LAIQUANGNAM

Laiquangnam giới thiệu thơ chữ Hán của Nguyễn Du

 

Nguyễn Du

THÁI B̀NH MẠI CA GIẢ

Phần thứ hai

 

          Giá trị lớn nhất của bài "Thái B́nh mại ca giả" này là lời dạy của tiền nhân. “Đừng vội tin, hăy mở to mắt để thấy trước đă, thấy rồi hăy tin!.” Niềm an ủi duy nhất của Nguyễn Du là ông không chứng kiến cảnh ô nhục nước mất nhà tan như các thế hệ sau ông năm mươi năm sau và măi tận sau này. Sau khi ông mất, các v́ vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cho dù cố đưa người đến tận vét đi vét lại cho kỳ hết số sách vở và trước tác của ông tại nhà sau khi ông qua đời, chiếm đoạt được các trang thơ nhật kư này, họ cũng không sao hiểu được những ǵ Nguyễn Du than thở và cảnh giác con cháu ḿnh trong các bài thơ thuộc tập  Bắc Hành Tạp Lục ấy. Có lẽ ngoài tài chẻ chữ Tàu mài ra và đốt uống, Thiệu Trị, Tự Đức chẳng mấy am hiểu ư câu thơ sâu xa của tiền nhân, một câu thôi của  bài "Thái B́nh mại ca giả" này, nói ǵ đến 131 bài trong tập này. Rằng đừng nghe người ta “ nổ “ về một đất nước Trung Hoa cực kỳ no ấm tốt đẹp nữa, hăy đọc thơ tôi để nh́n tận mắt sự thật về đất nước và con người Trung hoa trước đă, rước của nợ để rồi chết cả đám! Quả nhiên sau này v́ mê chữ Hán, và lậm liều thuốc độc bọc đường này, qua thứ chữ h́nh tượng này, Thiệu Trị và Tự Đức bỏ bê việc triều chính, măi lo đẽo chữ, họa thơ, đất nước ta lâm vào ṿng nô lệ mới.

Là người cầm đầu phái bộ gồm 27 người đi sang Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ 19, trước khi Nguyễn Du ra đi, hẳn Gia Long và đám thuộc hạ gồm những  người  hoạch định chính sách quốc gia cùng ngồi bàn tiệc tiễn đưa bàn cách “giữ lễ” nhưng không được phép tỏ ra hèn nhục. Ai là người cầm tay “chỉ đạo” cho ông 5 Chữ Vàng “Trung hoa Tận ôn bảo “  và có lẽ “hắn” đă cho ông xem  tập Sứ Yên thi tập,  một  tập  thơ ghi lại những ngày hạnh phúc tại đất nước này như hắn(1808-09)?. Hắn chắn chắn là người đă từng hưởng ơn mua móc của Thanh triều và đă  từng ngày đêm tổ chức cuộc tiếp đón đại quân của  nhà Thanh kéo vào nước ta với ḷng hớn hở. Hắn là ai và hắn đă giữ chức ǵ trong tân triều Gia Long?  Sử sách c̣n dấu vết không? Dễ ǵ một  người hậu duệ của  người  anh hùng Nguyễn Bật năm xưa lại cam tâm là “múa lưỡi “ để  tiếng xấu lại muôn đời cho con cháu ḿnh, như Đặng Dung trong bài Cẩm Hoài đă rủa “tẩy binh vô lối kéo Ngân hà “. Nước  sông Ngân đâu có đủ để rửa sạch được vết nhơ của đội quân Hán. Ngày nào dân tộc này c̣n ngước nh́n lên trời, c̣n nh́n thấy sông Ngân trắng xóa vắt ngang trời mỗi vào tháng 7 âm lịch mưa ngâu, là ngày ấy tên tuổi họ c̣n bị nguyền rủa dài dài. Lịch sử là lịch sử, công tội phân minh. Là chứng nhân lịch sử trong đoạn nhiễu nhương nhất của  dân tộc ḿnh, Nguyễn Du hé cho ta thấy một  phần nào tâm tư của một kẻ sĩ Bắc Hà.

Chạnh ḷng chuyện cũ mồxanh (=mộ phần của tổ tiên ), Chớm thu sương tóc trắng nhanh mái đầu. Tiếng ConNhà, vất vả sâu, Dẫu thân không bệnh, lưng đau khom, ṿng!. 

http://chimviet.free.fr/vanhoc/laiquangnam/lqnt068a_nguyendu_thuchi.htm.

Trong số các bài ấy có 4 bài đáng đọc nhất cho dù bạn hiền lười  biếng hay bận rộn tới đâu chăng nữa, đó là các bài Long thành cầm giả ca, "Thái B́nh mại ca giả", Sở kiến hành, và bài Phản chiêu hồn .

