LAIQUANGNAM

 

 

Laiquangnam giới thiệu

 

Thơ Đường và Nguyễn Du


GIẢ ĐẢO ( 賈島, 779 - 843)


*Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ ( 尋隱者不遇)
hay

Tùng Hạ Vấn Đồng Tử ( 松下問童子)
 


          Thơ Đường là một niềm tự hào của người Trung Hoa. Choáng ngợp trước nội dung và ngôn từ của thơ Đường nhiều anh Hán Vườn nhà ḿnh đă đội Hán thái quá. Vào Google search “ Nguyễn Du dịch Thơ Đường ", Bạn Hiền sẽ kinh ngạc và họ gán thơ Giả Đảo vào với câu Kiều 3231-3232.


3231-Sư đà hái thuốc phương xa,
Mây bay hạc lánh biết là t́m đâu ?


Nguyễn Du đă đọc thơ Đường và tiên sinh đă xử dụng nó trong mục đích nào? Nén ư và dấu ư. Tiên sinh không hề có ư tưởng dịch thơ Đường. Tiên sinh dùng nó như một điển từ. Điển từ là từ lấy ra từ các câu ca dao, từ các bài thơ cổ hay từ bài thơ của người thi nhân đă nổi tiếng sống trước ḿnh. Với người Việt lớp xưa, chính các tác giả thời Đường là một trong các chỗ dựa nguồn trích dẫn. Ngày ấy Họ học chữ Hán, thi cử buộc họ phải làm một bài thất ngôn bát cú luật. Muốn được điểm tốt th́ Họ buộc dùng lại điển từ như là một thủ thuật trường thi, luyện gà chọi, riết th́ thành thói quen. Qua bài Cẩm Sắt của Lư Thương Ẩn, Nguyễn Du cũng đă dùng vài điển từ trong bài thơ này, tuy nhiên ư thơ của tiên sinh lại là “một phần bù”, phần thiếu của một ư tưởng nhân sinh mà Lư Thương Ẩn, một là không quan tâm, hai là thiếu sót, ba là nhân sinh quan của Lư Thương Ẩn vốn là như thế. Nguyễn Du th́ kín kẻ hơn, cao tay hơn, hoàn hảo hơn. Lư Thương Ẩn dùng cho ư “mất” th́ Nguyễn Du thấy thiếu và bổ sung ư “c̣n”; “mất, c̣n” là hai mặt của cơi nhân sinh mà Nguyễn Du xoáy vào “trọng tâm đủ “nơi ấy Lư Thương Ẩn đă đưa ư thơ ḿnh chỉ về một mé mà thôi. Đủ ( full) có lẽ là một nhân sinh quan của Nguyễn Du khi viết Đoạn Trường Tân Thanh( Kiều) .

 

Với trường hợp của Giả Đảo th́ khác. Tiên sinh đă dấu nụ cười đôn hậu và nhân đức, khách thơ không sao tưởng tượng được và xin thử đọc đoạn Kiều này. Nguyễn Du can thiệp và lật ngược ư thơ từ điển từ đă chọn.

Đây là đoạn Kim Kiều tái ngộ, sau khi ” con (2) ong đă tỏ đường đi lối về ” . Bạn tự tra cứu các câu trước đây. Lúc này tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh( Kiều ) gần đến hồi kết thúc.

Hai t́nh vẹn vẽ ḥa hai,
Chẳng trong chăn gối cũng ngoài cầm thơ.
Khi chén rượu khi cuộc cờ,
Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên.

3225. Ba sinh đă phỉ mười nguyền,
Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.
Nhớ lời lập một am mây,
Khiến người thân thích rước thầy Giác Duyên .

3229-Đến nơi đóng cửa cài then,
Rêu trùm kẻ ngạch cỏ len mái nhà,

3231-Sư đà hái thuốc phương xa,
Mây bay hạc lánh biết là t́m đâu ?


