|
Laiquangnam giới thiệu thơ chữ Hán của Nguyễn Du
Nguyễn Du THÁI B̀NH MẠI CA GIẢ Phần thứ hai
Giá trị lớn nhất của bài "Thái B́nh mại ca giả" này là lời dạy của tiền nhân. “Đừng vội tin, hăy mở to mắt để thấy trước đă, thấy rồi hăy tin!.” Niềm an ủi duy nhất của Nguyễn Du là ông không chứng kiến cảnh ô nhục nước mất nhà tan như các thế hệ sau ông năm mươi năm sau và măi tận sau này. Sau khi ông mất, các v́ vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cho dù cố đưa người đến tận vét đi vét lại cho kỳ hết số sách vở và trước tác của ông tại nhà sau khi ông qua đời, chiếm đoạt được các trang thơ nhật kư này, họ cũng không sao hiểu được những ǵ Nguyễn Du than thở và cảnh giác con cháu ḿnh trong các bài thơ thuộc tập Bắc Hành Tạp Lục ấy. Có lẽ ngoài tài chẻ chữ Tàu mài ra và đốt uống, Thiệu Trị, Tự Đức chẳng mấy am hiểu ư câu thơ sâu xa của tiền nhân, một câu thôi của bài "Thái B́nh mại ca giả" này, nói ǵ đến 131 bài trong tập này. Rằng đừng nghe người ta “ nổ “ về một đất nước Trung Hoa cực kỳ no ấm tốt đẹp nữa, hăy đọc thơ tôi để nh́n tận mắt sự thật về đất nước và con người Trung hoa trước đă, rước của nợ để rồi chết cả đám! Quả nhiên sau này v́ mê chữ Hán, và lậm liều thuốc độc bọc đường này, qua thứ chữ h́nh tượng này, Thiệu Trị và Tự Đức bỏ bê việc triều chính, măi lo đẽo chữ, họa thơ, đất nước ta lâm vào ṿng nô lệ mới.
Là người cầm đầu
phái bộ gồm 27 người đi sang Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ 19, trước khi
Nguyễn Du ra đi, hẳn Gia Long và đám thuộc hạ gồm những người hoạch
định chính sách quốc gia cùng ngồi bàn tiệc tiễn đưa bàn cách “giữ
lễ” nhưng không được phép tỏ ra hèn nhục. Ai là người cầm tay “chỉ đạo”
cho ông 5 Chữ Vàng “Trung hoa Tận ôn bảo “ và có lẽ “hắn” đă cho
ông xem tập
Sứ Yên thi tập,
một tập thơ ghi lại những ngày hạnh phúc tại đất nước này như
hắn(1808-09)?. Hắn chắn chắn là người đă từng hưởng ơn mua móc của Thanh
triều và đă từng ngày đêm tổ chức cuộc tiếp đón đại quân của nhà Thanh
kéo vào nước ta với ḷng hớn hở. Hắn là ai và hắn đă giữ chức ǵ trong
tân triều Gia Long? Sử sách c̣n dấu vết không? Dễ ǵ một người hậu
duệ của người anh hùng Nguyễn Bật năm xưa lại cam tâm là “múa lưỡi “
để tiếng xấu lại muôn đời cho con cháu ḿnh, như Đặng Dung trong bài
Cẩm Hoài đă rủa “tẩy binh vô lối kéo Chạnh ḷng chuyện cũ mồxanh (=mộ phần của tổ tiên ), Chớm thu sương tóc trắng nhanh mái đầu. Tiếng ConNhà, vất vả sâu, Dẫu thân không bệnh, lưng đau khom, ṿng!. http://chimviet.free.fr/vanhoc/laiquangnam/lqnt068a_nguyendu_thuchi.htm. Trong số các bài ấy có 4 bài đáng đọc nhất cho dù bạn hiền lười biếng hay bận rộn tới đâu chăng nữa, đó là các bài Long thành cầm giả ca, "Thái B́nh mại ca giả", Sở kiến hành, và bài Phản chiêu hồn .
Nay xin trở lại bài "Thái B́nh mại ca giả" .. I- Nguyên tác & phiên âm.