 

Nay xin trở lại bài "Thái B́nh mại ca giả" ..

I-  Nguyên tác & phiên âm.

   

Nguyên tác

Phiên âm  ```

1.  太平瞽師粗布衣

2.  小兒牽挽行江湄

3.  云是城外老乞子

4.   賣歌乞錢供晨炊

 

5.   鄰舟時有好音者

6.   牽手引上船窗下

7.   此時船中暗無燈

8.   棄飯潑水殊狼藉

 

9.   摸索引身向坐隅

10.  再三舉手稱多謝

11.  手挽弦索口作聲

12.  且彈且歌無暫停

 

13.  聲音殊異不得辨

14.  但覺嘹喨殊可聽

15.  舟子寫字為余道

16.  此曲世民與建成

 

17.  觀者十數並無語

18.  但見江風蕭蕭江月明

19.  口噴白沫手酸縮

20.  卻坐斂弦告終曲

 

21.  殫盡心力幾一更

22.  所得銅錢僅五六

23.  小兒引得下船來

24.  猶且回顧禱多福

 

25.  我乍見之悲且辛

26.  凡人愿死不愿貧

27.  只道中華盡溫飽

28.  中華亦有如此人

 

29.  君不見 使船朝來供頓例

30.  一船一船盈肉米

31.  行人飽食便棄餘

32.  殘肴泠飯沉江底

1. Thái B́nh cổ sư thô bố y

2. Tiểu nhi khiên văn hành giang mi

3. Vân thị thành ngoại lăo khất tử

4. Mại ca khất tiền cung thần xuy

 

5. Lân chu thời hữu hiếu âm giả

6.  Khiên thủ dẫn thướng thuyền song hạ

7.  Thử thời thuyền trung ám vô đăng

8.  Khí phạn bát thủy thù lang tạ

 

9.  Mô sách dẫn thân hướng tọa ngung

10. Tái tam cử thủ xưng đa tạ

11. Thủ văn huyền sách khẩu tác thanh

12. Thả đàn thả ca vô tạm đ́nh

 

13. Thanh âm thù dị bất đắc biện

14. Đăn giác liêu lượng thù khả thính

15. Chu tử tả tự vị dư đạo

16. Thử khúc Thế Dân dữ Kiến Thành

 

17. Quan giả thập số tịnh vô ngữ

18. Đăn kiến giang phong tiêu tiêu giang nguyệt minh

19. Khẩu phún bạch mạt, thủ toan súc

20. Khước tọa, liễm huyền, cáo chung khúc

 

21. Đàn tận tâm lực cơ nhất canh

22. Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục

23. Tiểu nhi dẫn đắc há thuyền lai

24.  Do thả hồi cố đảo đa phúc

 

25. Ngă sạ kiến chi, bi thả tân

26. Phàm nhân nguyện tử bất nguyện bần

27. Chỉ đạo Trung Hoa tận ôn băo

28. Trung Hoa diệc hữu như thử nhân

 

29.  Quân bất kiến, Sứ thuyền triêu lai cung đốn lệ

30.  Nhất thuyền, nhất thuyền doanh nhục mễ

31.  Hành nhân băo thực tiện khí dư

32.  Tàn hào lănh phạn trầm giang để.

 

 

 

II-Tạm dịch nghĩa

Thành thật khai báo :

Do chữ nghĩa, cách hành văn, sự mô tả tỉ mỉ, bố cục quá khéo, thú thật cho dù cố gắng lắm ḿnh cũng chỉ làm được chừng này. Biết đến đâu thưa thốt đến đó nha.  Tin rằng  các bạn thuộc thế hệ 1,5 tiếp sức. Cám ơn và thương yêu các bạn.

1-Thành Thái B́nh (Bên Tàu) có người mù tài hoa bậc thầy nhưng lại mặc áo vải bố thô ráp (*bố là thứ vải gai, dùng may quần cho người nghèo khó, mặc vào rất xót, có khi ngứa nữa, .(* người già mù mà da dẻ nhăn nheo, mặc ba thứ này là một cực h́nh, mỗi lần giặt lại phải dùng nhiều sức, tay phải mạnh mới vắt nổi, rất lâu khô, tự mưu sinh, xă hội bất nhân, Nguyễn Du + một lần thương cảm)  2-Đứa trẻ dẫn đi dọc mé sông 3-Th́ ra đó là ông già ăn xin ở ngoại thành.(* người già mù mà phải tự mưu sinh, xă hội bất nhân, Nguyễn Du + hai  lần thương cảm 4-Ông bán tiếng hát (mại ca) của ḿnh xin tiền mà cung phụng cho cái bếp, nó được đốt lên vào buổi mờ mờ sáng ( *thần, tức là thời điểm vào lúc gà gáy, điều này cho thấy họ dậy rất sớm, ăn ba miếng rồi lội bộ từ ngoại thành lên thành phố). (Nguyễn Du +3  lần thương cảm, già cả cộng mù ḷa mà c̣n phải sáng lo dậy từ sớm bửng, lộm cộm thổi ḷ nấu nướng. Ai đă từng ở miền trung quê tôi,  trời tối thui, ẩm ướt, mưa thúi đất mà phải dùng ống tre làm ống thổi lửa, tro bay mù mịt mới nhận ra nỗi khổ, ngày nay bật một cái ga ào ào nói làm ǵ .)