Ba sinh? là duyên số từ kiếp trước ( Lê văn Hoè, Truyện kiều chú giải )

laiquangnam th́ hiểu như vầy, Ba sinh theo thuyết luân hồi của nhà Phật, đơn vị tối thiểu của đời người phải là 3 kiếp (ba sinh). Nếu gọi kiếp đang sống vào thời điểm này, kiếp hiện tại, tạm gọi là kiếp zero ( 0) th́ anh ta phải chịu sự quả báo của kiếp trước (-1) và anh đă sinh ra một hệ luỵ cho kiếp sau (+1) và ṿng luân hồi lặp lại. Có ba kiếp (ba Sinh) liên đới với nhau và buộc chặt vào nhau. Đừng bao giờ hỏi điểm khởi đầu của một bánh xe. Vậy mà Kim Trọng – Kiều đă “Ba sinh đă phỉ mười nguyền”. OK lắm rồi. Nhân OK. Quả OK và Hiện tại là quá OK* . Nguyễn Du rất tuyệt khi tiên sinh viết :

Ba sinh đă phỉ mười nguyền,
Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.


Trong bối cảnh chồng chúa vợ tôi của đạo Khổng bên Tàu ăn sâu vào cái đầu 1000 năm nô lệ gắn văn hoá Tàu Chệch ngay từ thời xa xưa của người Việt cổ, người Việt chúng ta chờ cho măi đến thế kỷ thứ 19 mới thấy có một Nguyễn Du phát triển ư tưởng mới và hợp với thời đại chúng ta ngày nay hơn. Hạnh phúc nào tối ưu khi mà trong t́nh yêu cần có sự điều hoà “t́nh dục và t́nh bạn” , “Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.”, T́nh bạn giúp b́nh đẳng; có nói có nghe, trong việc xây dựng cuộc sống hạnh phúc lứa đôi. Hạnh phúc thay cho các cặp vợ chồng nào xây dựng được giữa họ với nhau “t́nh bạn” <=> bạn t́nh” . Bravo Nguyễn Du tiên sinh!. Hôn nhân “tuyệt“ khi mà hôn nhân có đi có lại “t́nh bạn” <=> bạn t́nh” . Không đi đến hôn nhân mà “t́nh bạn” <=> bạn t́nh” có khi nó biến bạn thành người khuyết tật ngay v́ bạn bị ăn đ̣n, ăn can axit v́ cố tật ăn phở ăn nem. Đào hoa là tai ách. Các Hán Vườn ta khi nói Hán th́ thao thao bất tuyệt, rằng câu này từ trích bài này, từ bài thơ Đường này, từ bài thơ Đường kia mà câu Kiều bằng Việt ngữ như trên mà Hán Vườn nhận cũng không ra thật là “Vọng Hán và Khớp Hán” quá. “Ngâm Kiều chẳng hiểu chi Kiều, Ngâm Kiều như rứa th́ tiêu Kiều rồi.

© Ba sinh đă phỉ mười nguyền,
Ba sinh bạn đă rơ, c̣n Mười nguyền? “t́nh bạn” <=> bạn t́nh <=> t́nh bạn ”. Mười nguyền ? gồm có những ǵ ? laiquangnam tôi thật sự không biết. Mười là con số tṛn. Mười ngón tay. 10 là con số đầy. Đây là con số cực đại. Ba sinh đă phỉ => đă hài ḷng lắm rồi do v́ “mười nguyền” => mọi lời ước mơ đều OK. Họ có ǵ? Họ đă ở bên nhau. Và Nguyễn Du đă thấu hiểu, nên tiên sinh đă dùng bài “Tầm ẩn giả bất ngộ “ vào đây với sự kiệm lời.

Ta tạm dừng tại đây và đi vào chính đề. Từ hai câu 3231,3232 người đội Hán liên tưởng đến bài thơ của Giả Đảo có hai tên là Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ (尋隱者不遇), t́m người ở ẩn nhưng không gặp; hay là Tùng Hạ Vấn Đồng Tử, dưới tùng hỏi tiểu đồng; và cho rằng Nguyễn Du tiên sinh dịch thơ Giả Đảo . Láo lếu !