II-Tạm dịch nghĩa Thành thật khai báo : Do chữ nghĩa, cách hành văn, sự mô tả tỉ mỉ, bố cục quá khéo, thú thật cho dù cố gắng lắm ḿnh cũng chỉ làm được chừng này. Biết đến đâu thưa thốt đến đó nha. Tin rằng các bạn thuộc thế hệ 1,5 tiếp sức. Cám ơn và thương yêu các bạn. 1-Thành Thái B́nh (Bên Tàu) có người mù tài hoa bậc thầy nhưng lại mặc áo vải bố thô ráp (*bố là thứ vải gai, dùng may quần cho người nghèo khó, mặc vào rất xót, có khi ngứa nữa, .(* người già mù mà da dẻ nhăn nheo, mặc ba thứ này là một cực h́nh, mỗi lần giặt lại phải dùng nhiều sức, tay phải mạnh mới vắt nổi, rất lâu khô, tự mưu sinh, xă hội bất nhân, Nguyễn Du + một lần thương cảm) 2-Đứa trẻ dẫn đi dọc mé sông 3-Th́ ra đó là ông già ăn xin ở ngoại thành.(* người già mù mà phải tự mưu sinh, xă hội bất nhân, Nguyễn Du + hai lần thương cảm 4-Ông bán tiếng hát (mại ca) của ḿnh xin tiền mà cung phụng cho cái bếp, nó được đốt lên vào buổi mờ mờ sáng ( *thần, tức là thời điểm vào lúc gà gáy, điều này cho thấy họ dậy rất sớm, ăn ba miếng rồi lội bộ từ ngoại thành lên thành phố). (Nguyễn Du +3 lần thương cảm, già cả cộng mù ḷa mà c̣n phải sáng lo dậy từ sớm bửng, lộm cộm thổi ḷ nấu nướng. Ai đă từng ở miền trung quê tôi, trời tối thui, ẩm ướt, mưa thúi đất mà phải dùng ống tre làm ống thổi lửa, tro bay mù mịt mới nhận ra nỗi khổ, ngày nay bật một cái ga ào ào nói làm ǵ .) 5- Thuyền bên kia có người thích nghe đàn hát. 6-Cầm tay ông lăo bé dẫn lên thuyền, về mé phía dưới cánh cửa sổ (vị trí họ sẽ ngồi đàn hát ),7-Lúc này trong khoang thuyền tối om lại không có đèn (*có lẽ vào thời điểm nhá nhem, chạng vạng, trong bối cảnh này có thể mường tượng ông thầy mù từ sáng sớm tới chiều tối chưa ăn uống ǵ chăng? hay nếu đă ăn th́ hẳn là hai ông cháu ăn bậy bạ cái ǵ đó, bởi câu 1 cho thấy bữa ăn chính của ông là lúc sáng rất sớm, họ đă đi bộ răo răo suốt ngày, 8-Cơm thừa canh cặn đổ ra rất là bừa băi. (* cho thấy thái độ và cung cách ăn uống của thực khách “nước lạ”, bạn lạ ǵ một bàn nhậu nhiều “người lạ” ăn uống, họ rất bầy hầy trên bàn ăn, lư ra người hát rong đợi người nhà thuyền dọn chỗ sạch sẽ rồi th́ mới hát ḥ; không biết với người chưa có hột cơm trong bụng từ sáng đến giờ trước cái bàn thừa thải thức ngon có khiến cho họ buồn ḷng và tiếc rẻ chăng, hát ḥ trong bối cảnh mùi cơm thừa canh cặn này, hẳn không dễ chịu chút nào rồi, ). (Nguyễn Du +bốn lần thương cảm nữa, ác thiệt! Sao người thuyền hay kẻ ăn nhậu kia không xúm vô dọn lối đi cho ông lăo mù ḷa, sàn thuyền đánh bóng rất dễ vấp, trợt té ) 9- Ông mù ṃ mẫm t́m được chổ ngồi trong một góc.10-Đôi ba lần ông giơ tay chào cám ơn. (bậc thầy có khác, vui vẻ & lịch sự) 11-Tay so dây dây đàn, miệng cất tiếng hát. 12 Vừa đàn vừa ca không chút ngơi nghỉ. 13- Tiếng “người lạ “ (*người lạ = người Tàu, người không cùng ṇi giống với ḿnh; thù dị=khác hẳn) ḿnh không làm sao hiểu được. 14-như thể có tiếng sắc lạnh lanh lănh (liêu lượng), tiếng kêu la trong một cuộc chém giết, có thể nghe ra. 15-Nhà thuyền thảo vội vài chữ bảo rằng, 16-Khúc hát này nói về Thế Dân và Kiến Thành. 