5- Thuyền bên kia có người thích nghe đàn hát. 6-Cầm tay ông lăo bé dẫn lên thuyền, về mé phía dưới cánh cửa sổ (vị trí họ sẽ ngồi đàn hát ),7-Lúc này trong khoang thuyền tối om lại không có đèn (*có lẽ vào thời điểm nhá nhem, chạng vạng, trong bối cảnh này có thể mường tượng ông thầy mù từ sáng sớm tới chiều tối chưa ăn uống ǵ chăng? hay nếu đă ăn th́ hẳn là hai ông cháu ăn bậy bạ cái ǵ đó, bởi câu 1 cho thấy bữa ăn chính của ông là lúc sáng rất sớm, họ đă đi bộ răo răo suốt ngày, 8-Cơm thừa canh cặn đổ ra rất là bừa băi. (* cho thấy thái độ và cung cách ăn uống của thực khách “nước lạ”, bạn lạ ǵ một bàn nhậu nhiều “người lạ” ăn uống, họ rất bầy hầy trên bàn ăn, lư ra người hát rong đợi người nhà thuyền dọn chỗ sạch sẽ rồi th́ mới hát ḥ; không biết với người chưa có hột cơm trong bụng từ sáng đến giờ trước cái bàn thừa thải thức ngon có khiến cho họ buồn ḷng và tiếc rẻ chăng, hát ḥ trong bối cảnh mùi cơm thừa canh cặn này, hẳn không dễ chịu chút nào rồi, ). (Nguyễn Du +bốn lần thương cảm nữa, ác thiệt! Sao người  thuyền hay kẻ ăn nhậu kia không xúm vô dọn lối đi cho ông lăo mù ḷa, sàn thuyền đánh bóng rất dễ vấp, trợt té )

9- Ông mù ṃ mẫm t́m được chổ ngồi trong một góc.10-Đôi ba lần ông giơ tay chào cám ơn. (bậc thầy có khác, vui vẻ & lịch sự) 11-Tay so dây dây đàn, miệng cất tiếng hát. 12 Vừa đàn vừa ca không chút ngơi nghỉ.

13- Tiếng “người lạ “ (*người lạ = người Tàu, người không cùng ṇi giống với ḿnh; thù dị=khác hẳn) ḿnh không làm sao hiểu được. 14-như thể có tiếng sắc lạnh lanh lănh (liêu lượng), tiếng kêu la trong một cuộc chém giết, có thể nghe ra. 15-Nhà thuyền thảo vội vài chữ bảo rằng, 16-Khúc hát này nói về Thế Dân và Kiến Thành.

17- Khoảng mươi người nghe đều im lặng không nói lời nào 18-Chỉ thấy gió vi vu trên ḍng sông đầy ánh sáng trăng (Nguyễn Du lơ đăng nh́n ra sông, dấu cảm xúc) 19- Miệng phun bọt trắng xóa, tay xịu lơ, tay giở lên không nổi (Nguyễn Du + lần thương cảm thứ năm )

20- Ông không c̣n ngồi nữa (*20a, khước tọa =có nghĩa là khom người đứng dậy) đi gom gọn đàn lại, rồi nói lời cáo từ rằng khúc hát đă hết.

21- Dốc tận sức lực ra đàn hát ước chừng một trống canh  22- Vậy mà được chưa tới năm sáu đồng bạc (* ư mỉa mai, bọn nhà giàu keo kiệt), (Nguyễn Du + thương cảm thứ sáu. Tiền ít quá, không tương xứng với sức lao động của ông già mù. Cuộc mua bán không  tương thích.)

