nay laiquangnam xin viết gọn lại phần có liên quan đă
được chính sử ghi lại
“Từ nhà Đinh, nhà Lê trở đi, tuy Tàu không sang cai-trị nước ta nữa,
nhưng vẫn cứ lăm-le có ư muốn xâm-lược. Đến khi vua Thần-tông nhà Tống
(1068-1078) có quan Tể-tướng là Vương an Thạch đặt ra phép mới để cải-tổ
việc chính-trị nước Tàu. Nguyên nhà Tống bấy giờ bị nước Bắc-liêu và
nước Tây-hạ ức hiếp, hằng năm phải đem vàng bạc và lụa vải sang cống hai
nước ấy. Mà trong nước th́ không có đủ tiền để chi dụng. Vua Thần-tông
mới dùng ông Vương an Thạch làm Tể-tướng để sửa-sang mọi việc, ( sđd 1).
Khi Tân pháp của Vương An Thạch đem ra thi-hành ra th́ dân nước Tàu đều
lấy làm oán-giận, v́ là trái với chế-độ và phong-tục cũ. Vương an Thạch
lại có ư muốn lập công ở ngoài biên, để tỏ cái công-hiệu viêc. cải-tổ
của ḿnh. Bấy giờ ở Ung-châu có quan tri-châu là Tiêu Chú biết ư Vương
an Thạch, mới làm sớ tâu về rằng: nếu không đánh lấy đất Giao- châu
th́ về sau thành một điều lo cho nước Tàu. Vua nhà Tống nghe theo,
lại thêm Thẩm Khởi tâu bày mọi lẽ nên đánh Giao-châu. Vua nhà Tống thuận.
Thẩm Khởi ra thu-xếp mọi việc theo ư Vương an Thạch, Sau Tống-triều thay
Thẩm Khởi cho Lưu Gi ra thay. Lưu Gi sai người đi biên các khe ng̣i, các
đồn-lũy, sửa binh-khí, làm thuyền-bè và lại cấm không cho người ở châu
huyện gần đấy đi lại buôn bán với người Giao-châu. Bên Lư-triều ta thấy
sự t́nh như thế mới viết thư sang hỏi Tống-triều, th́ Lưu Gi lại giữ lại
không đệ về kinh. "
Suy việc cũ năm 1067 vua Tống phong vương cho vua Lư,
tước hiệu là Nam b́nh Vương, vậy mà tại sao năm 1073 lại phong cho vua
Lư là Giao chỉ quận vương, hàm ư ǵ vậy ? Coi nước ta là thuộc quốc
chăng ? Việc đă rơ, Lư thường Kiệt tức giận. Vậy là nhà Tống đă xách mé
và có ư đồ khi hạ thấp và xem thường vua Lư. Giao Chỉ Quận Vương, nghĩa
là coi vua nước ta là vương của một quận thuộc địa như thời lệ thuộc
Trung quốc xa xưa. Giao chỉ là quận nhỏ tại đất Giao Châu. Lư thường
Kiệt trước đó đă gạt Lư đạo Thành sang bên, cho vào trấn thủ Nghệ An,
lên thay quyền tướng quốc, tự tay lo việc nước. Lư thường Kiệt là người
rất quyết đoán trong hành xử và điều hành quốc gia. Ông tinh ư và chuẩn
bị các bước tiến hành chiến tranh với Tống. Lư tướng quân chuyển giao
lại vai tṛ tướng quốc cho Lư đạo Thành c̣n ḿnh th́ đích thân huấn
luyện binh đội và xin cầm quân sang đánh Tống. Vua thuận, phong Lư
thường Kiệt làm tướng chinh phạt có phó tướng là Tôn Đản phụ trợ. Họ chỉ
huy 10 vạn tinh binh chia ra làm 2 đạo. Thủy binh do Lư tướng quân chỉ
huy, bộ binh do phó tướng Tôn Đản chỉ huy cùng tiến sang đánh nhà Tống.
Lư Thường Kiệt đánh chiếm nhanh gọn các châu Khâm, Liêm; Tôn Đản chỉ huy
quân bộ hạ thành châu Ưng khó khăn. Vua Tống lệnh cho Đô giám Quảng Tây
nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu. Thường Kiệt đón
đánh ở cửa ải Côn Lôn (nay là phủ Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây của nhà Minh)
chém Trương Thủ Tiết tại trận. Biết đạo quân cứu viện đă bị đánh
tan tành, tuyệt vọng Đô Giám Ung châu tử tiết cùng gia đ́nh. Hạ xong
thành, Lư Thường Kiệt thu quân về, bắt sống người ba châu ấy đem theo về
để làm con tin về sau nếu Tống phục hận”. Quả nhiên Tống động binh đánh
trả thù. (sđd, 1& 8)
Năm 1076, (tức đời Tống Hy Ninh năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 3, nhà Tống
sai Quách Quỳ, tuyên phủ sứ Quảng Nam (Quảng Nam này là địa danh, là đất
của Tàu trùng tên với tỉnh Quảng Nam của Việt nam có sau năm 1475 là đất
của Chiêm thành ) làm Chiêu Thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9
tướng, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn nước ta. Ba mặt giáp
công. Trong lần đánh phục hận này, Quách Quỳ nhận sứ mệnh phải đánh “
chết bỏ “ hầu rửa nhục cho Đại Tống. Quách Quỳ vào trận với sự ủy thác
“đánh phải thắng bằng mọi giá “, “đánh phục thù “, “đánh vuốt mặt” cho
Tống Triều và “đánh làm quà cho tể tướng Vương an Thạch ”, chứng minh
đường lối cải cách theo Tân pháp của tể tướng Vương an Thạch đă thành
công, “đánh tan giao châu của Đại Việt “ nhằm thị uy với các nước phương
bắc láng giềng của Tống. Thế nên khí thế tấn công của quân Tống rất mạnh.
Không bao lâu sau họ đă đến bờ bắc của sông Như Nguyệt, cách kinh thành
Thăng Long chừng vài chục dặm, khoảng chừng 60 km về phía bắc. Quân ta
vất vả giữ vững trận địa. Quân Tống dùng súng bắn đá bắn xối xả vào bờ
nam làm thuyền bè ta bị vỡ nát không ít. Hai hoàng tử đă hy sinh và vài
tướng cũng bị tử thương. Thương vong cao. Lư tướng quân đă dùng diệu kế
là cho đọc bản thơHịch lời thơ ngắn gọn, thời điểm công bố là trong một
đêm trăng dưới làn mưa đá xối xả được bắn ra từ bên kia bờ bắc của sông
Như Nguyệt, từ quân của viên tướng sừng sỏ Quách Quỳ. Khí thế địch thật
hùng hổ. Tại chiến trường sôi động ấy Lư tướng quân thấy rằng bài hịch
không thể viết dài, khó nhớ, không thể đọc trước hàng quân như thông lệ
năm xưa qua đánh Tống (sđd5) mà phải khéo chọn. Ông kỷ lưỡng chọn điểm
phát ngôn là từ một ngôi miếu vốn nổi tiếng linh thiêng, “đền thờ thần
sông “ nằm ở phía nam sông Như Nguyệt, đền thờ hai vị anh hùng Trương
Hát &Trương Hống, vốn là hai vơ tướng dưới thời Triệu Quang Phục. Thật
là một diệu kế của một danh tướng. Trong thế trận tưởng đă nghiêng về
phía quân Tống, bổng đảo chiều khi binh sĩ nghe bài thơ phát ra từ miếu
thần, sử TTK viêt “ Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền của Trương
tướng quân là thần sông Như nguyệt, có tiếng đọc to rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư! ((sđd1), Sai tại câu 2)
Khí thế quân Nam trở nên bừng bừng như có thần nhân hổ trợ và quân Tống
lập tức bị chận lại. Tống quân bị tổn thất nặng nề. Quân Tống tiến thoái
lưỡng nan từ dạo ấy. Lư tướng quân đề nghị giảng ḥa nhằm giảm sự khổ
đau cho nhân dân. Quách Quỳ thấy kéo dài là thua chắc nên thuận lui binh.