17- Khoảng mươi người nghe đều im lặng không nói lời nào 18-Chỉ thấy gió vi vu trên ḍng sông đầy ánh sáng trăng (Nguyễn Du lơ đăng nh́n ra sông, dấu cảm xúc) 19- Miệng phun bọt trắng xóa, tay xịu lơ, tay giở lên không nổi (Nguyễn Du + lần thương cảm thứ năm ) 20- Ông không c̣n ngồi nữa (*20a, khước tọa =có nghĩa là khom người đứng dậy) đi gom gọn đàn lại, rồi nói lời cáo từ rằng khúc hát đă hết. 21- Dốc tận sức lực ra đàn hát ước chừng một trống canh 22- Vậy mà được chưa tới năm sáu đồng bạc (* ư mỉa mai, bọn nhà giàu keo kiệt), (Nguyễn Du + thương cảm thứ sáu. Tiền ít quá, không tương xứng với sức lao động của ông già mù. Cuộc mua bán không tương thích.) 23- Đứa bé dẫn ông xuống thuyền (có nghĩa là rời ra khỏi thuyền, bởi tại câu 6 ông bước lên để vào thuyền (*có lẽ lên xuống thuyến ông cháu họ phải qua một cái thang nhỏ hay bước qua một tấm ván như ta thường thấy ở bến sông). 24- Ông c̣n quay đầu lại chúc họ nhiều điều phúc lành nữa (*với ông thế là tạm đủ? Nhưng với Nguyễn Du th́ thấy không đủ, không tương xứng với công đàn hát được mô tả tại các câu 13 dến câu 21, nhất là hai câu 19&21 được viết khá kỹ). 25-Chợt thấy cảnh đấy ta cảm thấy chua xót tận cùng (*một lần nữa ta thấy tấm ḷng của người thi nhân Việt, bài Sở kiến hành, rồi bài này . 26-Phàm con người ta ước ḿnh được chết đi hơn là ước ḿnh được sống trong cảnh nghèo hèn . 27- Nghe dạy (chỉ đạo, 27a mỉa ,người chỉ đạo cho ông trong chuyến đi này là ai vậy?) rằng ở Trung Hoa mọi người đều được hết sức ấm no (tận ôn bảo = hàm nghĩa rất hạnh phúc), 28 -Trung Hoa cũng có người như thế này đây. (nói có sách mách có chứng, cụ thể, Nguyễn Du đă qua 6 lần thương cảm ). 29- Anh không thấy theo thông lệ mỗi sáng sớm thuyền của các đoàn sứ giả lại đến đây để t́m nguồn hàng cung cấp bổ sung cho bữa ăn sao. 30- Từng thuyền, từng thuyền giỏ chứa đầy thịt gạo. 31-Hành nhân ( người trong các đoàn sứ giả) ăn no, thừa th́ vứt đi. 32- Đồ nhấm (mồi, thức ăn) thừa, cơm nguội đổ ch́m xuống sông. (mỉaTrung Hoa, “thấy chưa!, như thế mới gọi là no đủ. Được ăn ngon, ăn dư, cơm nguội (không thèm hấp lại) mà đem đổ bỏ xuống sông.)
Đàng sau ḍng chữ nghĩa bài thơ "Thái B́nh mại ca giả" . Ai “chỉ đạo”& “ban“ cho Nguyễn Du “5 chữ vàng”, “Trung Hoa tận ôn băo”?, Trung hoa ấm no cực kỳ!.
I- Chân dung kẻ chỉ đạo. Phải là một người mơ ước đón quân Tàu qua xứ ta với ḷng hân hoan, kẻ đó đă từng được sang Tàu và được người Tàu xem họ là một hạt nhân gầy dựng chính sách quốc gia sau này, và Tàu đă dành cho họ hưởng nhiều lạc thú khi họ làm vai tṛ là một chánh khách Việt trên đất Tàu th́ may ra. Có thật không?.