23- Đứa bé dẫn ông xuống thuyền (có nghĩa là rời ra khỏi thuyền, bởi tại câu 6 ông bước lên để vào thuyền (*có lẽ lên xuống thuyến ông cháu họ phải qua một cái thang nhỏ hay bước qua một  tấm ván như ta thường thấy ở bến sông). 24- Ông c̣n quay đầu lại chúc họ nhiều điều phúc lành nữa  (*với ông thế là tạm đủ? Nhưng với Nguyễn Du th́ thấy không đủ, không tương xứng với công đàn hát được mô tả tại các câu 13 dến câu 21, nhất là hai câu 19&21 được viết khá kỹ).

25-Chợt thấy cảnh đấy ta cảm thấy chua xót tận cùng (*một lần nữa ta thấy tấm ḷng của người thi nhân Việt, bài Sở kiến hành, rồi bài này . 26-Phàm con người ta ước ḿnh được chết đi hơn là ước ḿnh được sống trong cảnh nghèo hèn . 27- Nghe dạy (chỉ đạo, 27a mỉa ,người chỉ đạo cho ông trong chuyến đi này là ai vậy?) rằng ở Trung Hoa mọi người đều được hết sức ấm no (tận ôn bảo = hàm nghĩa rất hạnh phúc), 28 -Trung Hoa cũng có người như thế này đây. (nói có sách mách có chứng, cụ thể, Nguyễn Du đă qua 6 lần thương cảm ).

29- Anh không thấy theo thông lệ mỗi sáng sớm thuyền của các đoàn sứ giả lại đến đây để  t́m nguồn hàng cung cấp bổ sung cho bữa ăn sao. 30- Từng thuyền, từng thuyền giỏ chứa đầy thịt gạo. 31-Hành nhân ( người trong các đoàn sứ giả) ăn no, thừa th́ vứt đi. 32- Đồ nhấm (mồi, thức ăn) thừa, cơm nguội đổ ch́m xuống sông. (mỉaTrung Hoa, “thấy chưa!, như thế mới gọi là no đủ. Được ăn ngon, ăn dư, cơm nguội (không thèm hấp lại) mà đem đổ bỏ xuống sông.)

 

Đàng sau ḍng chữ nghĩa bài thơ "Thái B́nh mại ca giả" .

 Ai “chỉ đạo”& “ban“ cho Nguyễn Du “5 chữ vàng”,

“Trung Hoa tận ôn băo”?,  Trung hoa ấm no cực kỳ!.

 

I-  Chân dung kẻ chỉ đạo.

 Phải là một người mơ ước đón quân Tàu qua xứ ta với ḷng hân hoan, kẻ đó đă từng được sang Tàu và được người Tàu xem họ là một hạt nhân gầy dựng chính sách quốc gia sau này, và Tàu đă dành cho họ hưởng nhiều lạc thú khi họ làm vai tṛ là một chánh khách Việt trên đất Tàu th́ may ra. Có thật không?.