Khi đọc sử xưa tỉ như ĐVSKTT ta chỉ thấy các sử gia kể chuyện từng ngày,
ghí sự kiện, mà không triển khai những nguyên nhân sâu xa dẫn đến chiến
thắng ấy. Với họ chính bài thơ làm khí thế quân Nam tăng lên như một
phép thần mà không hề phân tích tại sao nó là bài “thơ thần’, bởi theo
họ chỉ có thần nhân mới tài t́nh tạo ra bài thơ như thế, đổi nguy thành
an trong thoáng chốc.
Nay ta thử phân tích Nam quốc sơn hà là bài thơ thần v́ lẽ nào ?
Phần 02
Tại sao Nam quốc sơn hà là bài thơ thần? - Thơ thần là bài thơ như có
sức mạnh Siêu nhiên đổi cả một cục diện trận đánh. Như đă chứng minh bên
trên, đây là bài thơ hịch theo phong cách riêng của người Việt nam, và
tác giả không ai khác hơn là Lư thường Kiệt.
Nguyên tác
南 國 山 河,
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 分定在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
李 常 杰
Phiên âm
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Lư Thường Kiệt
Chú vài từ và tạm dịch nghĩa
Bài 'Nam quốc sơn hà' cần chú và dịch theo
phong cách và ngôn ngữ đă quy định cho thể thơ hịch này
Câu 1 nêu công lư muôn đời
南 國 山 河 南 帝 居
Nam quốc sơn hà nam đế cư
a) Đó là câu công lư bởi năm 1054 vua Lư Thánh Tông đă đặt tên nước ta
là Đại Việt, tính đến năm 1076 đă được 22 năm.
b) Chính v́ tính cách Việt khác tính cách Tàu kể cả
trong văn chương và ngôn ngữ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Sau
khi Lê Lợi đánh thắng nhà Đại Minh, sao Khuê Nguyễn Trăi trong “B́nh
Ngô đại cáo“: đă lặp lại ư thơHịch năm xưa của danh tướng Lư Thường
Kiệt ông viết :
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo,
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đă lâu
Nước non bờ cơi đă chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.. “
c) Cuối thế kỷ thứ 18, vua Quang Trung
Đánh cho dài tóc,
Đánh để đen răng,
Đánh cho chích luân bất phản!
Đánh cho phiến giáp bất hoàn!
Đánh cho sử tri Nam Quốc Anh hùng chi hữu chủ!
Hoàng đế Quang Trung

Đây là bản chữ nôm của hoàng đế Quang Trung viết bằng chữ nôm nay được
giáo sư Ngô thanh Nhàn dịch sang quốc ngữ, link:
http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,38005,38005,quote=1
Khẩu khí của thơhịch nếu dịch ra quốc âm theo bạn ?
Câu 2
截 然 分定在 天 書
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
a)- Tiệt nhiên, [ 截然. ] phân biệt rơ ràng đâu ra đấy không dính dáng ǵ
với nhau nữa. Tiệt là cắt ĺa ra, nhiên là vốn dĩ là như thế.
b)- Phân định, [ 分定] sau một ngàn năm dành giật và
trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng năm xưa, Ngô vương Quyền đă cho nhà
Nam Hán biết thế nào là vàng là đá tính đến thời Lư tướng quân đă trên
dưới 150 năm rồi. Việc phân định [分定 ] nay coi như đă ổn.
c)- “Thiên thư”, Sách Trời (Trời là đấng, là người
lập nên thế gian này), nhất là người Tàu vốn đă tôn Khổng tử là thánh
nhân, đạo của Khổng là cô đúc trong câu, “sống là phải biết nương theo
đạo Trời”, thuận ḷng Trời là yên, nghịch ḷng Trời là loạn lẽ nào lại
vua Tống ngày nay lại không rơ tiền nhân họ. Lư tướng quân mắng vua Tống
ngu hèn là phải đạo.
Chính v́ vậy mà năm 1075 khi dẫn binh vào đất Tống, Lư thường Kiệt đă
mắng mỏ vua Tống trong bài hịch (sđd5)
“. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng biết tuân theo phép thánh, lại tin
kế của An Thạch tham tà, bày những phép "thanh miêu", "trợ dịch" khiến
trăm học mệt nhọc lầm than, mà riêng thoả măn nuôi ḿnh béo mập. Bởi
trăm tính mệnh muôn dân, đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo
le độc hại, lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xét. (5) "Phạt Tống lộ bố văn",
Lư thường Kiệt, Trần văn Giáp dịch
Lư tướng quân đă lư luận những ǵ đă được “phân định “ tại sáchTrời ấy
mà dân Lạc Việt ta đă đấu tranh dai dẳng với bọn Tàu phương bắc từ hơn
1000 năm trước để đến năm 938 th́ Ngô Vương Quyền đặt nền móng độc lập
lâu dài sau trận thủy chiến năm xưa. Nước ta luôn luôn thắng địch bằng
thủy chiến. Chiến tranh trên đường thuỷ luôn có tính quyết định ; trong
trận đánh năm xưa 1075, chính Lư tướng quân đă đích thân chỉ huy chiến
thuyền đánh vào châu Liêm giải quyết gọn nhẹ về phần ḿnh, trong khi
cánh lục quân do phó tướng Tôn Đản người Tày đánh châu Ung th́ chậm lụt
hơn, cuối cùng Lư tướng quân đă phải hổ trợ sau khi chém tướng tư lệnh
đạo quân Quảng tây mang sang cứu viện là Trương thủ Tiết (8) tại ngay
mặt trận th́ thành Ung Châu mới hạ được, Lư thường Kiệt hoàn thành cuộc
chinh phạt. Độc lập chưa đầy 150 năm, mà Lư triều với Phật giáo là quốc
giáo sao lại làm được kỳ tích như vậy. Có khi nào Bạnlà con dân Lạc Việt
nghĩ về nó với sự trăn trở sự ươn hèn của tổ quốc ta bắt đầu từ thời
Thiệu trị 1858…và sẽ kết thúc vào khi nào chăng ?). Năm xưa Hai Bà thua
v́ không có sức mạnh của thủy binh nên ngưuĐầu MăViện đă đổ bộ lên đất
Giao châu bằng đường thủy(năm 40 scn) như chỗ không người; rồi Trương
Phụ (1407) cũng huy động thủy binh hùng mạnh sang trấn áp nước ta, cho
nên từ “baTau” là từ cảnh giác dân tộc này từ ngàn năm trước. Mặt biển
đông luôn là hướng quyết định cuộc chiến sinh tồn của dân tộc này trước
sự xâm lăng của baTau phương bắc. Nhiều lần mất nước hoặc từ sự lơ là
hoặc là do yếu kém v́ ngân sách quốc gia huy động vào việc xây lăng tẩm
cho vua là một trong các điều xấu xa nhất do triều Nguyễn Gia Miêu cấy
vào đầu óc người Việt. Thiếu ngân sách, tiêu pha phung phí bỏ mặc thủy
binh suy yếu, ta mất nước cho bọn Tây cũng từ đường thủy mà ra. Mất miền
đông, mất miền tây, rồi mất luôn nước. Tằm ăn lên. Vua Nguyễn quá xuẩn !
Câu 3
如 何 逆 虜 來 侵 犯
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.
Dịch từng từ,
a)-“Như hà” là lời hỏi vặn, v́ sao, v́ cớ ǵ, hà cớ ǵ, mắc mớ ǵ. .