Xin
thưa, trong ḍng chính sử có ghi rành rành; Kẻ đó không ai xa lạ, đó là
người ngày đêm nằm đợi sẵn tại biên giới Đại Việt để đón đoàn quân xâm
lược của Tôn Sĩ Nghị tiến về kinh thành Thăng Long mở màn cho đợt xâm
lược sau gần năm trăm năm vắng bóng quân Tàu trên đất nước
ta (1428-1878). Chính kẻ đó được Lê Chiêu Thống, nhân danh vua nhà Hậu Lê
(nhà cầm quyền hợp pháp của Đại Việt năm xưa) cử ra liên lạc với Tôn Sĩ
Nghị trong suốt thời gian nước ta bị giặc Tàu chiếm đóng. Tên hắn là
ǵ?. Xin thưa hắn tên là Vũ Trinh. Nguyễn Du thua Hắn 7 tuổi. Hắn học
giỏi v́ nhờ cha hắn đă từng là một đại quan. Năm 17 tuổi, hắn đă đậu
Hương Tiến và đă từng làm quan dưới triều Lê Chiêu Thống. Chính hắn và
cha hắn đă khuyên Lê Chiêu Thống nên tin tưởng tuyệt đối vào Nguyễn Hữu
Chỉnh nhằm cũng cố địa vị. Không lâu sau Nguyễn Hữu Chỉnh bị Tây Sơn
giết. Lê Chiêu Thống chạy. Vũ Trinh và cha hắn tên là Thiều bán tài sản
giúp Lê Chiêu Thống sống qua ngày. Chính Cha con hắn đă bày khôn dại cho
Lê chiêu Thống, bởi lúc này Lê Chiêu Thống chỉ mới ngoài hai mươi, rằng
ngay lập tức sai bọn Lê Quưnh sang nhà Thanh cầu quân viện; Vũ Trinh
ngày đêm nằm tại núi Huyền Vũ mong chờ đại quân Thanh kéo sang ta. Khi
quân của Tôn Sĩ Nghị đến Đại Việt, các văn vơ cựu thần nhà Lê đều tránh
mặt, không một ai chịu ra giúp kẻ thù truyền kiếp của dân tộc này. Họ sợ
tiếng xấu mà muôn đời sau, con cháu họ không sao ngóc đầu lên nổi, không
có trong ḍng chính sử th́ trong ca dao truyền khẩu, miệng lưỡi thế gian
dễ ǵ né được. Lê Chiêu Thống mắc cở với Tôn Sĩ Nghị bởi trước sau chỉ
thấy có mỗi một ḿnh Vũ Trinh ra đón Hắn và làm lễ khao quân Thanh tại
tuyến đầu này. Tôn Sĩ Nghị ngạc nhiên về ḷng dân với nhà Hậu Lê khác
với những ǵ mà Lê Quưnh khoác lác khi xin quân viện từ Càn Long. Tôn.Sĩ
Nghị hỏi hắn về t́nh h́nh đất nước ta, Vũ Trinh thưa báo rất rành mạch,
lại chỉ đường đi nước bước, cách hành sự, tự nguyện làm điểm chỉ viên và
cuối cùng dẫn dắt quân Thanh đi t́m những người nho sĩ có thể chống quân
Tàu sau này. Tôn Sĩ Nghị tấm tắc khen rằng Hắn là người ăn nói rất rành
mạch. Lê Chiêu Thống hớn hở và liền cử Hắn làm Tham Tri lo việc chính sự
giữa triều đ́nh ông vói Tôn Sĩ Nghị. Quân Thanh làm nhiều điều càn dở
tại Kinh thành Thăng Long. Phụ nữ Việt không dám ra đường. Hoàng Lê Nhất
Thống Chí viết: ”Tuy vua Lê đă được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi
các nơi, đều dùng niên hiệu Càn Long. V́ có Nghị ở đấy nên không dám
dùng niên hiệu Chiêu Thống. Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại tới chờ ở
doanh của Nghị để nghe truyền việc quân, việc nước. Vua cưỡi ngựa đi
trước, Lê Quưnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người.