 

Mời Khách thơ đọc bài thơ của Giả Đảo

I- Nguyên tác:

松下問童子
言師採藥去
只在此山中
雲深不知處

II- Phiên âm:

Tùng hạ vấn đồng tử,
Ngôn sư thái dược khứ.
Chỉ tại thử sơn trung,
Vân thâm bất tri xứ.

III- Tạm dịch nghĩa như sau:

Tùng hạ vấn đồng tử,==> Dưới cây tùng hỏi thăm tiểu đồng,
Ngôn sư thái dược khứ. ==> "Thưa rằng: Thầy con đă đi hái thuốc.
Chỉ tại thử sơn trung => Chỉ trong núi này mà thôi,
Vân thâm bất tri xứ. => Mây dày quá nên chẳng biết chỗ nào."

Ước lệ trong Đường thi

© Tùng chỉ người quân tử. Quế tùng là hai cây dành để chỉ người có phẩm chất cao đẹp .
Quế được Vương Duy xử dung trong thơ ḿnh .

© Mây không cố định một nơi, thay đổi vị trí luôn, mây trong ngữ cảnh chỉ sự bất định xứ của người ẩn sĩ.

Ngữ cảnh trong bài Giả Đảo dùng “Vân thâm”, mây dày nhiều tầng vừa là trạng thái vật lư của trời đất vừa ví người ở ẩn tấm ḷng sâu thăm thẳm và khó t́m đến được bởi v́ họ cũng “ bất định xứ “

© Câu 3, “ gần “: Khi tiểu đồng chỉ ngọn núi, thấy được nhưng “gần” mà không gần, v́ “Vân thâm bất tri xứ” “ Mây Thẩm ( Người) khó tiếp cận “. Trớt quớt.

Câu 4 th́ Tiểu đồng đă không muốn cho gặp.

Tôi độ chừng Nguyễn Du cho là Giả Đảo, nổi tiếng với “ thôi xao“, đă không dùng một từ khác thay v́ dùng “đồng tử”. V́ “đồng tử” là đứa trẻ c̣n ngây thơ chỉ để Thầy sai vặt. Đệ tử có lẽ hay hơn nhưng dùng đệ tử th́ thất niêm. Trong Việt ngữ, từ “đệ tử “nay đă biến dạng trong cách dùng:

1- Đệ tử là người học tṛ ruột của Thầy

2-Đệ tử là người có thể đă lớn tuổi chịu nhận một người khác làm bậc trưởng thượng của ḿnh và theo hầu hạ. Thường đệ tử là người rất biết ư thầy. Hai câu cuối, “Chỉ tại thử sơn trung, Vân thâm bất tri xứ.”, chỉ ở trong núi này mà thôi, đệ tử c̣n lạ ǵ nơi mà ḿnh đă từng theo thầy, có lẽ cậu này không muốn chỉ đường mà thôi, hay có thể Thầy đă muốn ở ẩn thật rồi và cắt mọi sự giao thiệp với nhân gian.

Câu cuối cùng đệ tử 50% nói thật, 50% nói dối, không muốn t́m bởi hiểu ư Thầy, Ngài không muốn ai quấy rầy ḿnh. Trong bối cảnh Đoạn Trường Tân Thanh ( Kiều ) câu này th́ rơ ràng là quà tặng của Nguyễn Du dành cho Kiều. Trong nguyên tác của Giả Đảo chỉ 50% thật, “tề trong núi đó” và 50% xạo với cớ không muốn giúp “Tề …mây thăm thẳm”.

Chỉ tại thử sơn trung,
Vân thâm bất tri xứ.

=>
Quẩn quanh, tề! núi cao cao,
Tề ! mây thăm thẳm, mần sao…mà t́m!.