Nghịch [逆] là làm trái >> "ngỗ nghịch" [忤逆], Nghịch là từ phản nghĩa của
thuận, Nghịch làm trái với lẽ tự nhiên (thuận )
b)-Lỗ [虜] là từ, là tiếng dùng để “nhiếc mắng “, đồ mọi rợ, bọn tù mọi
rợ
Nghịch lỗ [逆 虜] bọn từ mọi rợ ngỗ nghịch
Dịch nguyên câu ba
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm. ” Hà cớ ǵ mà bọn mọi rợ ngỗ nghịch kia
sang xâm phạm. Xâm phạn cái ǵ ? Lư tướng quân cho rằng bọn Tống với
“vua Tống ngu hèn “ (sđd (5) kia đă xâm phạm những điều đă quy định (vốn
được phân định rạch ṛi từ sách trời, ít nhất là từ khi Ngô Vương ta
thiết lập nền độc lập vĩnh cửu cho dân Lạc Việt )
Câu 4
汝 等 行 看 取 敗 虛
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Laiquangnam xin dịch từng từ,
a)-[汝] nhữ là mày, vốn là từ Tàu thuần túy mang ngữ nghĩa “miệt thị “,
b)-[ 等] đẳng, bọn, lũ, cũng là từ Tàu thuần túy mang ngữ nghĩa “miệt thị
Nhữ đẳng là đẳng cấp bọn mày, thứ “ngữ mày”, “thứ đẳng cấp thuộc loại
ngữ mầy
th́ làm được nước non ǵ “
c) hành khan là thấy ngay lập tức
d) [取] thủ là cầm lấy, rước lấy.
e)- [虛] hư là hỏng hoàn toàn,
“thủ bại hư” cầm chắc lấy thất bại hoàn toàn
Laiquangnam dịch nguyên câu tư ;
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Theo đúng ngữ hịch (sđd 2, 3, 4 ),
Thứ “ngữ mày” nắm chắc thất bại hoàn toàn ngay thôi.
1-Nhắc nhớ chuyện năm trước c̣n quá mới với thời điểm phát bài thơ hịch
này, Lư tướng quân đă chém tướng tư lệnh Quảng Tây và các thuộc tướng ((sđd
8) tại ngay chiến trường khi tấn công vào hang ổ của chúng. Lư tướng
quân, nói là làm quá khứ đă chứng minh. Không cần khoa ngôn lông ngữ như
Lưu Hiệp đă dạy.
2-Nhớ xưa hoàng đế Quang Trung cũng đă viết hịch với lời lẽ như sau
Đánh cho dài tóc,
Đánh để đen răng,
Đánh cho chích luân bất phản!
Đánh cho phiến giáp bất hoàn!
Đánh cho sử tri Nam Quốc Anh hùng chi hữu chủ!
Hoàng đế Quang Trung
Laiquangnam xin chú vài từ giúp Bạn đọc dễ nhớ nguyên tác của người xưa.
chích luân là cái bánh xe,
a)-“chích luân bất phản!” là như cái bánh xe chỉ phải quay theo chiều
thuận, một chiều, không hề quay ngược bao giờ, nghĩa là “sách trời”trong
Nam quốc sơn hà, đă quy định là như vậy, cứ thuận theo mà bảo toàn mạng
sống, cớ sao phải làm nghịch lại. .
b)- “phiến giáp bất hoàn” là một mănh giáp cũng không c̣n để mà về, lính
thua chạy không có ǵ mặc mà chạy về ắt phải xấu hổ với vợ con, hàm ư là
“đánh cho không c̣n “cái quần xà lỏn” để mà mặc chạy về. Ôm đầu máu mà
chạy ! Đánh cho biết thế nào là ô nhục khi xâm lăng xứ người. .
Vua QuangTrung, nói là làm, bởi trong đời Ngài chưa biết thế nào là thua
trận, ngay cả khi giáp trận với bọn Tây khi bọn này giúp GiaLong
măiQuốcCầuVinh với vũ khí tinh xảo hơn hẳn mà cũngphải chạy dài;. thế
nên lời hịch trên chẳng cần dùng khoa ngôn lộngngữ như LuuHiệp đă dạy
khi tổng luận VH TQ. Ta khác Tàu, người Việt khác người Tàu là vậy. Tôn
sĩ Nghị bỏ chạy trối chết, hấp tấp đến nổi mà bỏ cả ấn tín, quân Thanh
cḥi đạp làm sập cầu phao, xác trôi lềnh làm nghẹt ḍng sông Nhị. Dân
miệt biên giới HoaViệt phải chạy lùi vào sâu trong đại lục cả trăm dặm.
Tóm lại Bạn đọc đă rơ từng âm, từng từ mà người xưa đă viết. Bởi bản văn
ngắn, người Việt buộc phải mượn âm Tàu, chữ của người Tàu làm vỏ bọc để
tải thuật ngữ thơHịch, thuật ngữ văn học. Ngày xưa không có viết mực
giấy bút như ngày nay, lối học chữ Tàu theo ” tam tự kinh” chỉ là cách
chữa cháy, ấy vậy mà ông bà ta du nhập trước sau chỉ trên dưới 5000 từ,
đúng ra chỉ cần 2 đến 3000 từ là đă đủ điều hành xă hội, đủ huấn luyên
quân binh.
Ta thử đọc lại đoạn văn sau đây để hiểu ngày xưa ông bà ta học chữ Hán
như thế nào, đây là thứ chữ dành cho cho lớp tú tài …, Vua không dùng “
sức học cở tú tài “ này, lớp tú tài chỉ biết chữ Hán vừa đủ để đọc mộ
bia, để viết gia phả, và để giúp cho quư bà đôi câu biền ngẫu “khóc
chồng “, họ làm vài câu thơ châm chọc hay tán gái hay mang cái sở học "bóng
đè" phả vào ca dao, giảng tích Tàu cho người nông dân mietj vườn ít học,
khiến cho dân ta bị Hán hoá trong đầu lúc nào không biết, thật khốn nạn
cho dân tộc này khi mà họ học không tới thay v́ làm thinh cứ luôn mồm
cất tiếng gáy. . Lớp cử nhân trở lên mới được tham chính, lớp sĩ phu “có
học” không kể tú tài hay cử nhân mới là lớp học hành chính quy mà dân
tộc này mang ơn. Ngay cả sở học cở tiến sĩ Cao xuân Dục, của Phan bội
Châu, giải nguyên mà c̣n bị cụ Phan Khôi chỉ trích là “viết câu chữ Hán
sai bét “ bởi người Tàu không nói như vậy. Vậy mà họ đă cày cục tiêu tốn
mười năm để thông 3000 từ Hán. Thế nên đại bộ phận người dân nói tiếng
Việt không mấy hiểu từ xa lạ. Thế nên trong triều luôn có vị quan văn
dịch lời biểu, lời tấu từ tiếng Hán sang tiếng Việt thuần túy cho các vơ
quan thông hiểu. V́ vậy tại chiến trường ác liệt năm xưa, trước trận
phản công mà địch phải huy động tên tướng sừng sỏ Quách Quỳ (7) mà họ đă
thần thoại hóa trong các truyện của người Tàu là Tam hạ Nam Đường, Vạn
huê lầu. Quân Tàu đánh với mọi khí thế trong người nhằm phục hận năm xưa
Lư tướng quân đă phá nát đất nước họ. Lư tướng quân đă viết bài thơ hịch
rất ngắn, nhưng hàm súc dủ các điều muốn nói, không cần truyền hịch
trước hàng quân, mà chỉ cần cho họ nghe, họ sẽ hiểu theo tŕnh độ của họ,
theo sự hưng phấn lẫn ḷng căm thù mà cấp trên của họ vừa làm vừa giảng
giải. Trận chiến trong đêm trăng bên bờ sông Như Nguyệt chỉ cách kinh
thành Thăng Long trên dưới vài chục dặm ( khoảng 60 km ). Trong khi cần
sự hưng phấn của người chiến binh, biết đâu có cả bọn trẻ vác tre, vót
chông, đội đất đắp lũy chống lại súng bắn đá của địch đang gây tổn thất
lớn cho thuyền bè ta. Trong bối cảnh ấy, người chiến binh, người dân
công trồng tre, vót chông có thể tử trận bất cứ lúc nào do đá bắn qua từ
bên kia sông, vừa làm vừa giữ trận tuyến, th́ giờ là vàng bạc, miễn sao
tạo nên khí thế chiến đấu cho quân binh là đă đủ. Thế mới biết chọn cách,
chọn điểm tiến hành phổ biến bài thơHịch là rất đổi tài t́nh của Lư
tướng quân. Nhờ đêm tối, đêm là thời điểm của thần nhân, là cơi âm. là
cơi tỉnh, người nghe rơ hơn, tập trung hơn. Thần nhân đọc lời thơ với
giọng văn trách mắng xem thường kẻ thù như laiquangnam đă tạm dich nghĩa
ở trên.