Xin thưa, trong ḍng chính sử có ghi rành rành;  Kẻ đó không ai xa lạ, đó là người ngày đêm nằm đợi sẵn tại biên giới Đại Việt để đón đoàn quân xâm lược của Tôn Sĩ Nghị tiến về kinh thành Thăng Long mở màn cho đợt xâm lược sau gần năm trăm năm vắng bóng quân Tàu trên đất nước ta (1428-1878). Chính kẻ đó được Lê Chiêu Thống, nhân danh vua nhà Hậu Lê (nhà cầm quyền hợp pháp của Đại Việt năm xưa) cử ra liên lạc với Tôn Sĩ Nghị trong suốt thời gian nước ta bị giặc Tàu chiếm đóng. Tên hắn là ǵ?. Xin thưa hắn tên là Vũ Trinh. Nguyễn Du thua Hắn 7 tuổi. Hắn học giỏi v́ nhờ cha hắn đă từng là một đại quan. Năm 17 tuổi, hắn đă đậu Hương Tiến và đă từng làm quan dưới triều Lê Chiêu Thống. Chính hắn và cha hắn đă khuyên Lê Chiêu Thống nên tin tưởng tuyệt đối vào Nguyễn Hữu Chỉnh nhằm cũng cố địa vị. Không lâu sau Nguyễn Hữu Chỉnh bị Tây Sơn giết. Lê Chiêu Thống chạy. Vũ Trinh và cha hắn tên là Thiều bán tài sản giúp Lê Chiêu Thống sống qua ngày. Chính Cha con hắn đă bày khôn dại cho Lê chiêu Thống, bởi lúc này Lê Chiêu Thống chỉ mới ngoài hai mươi, rằng ngay lập tức sai bọn Lê Quưnh sang nhà Thanh cầu quân viện; Vũ Trinh ngày đêm nằm tại núi Huyền Vũ mong chờ đại quân Thanh kéo sang ta. Khi quân của Tôn Sĩ Nghị đến Đại Việt, các văn vơ cựu thần nhà Lê đều tránh mặt, không một ai chịu ra giúp kẻ thù truyền kiếp của dân tộc này. Họ sợ tiếng xấu mà muôn đời sau, con cháu họ không sao ngóc đầu lên nổi, không có trong ḍng chính sử th́ trong ca dao truyền khẩu, miệng lưỡi thế gian dễ ǵ né được. Lê Chiêu Thống mắc cở với Tôn Sĩ Nghị bởi  trước sau chỉ thấy có mỗi một ḿnh Vũ Trinh ra đón Hắn và làm lễ khao quân Thanh tại tuyến đầu này. Tôn Sĩ Nghị ngạc nhiên về ḷng dân với nhà Hậu Lê khác với những ǵ mà Lê Quưnh khoác lác khi xin quân viện từ Càn Long. Tôn.Sĩ Nghị hỏi hắn về t́nh h́nh đất nước ta, Vũ Trinh thưa báo rất rành mạch, lại chỉ đường đi nước bước, cách hành sự, tự nguyện làm điểm chỉ viên và cuối cùng dẫn dắt quân Thanh đi t́m những người nho sĩ có thể chống quân Tàu sau này. Tôn Sĩ Nghị tấm tắc khen rằng Hắn là người ăn nói rất rành mạch. Lê Chiêu Thống hớn hở và liền cử Hắn làm Tham Tri lo việc chính sự giữa triều đ́nh ông vói Tôn Sĩ Nghị. Quân Thanh làm nhiều điều càn dở tại Kinh thành Thăng Long. Phụ nữ Việt không dám ra đường. Hoàng Lê Nhất Thống Chí viết: ”Tuy vua Lê đă được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi, đều dùng niên hiệu Càn Long. V́ có Nghị ở đấy nên không dám dùng niên hiệu Chiêu Thống. Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân, việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quưnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có kẻ không biết là vua. Hoặc có người biết, th́ họ nói riêng với nhau rằng: Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu th́ viết là Càn Long, việc ǵ cũng do viên tổng đốc, có khác ǵ phụ thuộc vào Trung Quốc?". Ô nhục. Trách nhiệm của  Hắn? Tại sao Hắn đă để nỗi ô nhục này xảy ra trên chính kinh thành Thăng Long?. Chừng đâu được vài tháng, người con yêu của đất B́nh Định tên là Nguyễn Huệ giận căm gan tức tốc kéo quân ra Bắc dần quân Thanh một trận ra tṛ. Lê Chiêu Thống ôm chân Tôn sĩ Nghị chạy theo. Đến năm 1792 th́ Chiêu Thống mất tại Tàu lúc này mới tṛn 28 tuổi. Vũ Trinh trốn biệt. Giá như vua Quang Trung nhà ḿnh đừng v́ bận việc quân mà cho lệnh tróc nă bắt kẻ bẩn thỉu này th́ quốc gia này đở được một tên Việt Gian làm thầy dùi cho chính sách đội Hán lên đầu về sau này của một tân triều.
 

Năm Nhâm Tuất, 1802, Gia Long thắng trận, cử đệ nhất công thần của ḿnh là tướng tiền quân Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành. Vũ Trinh tự nguyện ḅ ra xin làm quan. Y được nhận ngay chức Thị trung học sĩ làm việc tại triều. Nguyễn Văn Thành chọn Hắn làm thầy dạy cho trai ḿnh là Nguyễn Văn Thuyên. Năm 1809, Hắn được cử làm chánh sứ sang Yên Kinh (Bắc Kinh) dâng lễ cống và mừng thọ vua Thanh. Lúc này Càn long đă ban cho quốc hiệu với cái tên Việt nam, 1804. Việc đă rơ, Gia Long chỉ mơ được làm vua nước nhỏ Việt Nam nên lấy việc đội Hán và thờ Hán là “chuyện thường ngày của  huyện”. Gia Long chưa từng làm vua nước lớn Đại Việt (nước Việt lớn) vinh quang bao giờ. Trên đường đi sứ, ḷng hớn hở, Hắn viết quyển “Sứ Yên thi tập” (Tập thơ đi sứ Yên Kinh, có lẽ không ngoài ngợi ca 5 chữ vàng mà hắn là người tiền nhiệm “chỉ đạo” cho Nguyễn Du ở trên. Trở về nước, Hắn được Gia Long phân công cùng với Tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành gấp rút soạn bộ luật Gia Long (tức Hoàng Việt luật lệ). Hắn được thăng Hữu tham tri bộ H́nh, 1813. Năm 1815 bộ luật này với “công tŕnh “copy paste” này (chép 388/389 điều) từ bộ luật của Thanh triều hoàn tất; Gia Long chấp thuận. Một bước lùi trong lịch sử dân tộc ta. Các quyền căn bản nhằm bảo vệ cho những ai dễ bị tổn thương được soạn ra với gần 400 điều độc đáo trong hơn 700 điều của nước Đại Việt ta được soạn ra từ thời Lê Lợi, Nguyễn  Trăi kéo dài măi đến tận đến đời Lê Thánh Tông và về sau này, nhằm bảo vệ cho người phụ nữ, cho người bị tàn tật, quyền được bảo vệ của trẻ em, quyền được bảo vệ của người già, quyền được bảo vệ của  trẻ vị thành niên trong bộ luật Hồng Đức đều bị băi bỏ. Xấu hổ! và rất đáng lên án cho những ai  dựng luật cho quốc gia mà chỉ biết có mỗi “copy và paste”.
 