Người trong kinh có kẻ không biết là vua. Hoặc có người biết, th́ họ nói
riêng với nhau rằng: Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa
thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng
niên hiệu th́ viết là Càn Long, việc ǵ cũng do viên tổng đốc, có khác
ǵ phụ thuộc vào Trung Quốc?". Ô nhục. Trách nhiệm của Hắn? Tại
sao Hắn đă để nỗi ô nhục này xảy ra trên chính kinh thành Thăng Long?.
Chừng đâu được vài tháng, người con yêu của đất B́nh Định tên là Nguyễn
Huệ giận căm gan tức tốc kéo quân ra Bắc dần quân Thanh một trận ra tṛ.
Lê Chiêu Thống ôm chân Tôn sĩ Nghị chạy theo. Đến năm 1792 th́ Chiêu
Thống mất tại Tàu lúc này mới tṛn 28 tuổi. Vũ Trinh trốn biệt. Giá như
vua Quang Trung nhà ḿnh đừng v́ bận việc quân mà cho lệnh tróc nă bắt
kẻ bẩn thỉu này th́ quốc gia này đở được một tên Việt Gian làm thầy dùi
cho chính sách đội Hán lên đầu về sau này của một tân triều.
Năm Nhâm Tuất, 1802,
Gia Long thắng trận, cử đệ nhất công thần của ḿnh là tướng tiền quân
Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành. Vũ Trinh tự nguyện ḅ ra xin
làm quan. Y được nhận ngay chức Thị trung học sĩ làm việc tại triều.
Nguyễn Văn Thành chọn Hắn làm thầy dạy cho trai ḿnh là Nguyễn Văn
Thuyên. Năm 1809, Hắn được cử làm chánh sứ sang Yên Kinh (Bắc Kinh) dâng
lễ cống và mừng thọ vua Thanh. Lúc này Càn long đă ban cho quốc hiệu với
cái tên Việt nam, 1804. Việc đă rơ, Gia Long chỉ mơ được làm vua
nước nhỏ Việt Nam nên lấy việc đội Hán và thờ Hán là “chuyện thường ngày
của huyện”. Gia Long chưa từng làm vua nước lớn Đại Việt (nước Việt
lớn) vinh quang bao giờ. Trên đường đi sứ, ḷng hớn hở, Hắn viết quyển “Sứ
Yên thi tập” (Tập thơ đi sứ Yên Kinh, có lẽ không ngoài ngợi ca 5
chữ vàng mà hắn là người tiền nhiệm “chỉ đạo” cho Nguyễn Du ở trên. Trở về
nước, Hắn được Gia Long phân công cùng với Tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn
Văn Thành gấp rút soạn bộ luật Gia Long (tức Hoàng Việt luật lệ). Hắn
được thăng Hữu tham tri bộ H́nh, 1813. Năm 1815 bộ luật này với
“công tŕnh “copy paste” này (chép 388/389 điều) từ bộ luật của Thanh
triều hoàn tất; Gia Long chấp thuận. Một bước lùi trong lịch sử dân tộc
ta. Các quyền căn bản nhằm bảo vệ cho những ai dễ bị tổn thương được
soạn ra với gần 400 điều độc đáo trong hơn 700 điều của nước Đại Việt ta
được soạn ra từ thời Lê Lợi, Nguyễn Trăi kéo dài măi đến tận đến đời Lê
Thánh Tông và về sau này, nhằm bảo vệ cho người phụ nữ, cho người bị tàn
tật, quyền được bảo vệ của trẻ em, quyền được bảo vệ của người già,
quyền được bảo vệ của trẻ vị thành niên trong bộ luật Hồng Đức đều bị
băi bỏ. Xấu hổ! và rất đáng lên án cho những ai dựng luật cho quốc gia
mà chỉ biết có mỗi “copy và paste”.