Chính v́ thế mà ngôn ngữ bản dịch này phải có giọng trách mắng, phải có
ngôn ngữ miệt thị kẻ thù truyền cho mọi tầng lớp dân quân, chiến sĩ tham
gia chiến dịch, trận đánh thông hiểu. Đó là loại ngôn ngữ thơHịch rất
đặc trưng của ḍng thơ cổ do tiền nhân ta viêt. “Ai đó “đă đem giọng
mượt mà đầy chất thơ vào bản dịch bài thơHịch này, laiquangnam e rằng
không đúng chỗ. Ngôn từ tuyệt kỹ của người xưa là dùng âm điệu cao thấp
của ḍng thất ngôn, và ngôn từ cần là “đánh đúng vào ḷng người Việt
khiến họ phấn khích mà cầm gươm xông tới, quên đi nỗi sợ tử vong “, lúc
ấy không có từ mượt mà mềm yếu ( Xin mời đọc phần bản dịch của người xưa
bên dưới ). Điều tốt nhất là chúng ta buộc phải thuôc nguyên tác hiểu
cặn kẻ từ tiếng Nho nay không c̣n dùng. Hiểu rơ được từng ngữ nghĩa.
Ngày nay trẻ lớp 6, 7 tại Việt nam đă học và nghe giảng bài Nam quốc sơn
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Lư Thường Kiệt
Rơ ràng bản dịch ra quốc ngữ khiến bọn trẻ dễ học, dễ nhớ hơn, nhưng sẽ
không hay bằng nguyên tác nếu như thầy cô giáo chịu giảng vói cả tấm
ḷng.
Người Việt với tinh thần thực tế, học sao cho nhanh, họ đă viết quyển
Nhất thiên tự: “một ngh́n chữ” cơ bản, dùng thể thơ lục bát các vô nghĩa
miến sao thuận miệng dễ nhớ là được. cứ mỗi một cập gồm một chữ Nho th́
tiếp theo nghĩa của chữ ấy là chữ thuần Việt, ví dụ thiên trời, địa đất
…
Dịch sang thơ quốc âm
Như đă nói trên ThơHịch phải có lời mắng mỏ. Hạ nhục, khinh mịêt kẻ thù
và rất tiếc là laiquangnam không đủ tài năng dịch, cho dù chỉ cố mong
được có một phần khẩu khí của người xưa, Lư tướng quân người đă mắng mỏ
vua nước Đại Tống, hài tội nhà tư tưởng lớn của người Tàu là Vương An
Thạch trong câu dưới đây “Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng biết tuân
theo phép thánh, lại tin kế của An Thạch tham tà, bày những phép "thanh
miêu", "trợ dịch" khiến trăm học mệt nhọc lầm than, mà riêng thoả măn
nuôi ḿnh béo mập. Bởi trăm tính mệnh muôn dân, đều phú bẩm tự trời, thế
mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại, lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xét. (sđd
5) "Phạt Tống lộ bố văn", Lư thường Kiệt, Trần văn Giáp dịch
Nay laiquangnam xin thể hiện lại bài Nam quốc sơn hà với hai bản văn
dịch thơhịch như sau, Mỗi bản văn được thể tái thể hiện trong từng nhóm
binh sĩ khác nhau khi họ luận bàn ngữ nghĩa của từ bài thơ thần mà họ
vừa nghe tiếng thần nhân đọc trong đêm trăng bên bờ sông Như Nguyệt
trong trận đánh quyết định sống c̣n, nhưng họ đâu có hiểu đó là thần cơ
trong cách dụng binh của Lư tướng quân, mượn miệng thần linh để binh sĩ
ḿnh mau thấm nhuần lời hịch do ḿnh viết, vừa phấn khích, vừa tức bọn
giặc ngu xuẩn, lỗ măng, vừa khúc khích cười, vừa ra dấu chọc quê kẻ địch
bên kia sông. Xưa nay theo thông lệ người chỉ huy luôn luôn được nhận
vinh quang về quyền tác giả các bản văn hịch mà ḿnh nói, viết hay ḿnh
cho lưu hành, cho đến khi đời sau có “ai đó” chứng minh bằng văn bản
rằng đă có người sáng tác ra nó. Nói ngược lại, phủ nhận Lư thường Kiệt
là tác giả với đ̣i hỏi phải chứng minh có bút tự của Lư thường Kiệt e
rầng kẻ ấy ấm đầu.
Dịch sang thơ quốc âm
01
Nước non Nam Đế Nam hùng cứ!
Phân định sách trời xưa tỏ nay,
Lỗ măng! cớ sao sang lấn phạm,
Ngữ bây thất bại rước về ngay!
Laiquangnam
02
Đất nước Nam, Đế Nam hùm ngự !,
Sách trời phân định tỏ xưa nay.
Cớ sao lỗ măng sang xâm lược!,
Chống mắt xem Ta “ tẩn”ngu lũ mày!.
“hùm ngự”, vuốt rau hùm chết có ngày nghe con!. Rừng nào cọp nấy. “ tẩn”,
đẩn, tẩm, đấm, tấn …là các từ mà trẻ hay dùng khi đánh nhau.
Bạn đọc có thấy bọn trẻ vừa tiếp tre, vừa tiếp đất cho người chiến binh
dưới làn mưa đá của đội quân xâm lược Quách Quỳ cố phục hận, họ bắn qua
xối xả qua bờ nam sông Như Nguyệt trong đêm trăng. Bọn chúng đùa vui, có
ǵ phải sợ. Chống mắt xem Ta “ tẩn” lũ mày!. Trận đánh mà bên ta chết
hai hoàng tử, và kẻ địch tổn thất vô cùng nặng nề, 10 phần chết sáu bảy.
Quách Quỳ vị tướng Tàu, người Tàu vô cùng sừng sỏ, cũng sợ chết, rồi
chịu lui quân. Ông nói ta thà ḿnh ta thân bại để cứu muôn người c̣n hơn
chết chùm. Vua Tống thua me gở bài cào, rồi cuối cùng quyết định lột
chức đuổi về quê. . Ôi khí thế này, ngày nay chúng ta không c̣n mong
thấy lại!
Lỗ măng chữ nặng nề hơn chữ mất day nhiều, lỗ măng là chữ của người bề
trên nói với kẻ dưới, thường hàm chứa một sự đe dọa, hễ không sửa chữa
là “ bụp” liền. Chữ mất dạy có khi người nói không đủ sức kiềm chế người
bị nguyền rủa, nhưng người dùng chữ lỗ măng th́ tự tin là ta sẽ đánh mày
nếu như mày không biết hối lỗi.
Chống mắt thường là sự quả báo cho một hành động phải xảy ra khi có một
nguyên nhân sai lầm hoặc bất nhân.
Tẩn, đẩn là khi ta chế ngự địch thủ đến mức không c̣n khả năng kháng cự,
địch thủ chỉ c̣n nằm yên chịu trận mà thôi.