Năm 1816, khi đă thấy vững ngai vàng, đă có luật Thanh trong tay, Gia Long đặng chim bẻ ná, tránh kẻ thù tiềm ẩn cho con cháu ḿnh, Gia Long t́m mọi cách giết cho bằng được đệ nhất công thần Nguyễn Văn Thành. Qua bài thơ chữ Hán của con ông Thành mà Vũ Trinh là thầy dạy, cha con Thành-Thuyên bị kết án tử h́nh. Hắn bị lột chức và bị đày vào Quảng Nam. Tại đây một phụ nữ Quảng Nam vô phước v́ không biết nguồn gốc Hắn đă chịu làm vợ hắn, khiến quê ngoại bà bị xấu lây. Có lẽ tập “Sứ Yên thi tập” mà hắn đem theo vào cuối đời đă bị một người Quảng Nam nào đó xé bỏ”?”. Ba thứ ruồi bu này để chi cho chật nhà!.
 

Bạn thấy đó, chân dung của kẻ đội Hán lên đầu như thế đó?, cho dù là hắn đă có lần t́m đến và xưng ḿnh là anh rễ của Nguyễn Du mà Nguyễn Du không biết đấy thôi. Cha ḿnh có nhiều vợ quá làm sao mà biết mặt cho hết, Nguyễn Du làm thinh với ông anh rễ bất đắc dĩ này. Anh ruột ông, anh rễ ông là những quan đại thần theo pḥ Tây Sơn cùng thời với học tṛ “Ông Già” là La San Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1804), người nhận giúp vị tướng trẻ có tấm ḷng với dân tôc là danh tướng Nguyễn Huệ.
 

Làm sao mà Nguyễn Du nh́n mặt, tâm t́nh nói chuyện cho được với một Việt Gian. Hai khí phách khác nhau, cho dù về lănh vực bằng cấp Nguyễn Du chỉ có cái tú tài lận lưng thua kém cái bằng cử nhân Hương Tiến của hắn khá xa. Không sao, bằng cấp là một chuyện, thi cử là một chuyện khác, hơn thua nhau là sức tự học, sức đọc và phương pháp làm việc kia mà. Nguyễn Du qua con đường tự học đă trở thành một bậc thầy vĩ đại trong nền văn chương Việt, trong khi muôn đời hắn chỉ là tác giả của vài ba tác phẩm chữ Hán vớ vẩn. Nguyễn Du chỉ không thèm nói mà thôi, ở đó mà cầm tay “Chỉ đạo" “ Trung Hoa tận ôn băo”. Thật nực cười!.