Năm 1816, khi đă
thấy vững ngai vàng, đă có luật Thanh trong tay, Gia Long đặng chim bẻ
ná, tránh kẻ thù tiềm ẩn cho con cháu ḿnh, Gia Long t́m mọi cách giết
cho bằng được đệ nhất công thần Nguyễn Văn Thành. Qua bài thơ chữ Hán
của con ông Thành mà Vũ Trinh là thầy dạy, cha con Thành-Thuyên bị kết
án tử h́nh. Hắn bị lột chức và bị đày vào Quảng Nam. Tại đây một phụ nữ
Quảng Nam vô phước v́ không biết nguồn gốc Hắn đă chịu làm vợ hắn, khiến
quê ngoại bà bị xấu lây. Có lẽ tập “Sứ Yên thi tập” mà hắn đem theo vào
cuối đời đă bị một người Quảng Nam nào đó xé bỏ”?”. Ba thứ ruồi bu này
để chi cho chật nhà!.
Bạn thấy đó, chân
dung của kẻ đội Hán lên đầu như thế đó?, cho dù
là hắn đă có lần t́m
đến và xưng ḿnh là anh rễ của Nguyễn Du mà Nguyễn Du không biết đấy
thôi. Cha ḿnh có nhiều vợ quá làm sao mà biết mặt cho hết, Nguyễn Du
làm thinh với ông anh rễ bất đắc dĩ này. Anh ruột ông, anh rễ ông là
những quan đại thần theo pḥ Tây Sơn cùng thời với học tṛ “Ông Già” là
La San Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1804), người nhận giúp vị tướng trẻ có
tấm ḷng với dân tôc là danh tướng Nguyễn Huệ.
Làm sao mà Nguyễn Du
nh́n mặt, tâm t́nh nói chuyện cho được với một Việt Gian. Hai khí phách
khác nhau, cho dù về lănh vực bằng cấp Nguyễn Du chỉ có cái tú tài lận
lưng thua kém cái bằng cử nhân Hương Tiến của hắn khá xa. Không sao,
bằng cấp là một chuyện, thi cử là một chuyện khác, hơn thua nhau là sức
tự học, sức đọc và phương pháp làm việc kia mà. Nguyễn Du qua con đường
tự học đă trở thành một bậc thầy vĩ đại trong nền văn chương Việt, trong
khi muôn đời hắn chỉ là tác giả của vài ba tác phẩm chữ Hán vớ vẩn.
Nguyễn Du chỉ không thèm nói mà thôi, ở đó mà cầm tay “Chỉ đạo" “ Trung
Hoa tận ôn băo”. Thật nực cười!.
III –Tham khảo và tâm t́nh Ḍng chính sử và tư liệu được lấy từ nguồn vi-wikipedia. Laiquangnam chỉ mất chút công sắp xếp lại nhằm giúp cho những ai quá bận rộn v́ việc mưu sinh. http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Chi%C3%AAu_Th%E1%BB%91ng 1-."Thái hậu đưa nguyên tử (con trai Chiêu Thống) đến yết kiến ở trong sân, gào khóc xin cứu viện. Bọn Sĩ Nghị tâu với vua Thanh rằng tự hoàng nhà Lê đương phải bôn ba, đối với đại nghĩa, ta nên cứu viện. Vả lại, An Nam là đất cũ của Trung Quốc, sau khi khôi phục nhà Lê, ta nhân đó, đặt lính thú để đóng giữ. Thế là vừa làm cho nhà Lê được tồn tại, vừa chiếm lấy được An Nam: thật là làm một chuyến mà được hai lợi.". . 2- Năm 1804, vua Gia Khánh nhà Thanh cho phép đưa linh cữu vua Lê, thái hậu và con trai Chiêu Thống về nước. Ngày 13 tháng 8 năm 1804, Gia Long nhận lại đám người này, có một số được trọng dụng, hay học hành lại và thi cử đỗ đạt (bọn này đă bị Tàu hóa rồi, họ sẽ trở thành Việt gian cả thôi). Họ ra làm quan. Bọn người này vốn đă hèn mạt v́ đă chịu để róc tóc đuôi Sam, trừ Lê Quưnh không chịu cắt tóc. Ngay đến cả quan ngự sử Trần danh Án là người chịu cắt tóc đầu tiên để làm gương cho đoàn người 300 người theo Lê Chiêu Thống để trở thành người Thanh kia mà. Triều đ́nh nào th́ có kẻ viết sử như thế ấy. Một vương triều