Vài bản dịch của người xưa
( laiquangnam không b́nh hay có bất kỳ ư kiến ǵ )
01
Nam quốc sơn hà
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định rơ ở sách trời
Cớ sao lũ giặc đến xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời! (1)
1) Bản dịch của sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X đến giữa thế kỷ
XVII. NXB Văn học. Hà Nội. 1976.
02
Sông núi nước nam
Sông núi nước Nam vua nam coi.
Rành rành phân định ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Bay sẽ tan tành chết sạch toi.
Bản dịch của HOA BẰNG
Nguồn : Văn lang, Danh nhân đất Việt, NXB ThanhNiên, 1995
03 -Bản dịch:của Trần Trọng Kim
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm ?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!
04-Bản dịch do Lê Thước và Nam Trân dịch
(bản này đang được dùng trong sách giáo khoa Trung hoc và Đại học ở VN )
Núi sông Nam Việt vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ
Nhóm giáo sư Đại học Huế, Tinh tuyển thơ văn Hán Nôm, , NXB Giao Dục,
2001.
Bản số 05
Người dịch : Ngô linh Ngọc
Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự
Sách trời định phận rơ non sông
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm ?
Bay hăy chờ coi chuốc bại vong.
Trích Ngô linh Ngọc, Tổng tập văn học Viêt nam, tập I, NXB Khoa hoc xă
hội, Hà nội, 1980.
Lời cuối :
1-Sau trận thua đau này nhiều người Tàu thời ấy, hoặc sau này viết nhiều
câu chuyện Tàu nhằm giảm cấp chuyện đánh Tống thắng lợi vang dội của
danh tướng Lư thường Kiệt năm xưa. Họ đặt điều nói xấu tiền nhân ta tỉ
như bịa đặt các tên gọi xách mé, mà TCĐT cố t́nh trích dẫn gán ghép cho
Lư tướng quân. Họ thần thoại hóa sức mạnh của Quách Quỳ như là một danh
tướng bách chiến bách thắng trong các truyện Tàu mà thế hệ chúng tôi khi
c̣n nhỏ khoảng cuối đầu thập niên (1955-1962) ham đọc các truyện Tàu ấy
như Tam hạ Nam dường, Vạn huê lầu mà không biết đầu ḿnh đă nhiễm độc,
ḿnh đă bị người Tàu cấy vào đó một “tế bào ung thư” nay có người bị di
căn thành "bóng đè" nào có hay !. Quách Quỳ là tên tội đồ với dân tộc
này. Rằng "Cây quất trồng ở Giang Nam th́ ngọt mà mang lên trồng ở Giang
Bắc trồng th́ chua". Chính sử Tàu đă viết “xấu hổ v́ thất bại trên trận
đánh với Lư thường Kiệt vua Tống đă lột chức Quách Quỳ đuổi về quê”.
2-Xưa nay người Tàu vốn sở trường về hàng gian hàng giả, là chúa đặt
điều trong các sách truyện kư sự nói xấu nước ta. Tư tưởng Đại Hán thái
quá của người Tàu mà TCĐT cố t́nh trích dẫn, một lối ném đá dấu tay hiểm
độc. Tôi đă thấy, đă tiếp xúc, đă đọc trên internet, Tư tưởng Đại Hán
thái quá của họ luôn luôn là điều khiến cho người Việt chúng tôi dè
chừng người Tàu như ông bà chúng tôi đă dè chừng từ hơn 2000 năm nay. Từ
baTàu, baTrời, baHoa trong ngôn ngữ Việt là một minh chứng. Trong số đó
có người được gọi là “sử gia” sừng sỏ hiện nay luôn trích dẫn từ các
loại sách nhăm nhí này thay v́ tin vào chính sử, đó là TCĐT, một anh Tàu
“?”có gia đ́nh được người Việt ta cưu mang, được học với sử gia người
Việt là giáo sư Nguyễn Phương tốt nghiệp tiến sĩ tại Pháp năm xưa, nay
ông lại đang tâm bôi nhọ mọi danh nhân đất nước ta, một đất nước đă cưu
mang ông, biết đâu ông đă có chút pha gịng máu Việt qua người mẹ Việt
nam của ông, là người vợ đă từng chăm sóc bố ông chữ đáo. Phụ nữ Việt mà
!. Buồn thay cho một người đàn bà Việt này đă lấy Tàu để đẻ ra thằng con
bất nghĩa như vậy!. Ông không từ một ai từ Thần nhân người Việt đến các
đại anh hùng dân tôc như Lư thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Vua Quang Trung.
Sách vở mà ông trích dẫn toàn là thứ rơm rác, kư sự bịa đặt không là
gịng chính sử ! Thật đáng kinh tởm cho một anh có gịng máu Tàu mang tư
tưởng Đại hán xấu xa trong người, lư ra ông phải là người kết nối và ḥa
giải ḷng hận thù, v́ nguyên nhân đưa đến ḷng hận thù ấy giữa hai dân
tộc Hoa-Việt ông biết rất rơ mà. Tiếc thay ông lại tư tưởng Đại Hán đến
tận thế kỷ 21 qua các trang sử Việt tưởng vô tư, vô hại nhưng lại vô
cùng ác độc. Điều ông làm khiến người Việt trở nên cảnh giác vói đồng
bào người Hoa của ông hơn. Buồn thay v́ tôi không thấy mấy ai là người
Việt “ có học “ tử tế lại để tâm đến t́nh tự dân tộc Việt, nay Họ lại
không hề lên tiếng v́ “ người khôn nhất là người luôn tụng câu đầu môi “
“ một câu nhịn là chín câu lành ! “; rằng nó ăn ở không phải th́ trời
trả báo nó !“, nhớ xưa vị Phật sống của chúng ta là nhà vua Trần nhân
Tông đă khoác chiến bào cùng Hưng Đạo Đại Vương dẹp giặc, dẹp tan quân
Nguyên hung hăn để cứu đất nước này khỏi diệt vong. Nhà thiền sư đất
Việt năm xưa c̣n vậy huống ḥ ǵ bây giờ mà giới có học lại “ thủ thân
vi đại “ thấy chuyện bất b́nh về văn hóa mà nở làm thinh, rằng “sống
chết mặc bây” chỉ có ḿnh ta khôn ?. Buồn thay !
3-Đây không phải là bản Tuyên ngôn độc lập bởi nước ta đă là một thực
thể độc lập vững chắc kể từ khi Ngô Vương Quyền đánh tan quân Nam Hán
trên sông Bạch Đằng. Từ năm 938 trở về sau nước ta đă độc lập lâu dài.
Từ đó cho đến 1076 tính ra đă được 137 năm. Nay Lư tướng quân chỉ báo là
“ rừng nào có cọp nấy, “ đất nước phương Nam này ta đă tốn máu xương để
dành lại và xóa sổ 1000 lệ thuộc”. Năm trước, 1075, Ta (Lư thường Kiệt )
đă thay trời cứu dân Tống khỏi lầm than v́ họa Tân pháp của Vương An
Thạch. thế nên câu đầu “Nam quốc sơn hà Nam đế cư, ”, không cần phải nêu
tên nước của ta trong từng thời kỳ làm ǵ. “Nam quốc sơn hà là đất đai
của giống ṇi Lạc Việt.
Ngày nay trong văn học nước ta, có nhiều áng hùng văn trong lịch sử cổ
kim được chuyển dịch sang chữ quốc ngữ từ các nguồn văn hóa khác nhau.