Nguyễn Du về sau biết rất rơ Gia Long sau khi Ông làm việc tại triều đ́nh Huế. Người hết rước giặc Thái là quay sang rước giặc Tây, cứ như xoành xoạch. Đa phần tướng lănh của Gia Long người Tàu rặt hay người có cha Tàu mẹ Việt, họ đi lại đầy trong hoàng cung. Nguyễn Du chạm mặt hàng ngày. Gia Long giao tiếp với họ hằng ngày lâu dài nên bị ảnh hưởng Tàu và ta không lấy làm lạ khi mà Gia Long lại quyết tâm đội Hán lên đầu sâu đến như vậy và cam tâm thà làm vua một  nước nhỏ mà đời đời thế mà ấm hơn. Xây lăng tẩm, dời kinh đô, bỏ chữ Nôm, trả thù theo phong cách Tàu, giết trung thần, nhất nhất đều theo phong cách Tàu. Một vết ô nhục muôn đời trong chính sử, làm sao mà Nguyễn Du không nhận ra được, thế nên Nguyễn Du chèn câu
 “Phàm nhân nguyện tử bất nguyện bần, 凡人愿死不愿貧” tạm dịch thơ, Sống chi quá khổ chết th́ sướng hơn hay  Khổ quá cha, ước chết, _xong đời!, hay nói theo khẩu ngữ Quảng Nam, quê tôi, “Sống đà quá khổ chết mà sướng nu!”. Có lẽ Nguyễn Du thấy lớp đàn anh ḿnh, như La Sơn Phu tử, người học tṛ cưng của cha ḿnh ngày xưa, trước khi về cộng tác với một tân triều bao giờ lớp này họ cũng đưa ra điều kiện tiên quyết để có thể cộng tác “ Rằng Ngài đội dân tộc này lên đầu hay Ngài đặt quyền lợi ḍng họ, bè đảng ḿnh lên đầu?”. La Sơn Phu tử đă làm thế với vị danh tướng trẻ có tên là Nguyễn Huệ. Sau khi Gia Long lên có lẽ các đàn anh ḿnh gồm những  người được Tây sơn trọng dụng là La San Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1804), anh ruột ḿnh là Nguyễn Để, anh vợ ḿnh là Đoàn Nguyên Tuấn (1750-mất sau 1802) họ đều đă dạn dày kinh nghiệm sống nên họ đă khéo léo từ chối lời mời của Gia Long mà không bị Gia long căm thù dè chừng. Họ đă tự bảo vệ ḿnh, và có lẽ họ khéo né và đă giới thiệu chú em ḿnh (Nguyễn Du ) có thể gánh vác được và chúng tôi nay đă già quá rồi. Nguyễn Du sau này có lẽ ngộ ra điều ấy và tự giận ḿnh không đủ bề dày lịch sử như các ông anh, đă cộng tác với Nguyễn Ánh mà không đặt điều kiện tiên quyết; nghĩ ḿnh đă hèn, thế nên ông trở nên ít nói khi ở kinh thành Huế. Ông quyết ḷng chết vào năm 1820, lúc này vai tṛ chánh sứ thêm một lần nữa đang chờ ông. Tại kinh thành, bịnh tả là bệnh truyền nhiễm, nhiều người bệnh cùng lúc đâu phải một ḿnh ông, thuốc men nhiều, thầy thuốc giỏi tại sao ông chết nhanh vậy?. Chỉ có ông mới tự quyết định được sự sống chết của ḿnh mà thôi. Ông đă từ chối cho cháu ḿnh đổ thuốc. Thái độ thật đáng kính của một kẻ sĩ sau khi biết tận tim đen của một v́ vua quá khiếp nhược với Tàu và đă cam tâm đội Hán lên đầu, chắc chắn chính sách này sẽ dẫn dân tộc này vào chỗ lầm than, ḿnh nay là một “chính khách” khó qua miệng lưỡi thế gian. Chuộc sai lầm, Nguyễn Du viết Đoạn trường tân thanh, tân khúc nghe qua mà đứt ruột. Thật là minh triết. Một đại kẻ sĩ! 

 

III –Tham khảo và tâm t́nh

          Ḍng chính sử và tư liệu được lấy từ nguồn vi-wikipedia. Laiquangnam chỉ mất chút công sắp xếp lại nhằm giúp cho những ai quá bận rộn v́ việc mưu sinh. http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Chi%C3%AAu_Th%E1%BB%91ng

1-."Thái hậu đưa nguyên tử (con trai Chiêu Thống) đến yết kiến ở trong sân, gào khóc xin cứu viện. Bọn Sĩ Nghị tâu với vua Thanh rằng tự hoàng nhà Lê đương phải bôn ba, đối với đại nghĩa, ta nên cứu viện. Vả lại, An Nam là đất cũ của Trung Quốc, sau khi khôi phục nhà Lê, ta nhân đó, đặt lính thú để đóng giữ. Thế là vừa làm cho nhà Lê được tồn tại, vừa chiếm lấy được An Nam: thật là làm một chuyến mà được hai lợi.".  .

 2- Năm 1804, vua Gia Khánh nhà Thanh cho phép đưa linh cữu vua Lê, thái hậu và con trai Chiêu Thống về nước. Ngày 13 tháng 8 năm 1804, Gia Long nhận lại đám người này, có một số được trọng dụng, hay học hành lại và thi cử đỗ đạt (bọn này đă bị Tàu hóa rồi, họ sẽ trở thành Việt gian cả thôi). Họ ra làm quan. Bọn người này vốn đă hèn mạt v́ đă chịu để róc tóc đuôi Sam, trừ Lê Quưnh không  chịu cắt tóc. Ngay đến cả quan ngự sử Trần danh Án là người chịu cắt tóc đầu tiên để làm gương cho đoàn người  300 người theo Lê Chiêu Thống để trở thành người Thanh kia mà. Triều đ́nh nào th́ có kẻ viết sử như thế ấy. Một vương triều đốn  mạt.