đốn mạt. 3- Không biết người Hanoi nay đang ở trong “Ngơ 124 Thụy Khuê (Tây Hồ, Hà Nội)” nh́n bọn dưới Trần Danh Án với con mắt nào?. Họ là trung thần của nhà Lê?. Họ là những kẻ tội đồ của dân Việt đến muôn đời ?. Có bao nhiêu người biết? 4- Tự Đức, vị vua giết anh, chính sử c̣n ghi. Vị vua này hèn với giặc ác với dân (đàn áp tàn khốc người dân, đa phần là dân nghèo không tiền đóng thuế thân bị buộc phải đi làm xâu cấn trừ, họ ăn đói để xây Khiêm Lăng, trong khi giặc Pháp đă chiếm một phần Nam Kỳ Lục Tỉnh), đă có lời phê về Chiêu Thống, đại ư nói: "Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết, thân dẫu chết, nhưng tâm không chết, kể cũng đáng thương! Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế". Nhắc Bạn Hiền một chút lịch sử rằng, chỉ 20 năm thôi dưới bóng quân Tàu mà đất nước ta đă tiêu tan gần 500 tinh hoa văn hóa Đại Việt. Tinh hoa Lư Trần, sách vở binh pháp do Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lăo viết nay đều không c̣n. Lê Chiêu Thống là tên vua đầu tiên trong lịch sử nước ta rước Tàu vào tàn phá đất nước. Gia long cũng thế, nhưng lần này th́ rước Tây. Đất nước dân tộc ư? Không có khái niệm này trong đầu những người Việt cướp chính đất nước ḿnh như thế này. Sau này Tự Đức, một v́ vua hèn với giặc và ác với dân (đàn áp dân vô tội bị xung công xây Khiêm lăng cho ông), Tự Đức có đủ khôn không khi công quỷ khô cạn, lính không đủ cơm ăn mà phải ngày đêm chống Pháp xâm lược, lệnh xuất tiền xây đền tưởng niệm cho v́ vua bán nước và các trung thần của Lê Chiêu Thống. Tự Đức truy đặt tên thụy cho Lê Chiêu Thống là “Mẫn đế”. Th́ ra ông cố nội ông cũng là thứ buôn dân bán nước thứ gộc. Ngưu tầm ngưu mă tầm mă!
6- Chân dung người học tṛ của cha Nguyễn Du, La San Phu Tử Nguyễn Thiếp http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Thi%E1%BA%BFp. “Năm 1791, vua Quang Trung lại cho mời ông vào Phú Xuân để bàn việc nước. V́ cảm thái độ chân t́nh ấy, nên lần này ông đă nhận lời (trước đó ông đă từ chối 3 lần). Đến gặp, ông đă dâng lên vua Quang Trung một bản tấu bàn về 3 vấn đề: Một là "Quân đức" (đại ư khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền để trị nước); hai là "Dân tâm" (đại ư khuyên vua nên dùng nhân chính để thu phục ḷng người), và ba là "Học pháp" (đại ư khuyên vua chăm lo việc giáo dục). Tuy là ba, nhưng chúng có quan hệ mật thiết với nhau và đều lấy quan niệm "dân là gốc nước" làm cơ sở. Nguyễn Thiếp viết: "Dân là gốc nước, gốc vững nước mới yên". Những lời tấu ấy được nhà vua nghe theo. Ngày 20 tháng 8 (1791), nhà vua ban chiếu lập "Sùng chính Thư viện" ở nơi ông ở ẩn và mời ông làm Viện trưởng . Kể từ đó, ông hết ḷng chăm lo việc dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để dạy học và phổ biến trong dân. Chỉ trong hai năm, ông đă tổ chức dịch xong các sách: Tiểu học, Tứ thư, Kinh Thi, và chủ tŕ biên soạn xong hai bộ sách là Thi kinh giải âm và Ngũ kinh toát yếu diễn nghĩa. Tháng 9 năm Nhâm Tư (1792), vua Quang Trung đột ngột băng hà, sự nghiệp của Nguyễn Thiếp đành dở dang.”
Laiquangnam laiquangnam@gmail.com
|