Nhắc lại, Các vị vua ở nước ta thời cổ có Triệu Đà muốn xưng đế cho
ngang hàng với Hán đế nhưng sau vua Hán dùng đ̣n bẩn dọa đào mă cha mẹ
ông, Triệu Đà sợ là con bất hiếu nên rút ư định xưng đế, rồi dẫn đến họa
mất nước bởi sau khi ông chết, người vợ Tàu lăng loàn của ông có tên là
Lữ Hậu thông dâm người t́nh nhân cũ đang là quan trong triều Hán nên đem
đất nước về cho Tàu. Việc này khiến Lữ Gia nổi binh giết chết Triệu Ai
Vương và Lữ Hậu.
4-Khi xung trận Lư thường Kiệt đă gọi vua của Tàu là “ ngu hèn “, Có khi
nào Bạn đọc tự hỏi v́ cớ ǵ trong đầu “"bóng đè" của họ hiện nay khiến
các dịch giả Việt nam phải e ngại mà phải dùng thứ ngôn ngữ dịch mềm
mỏng khác với khí khách tiền nhân. Ngôn ngữ mang chất thơ không đúng
trong việc dịch bài thơhich này
5-Vua là chủ nước nhỏ, Đế là chủ của nước lớn.
6-Sáu điều độc đáo của bài thơ hịch “Nam quốc sơn hà “
Khác hơn các bản hùng văn được thể hiện đây đó trên thế giới, bản hùng
văn này có những yếu tố kỳ lạ tối ưu sau.
a)-Một là dùng thơ để viết hịch.
b)-Hai là bài thơ lại rất ngắn, nó chỉ có bốn câu gồm 28 chữ, với một bố
cục cực kỳ chặt chẻ mà trong suốt gịng lịch sử của người Tàu họ không
làm sao tưởng tượng nổi ; rằng đă có một tướng lănh Đại Việt đă viết hàm
súc như vậy. Đă không h́nh dung được th́ làm sao mà sáng tạo.
c) Ba là Thể hịch buộc phải dùng lời” khoa ngôn “ để khích tướng và làm
cho người chiến binh bớt sợ kẻ thù. Nam quốc sơn hà th́ người thật việc
thật, không lộng ngữ khoa ngôn.
e) Bốn là bài hịch được truyền đi khi vị tướng quân tư lệnh chiến trường
không cần phải tập hơp binh sĩ, không cần phải nh́n hàng quân dưới bóng
quân kỳ mà ban lời “nhật lệnh “, ”huấn lệnh, đọc bài hịch để nâng cao
tinh thần binh sĩ như thông lệ. Lư thường Kiệt đă có cách khác hiêu quả
hơn nhiều, kỳ diệu hơn nhiều. mau thuộc mau nhớ, tŕnh độ nào cũng hiểu,
diễn nôm ở dạng nào cũng được f) Năm là bài thơ của Lư tướng quân dùng
ngôn từ cho cả hai đối tượng mà ḿnh nhắm đến, binh sĩ thuộc quyền và cả
binh sĩ địch. Với kẻ thù th́ đó nặng lời “ mắng mỏ “, miệt thị và đối
với binh sĩ ḿnh rằng những ǵ ta nói có các nhân chứng nay là thuộc
tướng của ta, họ đă chứng kiến.
g) Sáu là Lư thường Kiệt biết giữa ngôn ngữ b́nh dân, số từ tiếng nôm
nhiều hơn thứ tiếng Tàu mà các quan văn (ông bà ta) đang dùng nên bài
thơ Hịch có thể được dịch ra thành nhiều khác nhau, tùy theo độ nhuần
nhuyễn từ ngữ dân tộc từ đó đánh thẳng vào ḷng yêu quê hương của người
chiến binh không được mấy hiểu biết chữ Nho
7-Là người Việt ngày nay mỗi khi chúng ta thẩm định lại giá trị một bài
cổ văn của dân tộc, buộc phải nh́n trước nh́n sau và quy chiếu một cách
nhất quán với t́nh tự dân tộc để thử t́m xem một cách cặn kẻ và có hệ
thống rằng “ có thuốc độc trong viên kẹo ngọt” hay chăng. Âm mưu Hán hóa
lên dân tộc Việt mà người Tàu nhất quán áp lên dân tộc này từ thời vua
Hán vào thế kỷ thứ I, SCN khi họ sai Mă Viện Ngưu Đầu triệt hạ văn minh
Lạc Việt, một nền văn minh Trống Đồng, văn minh lúa nước đă có khi tiếp
cận với các nước Nam Á qua đường hàng hải trước khi người Trung quốc xâm
lược và hủy diệt nó đi. Người Việt nay cầm bút cố mà tự hỏi ḷng rằng "Cây
quât trồng ở Giang Nam th́ ngọt mà mang trồng Giang Bắc trồng th́ chua"
có đúng trong trường hợp này chăng ?. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có
bản sắc riêng của ḿnh nên người nước Nam phải thưởng ngoạn theo phong
cách và t́nh tự của người phương Nam cần ǵ phải Tử viết, phải Lưu Hiệp
nói. Lư luận văn học của ta nên theo cách đánh giá của tiền nhân ta, Lê
quư Đôn và Ngô Thời Nhiệm… kiến văn nào có chịu thua kém ai, không thể
nhất nhất đều bị "bóng đè" như lớp đàn anh ḿnh sinh ở thập niên 1930
nay c̣n sót lại đó đây, họ làm nhiễm bẩn bản sắc dân tộc Việt. Người
Việt hiện nay cần có tinh thần khửHánhóa (déhanisation), để chống lại
quyền lực mềm HánHóa (Hanisation) mà Trung quốc hiện nay đang cố triển
khai trên đất nước ta như những ǵ ta thấy qua phim ảnh hằng ngày trên
tivi, trên báo chí tại Việt nam.
8-Những yếu tố khiến Lư thường Kiệt thành công trong việc chinh chiến,
xin mời đọc một đoạn
“Giáp Th́n, [Chương Thánh Gia Khánh] năm thứ 6 [1064], (Tống Anh Tông
Thự, Trị B́nh năm thứ 1). Mùa xuân, tháng giêng sai sứ sang Tống. . Mùa
hạ, tháng 4, [3b] vua ngự ở điện Thiên Khánh xử kiện. Khi ấy công chúa
Động Thiên đứng hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa, bảo ngục lại rằng:
"Ta yêu con ta cũng như ḷng ta làm cha mẹ dân. Dân không hiểu biết mà
mắc vào h́nh pháp, trẫm rất thương xót, từ nay về sau, không cứ ǵ tội
nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giảm". (ĐVSKTT )
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Xót thương v́ h́nh ngục, nhân từ với nhân dân,
là việc đầu tiên của vương chính. Thánh Tông lo tù nhân trong ngục hoặc
có kẻ vô tội mà chết v́ đói rét, [6a] cấp cho chiếu chăn ăn uống để nuôi
sống, lo quan lại giữ việc h́nh ngục hoặc có kẻ v́ nhà nghèo mà nhận
tiền đút lót, cấp thêm cho tiền bổng và thức ăn để nhà được giàu đủ. Lo
dân thiếu ăn th́ xuống chiếu khuyến nông, gặp năm đại hạn th́ ban lệnh
chẩn cấp người nghèo, trước sau một ḷng, đều là thành thực. Huống chi
lại tôn sùng đạo học, định rơ chế độ, văn sự thi hành mau chóng bên
trong; phía nam b́nh Chiêm; phía bắc đánh Tống, uy vũ biểu dương hiển
hách bên ngoài. Tuy có việc lầm lỗi nhỏ khác cũng vẫn là bậc vua hiền.
Hoặc có người bảo là vua nhân nhu có thừa mà cương đoán không đủ, ngu ư
chưa cho là phải.