3- Không biết người Hanoi nay đang ở trong “Ngơ 124 Thụy Khuê (Tây Hồ, Hà Nội)” nh́n bọn dưới Trần Danh Án với con mắt nào?. Họ là trung thần của nhà Lê?. Họ là những kẻ tội đồ của dân Việt đến muôn đời ?. Có bao nhiêu người biết?

4- Tự Đức, vị vua giết anh, chính sử c̣n ghi. Vị vua này hèn với giặc ác với dân (đàn áp tàn khốc người dân, đa phần là dân nghèo không  tiền đóng thuế thân bị  buộc phải đi làm xâu cấn trừ, họ ăn đói để xây Khiêm Lăng, trong khi giặc Pháp đă  chiếm một  phần Nam Kỳ Lục Tỉnh), đă có lời phê về Chiêu Thống, đại ư nói:

"Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế".

Nhắc Bạn Hiền một chút lịch sử rằng, chỉ 20 năm thôi dưới bóng quân Tàu  mà đất nước ta đă tiêu tan gần 500 tinh hoa văn hóa Đại Việt. Tinh hoa Lư Trần, sách vở binh pháp do Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lăo viết nay đều không c̣n.  Lê Chiêu Thống là tên vua đầu tiên trong lịch sử nước ta rước Tàu vào tàn phá đất nước. Gia long cũng thế, nhưng lần này th́ rước Tây. Đất nước dân tộc ư? Không có khái niệm này trong đầu những người Việt cướp chính đất nước ḿnh như thế này. Sau này Tự Đức, một v́ vua hèn với giặc và ác với dân (đàn áp dân vô tội bị xung công xây Khiêm lăng cho ông), Tự Đức có đủ khôn không khi công quỷ khô cạn, lính không đủ cơm ăn mà phải ngày đêm chống Pháp xâm lược, lệnh xuất tiền xây đền tưởng niệm cho v́ vua bán nước và các trung thần của Lê Chiêu Thống. Tự Đức truy đặt tên thụy cho Lê Chiêu Thống là “Mẫn đế”. Th́ ra ông cố nội ông cũng là thứ buôn dân bán nước thứ gộc. Ngưu tầm ngưu mă tầm mă!


5-Gia Long tin dùng Hắn ngay sau khi chiến thắng. Đến năm 1804 th́ Gia Long tiếp nhận một đợt thứ hai “hèn nhân” do Lê Quưnh dẫn về, đoàn người khi đi theo Lê Chiêu Thống có gần 300 người đi theo lúc ban đầu, đa phần là người c̣n rất trẻ. Bọn này sau trở thành Việt Gian hết thảy, bọn chúng đă cắt tóc đuôi Sam.

6- Chân dung người học tṛ của cha Nguyễn Du, La San Phu Tử Nguyễn Thiếp http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Thi%E1%BA%BFp.

 “Năm 1791, vua Quang Trung lại cho mời ông vào Phú Xuân để bàn việc nước. V́ cảm thái độ chân t́nh ấy, nên lần này ông đă nhận lời (trước đó ông đă từ chối 3 lần). Đến gặp, ông đă dâng lên vua Quang Trung một bản tấu bàn về 3 vấn đề: Một là "Quân đức" (đại ư khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền để trị nước); hai là "Dân tâm" (đại ư khuyên vua nên dùng nhân chính để thu phục ḷng người), và ba là "Học pháp" (đại ư khuyên vua chăm lo việc giáo dục). Tuy là ba, nhưng chúng có quan hệ mật thiết với nhau và đều lấy quan niệm "dân là gốc nước" làm cơ sở. Nguyễn Thiếp viết: "Dân là gốc nước, gốc vững nước mới yên".

Những lời tấu ấy được nhà vua nghe theo. Ngày 20 tháng 8 (1791), nhà vua ban chiếu lập "Sùng chính Thư viện" ở nơi ông ở ẩn và mời ông làm Viện trưởng . Kể từ đó, ông hết ḷng chăm lo việc dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để dạy học và phổ biến trong dân. Chỉ trong hai năm, ông đă tổ chức dịch xong các sách: Tiểu học, Tứ thư, Kinh Thi, và chủ tŕ biên soạn xong hai bộ sách là Thi kinh giải âm và Ngũ kinh toát yếu diễn nghĩa.

Tháng 9 năm Nhâm Tư (1792), vua Quang Trung đột ngột băng hà, sự nghiệp của Nguyễn Thiếp đành dở dang.”

 

Laiquangnam 

laiquangnam@gmail.com

 

 

www.art2all.net