Đời Lư với quốc giáo là Phật giáo nước ta chỉ mới 150 lập quốc dân ít,
văn hóa chưa cao so với địch mà đă kéo quân vào Trung quốc đánh đấm ra
tṛ, đây là lần duy nhất trong sử Việt ắt cũng có nguyên nhân sâu xa của
nó. Vua Lư là cha mẹ dân. coi dân như là con em của ḿnh. Một bài học
muôn đời của nhân cách Việt. Phục thay!
laiquangnam
-o0o0o0o-
I-Tham khảo
[1] Trần Trọng Kim, Việt nam sử lược in vào năm 1920, nxb Tân Việt,
Link http://vnthuquan. net/truyen/truyen. aspx?tid=2qtqv3m3237nvn2nqn1n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1
Chép “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư “. Từ sai sót này của cụ Trần
có lẽ đă dắt theo sự sai sót của Dương Quảng Hàm. Ngày nay khi tra trên
mạng internet, ta vẫn thấy các trang web nay c̣n vẫn dùng bản cũ. Ví dụ
: www. vi-wikipedia. org và các sách giáo khoa VN đang được dùng hiện
nay. Đúng ra phải là “Tiệt nhiên phân định tại thiên thư “ như bản
ĐVSKTT. Hanoi dịch lần 2.
[2] Phạm thi Hảo, Khái niệm và thuật ngữ Lư luận Văn học Trung quốc, nxb
Văn Học, năm 2004. Bà Phạm thi Hảo là chuyên gia đầu ngành về Trung quốc
học của Hanoi. Bà đă được gởi đến Trung quốc du học về văn hóa Trung
quốc từ trước 1954. Bà đă đọc nhiều sách viết về Văn học Trung quốc và
Các đại tự điển văn hóa của Trung quốc để viết nên quyển này.
[3]- Văn tâm điêu long, của Lưu hiệp ( 465-532), Phan Ngọc lược dịch
[4] http://www. pqtrung. com/nghien-cuu-van-chuong/van-chuong-nuoc-ngoai/li-tri-m-ca-lu-hip.
[5] "Phạt Tống lộ bố văn", http://www. suutap. com/default. asp?id=1326&muc=5
[6] Nguyễn Phạm Hùng, văn học Lư Trần nh́n từ thể loại (chuyên khảo ),
nxb Giáo Dục 1996. ,
[7] http://vi. wikipedia. org
[8] Chiến tranh Tống-Việt, 1075-1077
link http://vi. wikipedia.
org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_T%E1%BB%91ng_-_Vi%E1%BB%87t, _1075-1077
[9] link load –sách sử của Trần trọng Kim http://vnthuquan. net/truyen/truyen.
aspx?tid=2qtqv3m3237nvn2nqn1n31n343tq83a3q3m3237nvn1n
[10] link load sach ĐVSKTT
http://www. mtat. macdinhchi71. com/suutam/truyen/daivietsukytoanthu/
[11] “Đoàn trung C̣n, Tam thiên tự”
Link http://vnthuquan. net/diendan/tm. aspx?m=220136
-o0o0o-
II-Phần ghi chú nhanh bênlề những từ mà laiquangnam đă dùng trong bài
Vài định nghĩa về các từ “chữ Nho”, từ “Hán việt”, từ “Việt Hán”, từ Nôm,
từ “thuầnViệt”
Và từ “Việt”
1-Chữ Nho là thứ chữ mà ông bà ta xử dụng có nguồn gốc từ tiếng Tàu mà
ra, do v́ ông bà ta bị Tàu, người Tàu đô hộ, họ hủy sach văn tự của ta (
?) trong hai cuộc tàn phá văn hóa có tính “hệ thống, bài bản “ được thi
hành chặt chẻ. Một vào đời Hán, năm 43 SCN do Ngưu Đầu Mă Viện thực hiện
theo chỉ thị của vua Hán. Và lần thứ hai vào các năm 1400-1428 do Trương
Phụ thực hiện dưới sự chỉ đạo của vua nhà Minh. Khi bị mất chữ viết,
người Việt xưa buộc phải dùng chữ Tàu của người Tàu là người đă đô hộ
ḿnh. Đó không là ngôn ngữ của ḿnh, nên ông bà ta chỉ chọn lọc một số
ít từ để dùng tạm trong việc điều hành quốc gia như quản lư xă hội (quản
lư hộ khẩu, Họ tên (tiện cho việc bắt lính, đóng thuế ), viết gia phả,
văn bia… ) ; dùng trong việc thi cử ( dựa vào văn chương mà tuyển người
tài cho đất nước …). Ước độ ông bà ta dùng trên dưới 5000 từ đơn (Tự
điển Hán Việt của ĐDA vào đầu thế kỷ 20 là một minh chứng).
Vào năm 1407-1427 Người Tàu thấy người Việt viết chữ Nho nhưng đọc theo
âm Hán đời Đường, thế kỷ thứ IX_X, , mà ta tạm gọi là âm Hán Việt không
giống như người bản địa ( Tàu, người Tàu, Minh) cho nên đă bắt về Trung
quốc hơn 200 người là các học sanh, là thầy chùa sang Tàu để người Tàu
tái đào tạo rồi tung về Việt nam để duy tŕ sự liên tục ḍng văn hóa Hán
tộc. Lối đi là qua kinh sách Phật giáo Trung quốc ( mà nay vẫn c̣n là
một thứ "bóng đè" nặng trên vai Phật giáo Việt nam ). Thiều Chữu trích
ra thêm khoảng chừng 4000 từ nữa, thế nên trong Hán Việt tự điển của
Thiều Chữu có những tiếng, những từ tuy ta đọc theo âm Hán Việt nhưng là
của Tàu, bởi chỉ có người Tàu rặt mới dùng mà thôi ; người Việt chúng ta
không dùng hay không c̣n dùng. C̣n có chăng đây đó là giới “thày chùa
Việt nam “ bị "bóng đè" c̣n xử dụng trong các kinh Phật giáo. “Kinh nhật
tụng” nay do giáo hội Phật giáo Việt nam c̣n dùng trong nước là một minh
chứng "bóng đè". Lớp thày chùa này, nay dịch kinh sách Phật giáo Trung
quốc với thứ ngôn ngữ rặt mùi Tàu để “nhớ thời nô lệ vinh quang !“, ngân
sách do Giáo hội Phật giáo và chính phủ Đài loan tài trợ. Thế nên ta
không lấy làm lạ các chùa Việt nam thương có ông Phật mập bụng phệ nhe
răng cười đứng trước sân chùa Việt nam, mà thày chùa Việt nam giảng đó
là phật DiLặc. Có bao giờ Bạn đọc nghĩ rằng với thân h́nh đồ sộ ấy, ăn
cho cố vào, Bố đaị ḥa thượng là người tạp ăn, nay hoá thân thành phật
Di lặc, ông bị bệnh tiểu đường, cao mở máu, thừa cholesterol và trăm thứ
bệnh khác là chắc dưới con mắt người Việt tỉnh táo thời nay, làm sao mà
ông ngồi thiền cho được ở cái xứ nóng và ẩm như nước Việt ta. Cứu thân
không được c̣n cứu ai. Đừng lấy câu Phật giáo “ phá chấp, phi h́nh tướng”
mà che cho sự thua lư, Thày chùa và chư vị đă hiểu sai câu này rồi!. "Cây
quất trồng ở Giang Nam th́ ngọt mà mang trồng Giang Bắc trồng th́ chua"
Không hiểu giới thày chùa Việt nam có chịu biết ? Phật giáo Việt nam nay
đang là bản sao lệch lạc, nhuếch nhác của Phật giáo Tàu !
2-Từ Hán Việt là tập hợp con của chữ nho, từ thứ chữ nho ấy mà chuyển
hóa. Từ HánViệt là tiếng Hán đọc theo Âm Việt đă được chọn lựa lại trong
số ấy. Ví dụ chữ Thiên của Tàu, người Tàu dùng khoảng 26 chữ, trong
tiếng Hán Việt ta chỉ dùng 5 từ với năm nghĩa khác nhau cùng có âm là
thiên. Có 26 chữ Tàu, có 5 chữ Nho, có 5 từ Hán Việt, có 5từ Việt Hán và
có một từ Việt, nói thiên nói địa tuy là nói trên trời dưới đất, mà nay
thành tiếng thuần Việt, bởi người Việt hiểu cụm “nói thiên nói địa” >>
nóiThiênNóiĐịa >nóiBaTtrời, nóiTàolao, nóiBaXíBaTú …. (các từ viêt liền
tương đương với một từ tiếng Anh khi chuyển dịch. Từ HánViệt là từ mà
ngày nay chúng ta cần phải làm ngay một quyển tự điển gọn nhẹ, học sinh
và người dùng b́nh thường chỉ cần quanh quẩn trong ṿng 3000 từ là đủ.
Làm như ĐDA vừa thiếu vừa dư, lẫn lộn giữa chữ Tàu, chữ nho và từ Hán
Việt, từ Việt Hán. Ta cần có ngay nó để có bộ tự điển đối chiếu Prefix
và suffix dành chuyển ngữ các thuật ngữ Khoa học, văn chương, luật pháp
…vv. …một cách nhất quán.
3-Từ Việt Hán là tập hợp con của từ Hán Việt, có số phần tử nhỏ hơn hay
bằng. Từ Việt Hán là từ tối cần thiết để mở rộng ngôn từ và sức sống cho
ḍng Việt ngữ \
Ngày nay ta mượn âm Hán để dịch các thuật ngữ khi ta tiếp cận Văn minh
thế giới Tây phương, nó đă ảnh hưởng trên văn hóa chúng ta ngày nay
không thể tránh khỏi. Văn hóa của dân tộc ta là sự tiêu hóa, là sự tiếp
cận, tiếp nhận và có chọn lọc. Muốn hiểu từ Việt Hán cho tường tận, ta
phải chú bằng tiếng Anh bên cạnh, và người dùng buộc phải tra
Encyclopedia của Anh Mỹ mới mong hiểu rơ nghĩa. Các Đại tự điển của
người Tàu, họ cũng dịch từ các bộ Encyclopedia của Anh, Mỹ, Pháp mà ra
cả. Ví dụ các từ Triết học (philosophy), văn hóa ( culture) tư bản
(capital) là các từ Việt Hán. Văn hóa ( tỉnh từ ) là từ Hán Việt (dùng
tự điển Thiều Chữu để tra ). Văn hóa(danh từ ) là từ Việt Hán dùng
Encyclopedia để tra. Các vị được gọi là học giả bị "bóng đè" nặng thường
thích tra cứu các từ mà laiquangnam giới thiệu ở trên bằng các đại tự
điển của Trung quốc. Hết biết!. Dịch lại cái người ta đă dịch từ trong
các bộ Encyclopedia của người Phương Tây để hiểu từ, đó là lối làm việc
của học giả bị "bóng đè", Tàu là nhất có là” người “?”.
5-Trong ngôn ngữ của ta có tám định nghĩa về một loại từ để sắp xếp nó
vào là chủng loại nào. Do khuôn khổ và nội dung của bài Nam quốc sơn hà
không cho phép laiquangnam dài ḍng, xin hẹn quư bạn trong một bài viết
khác.
Đọc để biết trong thế kỷ trước, đa phần các nhà sư Việt nam tu tập tại
chùa nhỏ của Phật giáo Việt nam dưới thời Pháp thuộc và hay ngay cả thời
Ngô Đ́nh Diệm tại các địa phương xa kinh thành Huế, họ đă có lối học chữ
Nho như thế, nhất là trước 1935. Lối học chữ nho này phổ biến tại các
chùa ở đồng bằng Nam bộ, trên các hải đảo, và có lẽ cả giới tu sĩ Cao
đài nữa. Học hành không tới nơi nên du nhập “ thượng vàng hạ cám “ là
nhiễm bẩn văn hóa Việt tộc. Lớp trẻ nếu không được cảnh giác sẽ mất định
hướng về văn hóa Lạc Việt. Ngày nào mà dân trí ta c̣n thấp th́ ngày ấy
càng bị Hán hóa nặng nề trong tư tưởng và trong cách sống. Dễ thấy nhất
là lớp người sinh thập niên 1930 biết chút chữ Hán cũng a dua truyền bá
không công cho văn hóa Tàu, lấy điển Tàu, phong tục của người Tàu rồi
gán cho “khuôn phép của tiền nhân “. Bó tay !
Thiên trời, địa đất, vân mây,
Vũ mưa, phong gió, trú ngày, dạ đêm,
Tinh sao, lộ móc, tường diềm,
Hưu lành, khánh phúc, tăng thêm, đa nhiều…
Tam Thiên tự: “ba ngh́n chữ”. Chữ và nghĩa kế tiếp nhau thành từng đoạn
theo lối vè bốn chữ, gieo vần theo thi pháp lục bát chính quy, nghĩa là
chữ cuối câu trên ăn vần với chữ thứ ba đếm lùi của câu kế tiếp không
cần nghĩa lư. miễn sao dễ thuộc là được, ví dụ :
thiên: trời. điạ: đất.
cử : cất. tồn: c̣n.
tử : con. tôn: cháu.
lục: sáu. tam: ba
gia: nhà quốc : nước (Tamthientu)
Thế nên ngày nay chúng ta có những từ songlập, với đặc điểm là chữ sau
giải nghĩa chữ trước. Ví dụ trong ngôn ngữ của ta có các cặp từ thượng
lên, hạ xuống, hay khi nói “đường quốc lộ” ”sông Nhị hà” vẫn không nghe
chướng. Nhiều người ra vẻ ta đây bày đặt chỉnh sửa người nói sai, phê
phán người nói đă dùng dư từ, theo họ nên nói “quốc lộ”, “Nhị hà”. Theo
ngu ư laiquangnam đó là sự phê phán không cần thiết. Nổ! là bệnh của anh
cái cần biết th́ không biết, cái cần nói th́ không chịu nói, cái cần bỏ
qua th́ gay gắt, ta đây. Cách học chữ nho của ông bà ngày ấy, cũng có
nhiều cái hạn chế, chữa lửa, ví dụ ngay từ chữ bắt đầu học, ”chữ thiên”
trong tam thiên tự cho ta thấy ǵ ?. “Thiên”, tiếng Tàu của người Tàu có
ít nhất là 26 chữ trùng âm, , người Tàu viết 26 chữ khác nhau để phân
biệt ngữ nghĩa. Âm Hán Việt đều đọc là thiên. Chữ địa của người Tàu dùng
có thể ít nhất trong bảy ngữ nghĩa khác nhau. Khi sang tiếng Việt c̣n
đôi ba nghĩa, địa là đất, địa là vị trí chổ ngồi, là thứ bậc trong xă
hội, vidu địa vị. Từ từ HánViệt, Địa là đất sang từ ViệtHán như thuật
ngữ ĐịaLưHọc (geography). Trong khi tiếng thuần Việt, “Địa” c̣n là là
động từ chỉ chôm, chỉa. Địa trong từ song lập thổĐịa chỉ người là rành
về một địa bàn. Thế nên trong tiếng Việt ta từ song lập khóa lại ngữ
nghĩa các từ đơn. Các dấu hỏi, ngă, các chữ cuối t, c, ch, n, ng ( ví dụ
+an, +ang ) mà người Nam Trung bộ, hay Nam bộ đọc như nhau, nhưng nhờ
mặt chữ thể hiện mà người Việt nhận biết ngữ nghĩa của nó. Lối học vỡ
ḷng làm quen chữ quốc ngữ của thế hệ chúng tôi, ngày ấy các Thầy chúng
tôi đều dạy như vậy. Dạy ngữ nghĩa dưới h́nh thức chính tả, Khi đă đọc
thuộc ḷng, đă quen mặt chữ th́ người đọc đă đọc ngay tổng thể có ai cần
đánh vần đâu. .
www. art2all. net
|