Tề!!! mây thâm thẩm => xù. Giả Đảo chơi chữ rất thâm. Khen thơ Giả Đảo là thừa. Lời thơ ông rất nén. Tứ tuyệt đă nén rồi mà chọn ḍng ngũ ngôn nữa nên càng nén hơn. Nguyễn Du nhà ḿnh lại càng thâm hơn. Bỏ câu cuối nhưng người đọc hiểu mạch văn th́ tiên sinh đă ngầm tặng cho Kiều một món quà. Nàng c̣n được ở bên Kim Trọng mà không bị quấy rầy bởi sư Bà Giác Duyên. Nguyễn Du đă " cho Nàng Kiều hưởng thêm chút hạnh phúc bởi hai đứa tụi nó đang xung ". Sự hiện diện của sư Giác Duyên vào đây rách việc. Sư Bà do thiếu lịch lăm ở đời ** thế nên Sư Bà đă ngây thơ gởi nàng vào tay Bạc Bà sau khi nàng khi thoát khỏi tay Hoạn Thư. Sợ Sư Bà lần này sẽ quá ngây thơ xúi Kiều cạo đầu đi tu th́ tội nghiệp nàng, lúc này Kiều mới trên dưới 30. Tuổi đàn bà! OK. Thế nên Nguyễn Du cho “Mây bay hạc lánh”, Nguyễn Du, Ngài thật tuyệt. Có thế chứ, bởi bọn nó, Kim Trọng – Kiều đang xung . Bạn đọc từ câu 3015-đến 3234 sẽ rơ .
 


IV- Dịch thơ quốc âm

IV.1  Laiquangnam dịch

Tuyệt Cú

Dưới tùng hỏi đệ tử,
_Thầy lùng thuốc bấy chừ!
Loanh quanh trong núi ấy.
Mây dày, kiếm được ư?.
 
Lục bát

Dưới tùng hỏi chú tiểu đồng ?
_"Thầy đà hái thuốc, không ḷng ḍng đây.
_Tà tà tít mú núi này,
_Trùng trùng mây phủ, _t́m Thầy? _vô phương! "

Song thất lục bát

Dừng dưới tùng, hỏi thăm đệ tử ?
Rằng _"Thầy hái thuốc tự hổm nao,
Quẩn quanh…tề! … núi cao cao,
Tề! …mây thăm thẳm, mần sao…mà t́m!.
 
Gặp chú đệ tử người Quảng Nam này th́ người đi t́m trớt quớt. Nói với thứ ngôn ngữ đă lạ rồi mà coi bộ như không muốn t́m người ḿnh muốn gặp. Hành xử lạ. Đó là lư do mà Nguyễn Du với tinh thần thương người cố hữu, tiên sinh đă dùng thơ Giả Đảo vào câu áp cuối truyện thơ dài Đoạn Trường Tân Thanh ( Kiều ) của ḿnh.

Quẩn quanh…tề! … núi cao cao,
Tề! …mây thăm thẳm, mần sao…mà t́m!.


IV.2  Bản dịch của Người xưa: 

Gốc thông hỏi chú học tṛ,
Rằng: "Thầy hái thuốc ḷ ṃ đi xa.
Ở trong núi ấy đây mà,
Mây che mù mịt biết là nơi nao?"

Tản Đà dịch

 

V- Kết luận:

Ta phải biết nội dung bài thơ này của Giả Đảo có đoạn kết như thế này. Nguyễn Du đă nhất định cho Kiều–Kim Trọng sống với nhau v́ bọn chúng “Ba sinh đă phỉ mười nguyền,” . Và Tiên sinh đă cho Sư Bà giác Duyên lánh mặt cố t́nh, th́ khi ta quay lại với bài Cẩm Sắt của Lư Thương Ẩn ta sẽ không bối rối v́ sao Nguyễn Du khi dùng bài thơ của Lư Thương Ẩn chỉ dùng đoạn giữa mà thôi. Và ư Nguyễn Du tiên sinh ra sao. Đó là lư do tại sao ta cần biết rơ các bài thơ Đường có thể có mối liên quan trong việc hiểu ngữ cảnh thơ tiền nhân ta chứ không phải v́ tư tưởng Vọng Hán của thế hệ chúng ta. Vọng Hán, Khớp Hán, đội Hán đều đáng bị lên án vào thời điểm này .


VI-Tham khảo

*Bài này được giới thiệu v́ liên quan đến Đoạn Trường Tân Thanh (Kiều) của Nguyễn Du, đoạn kết thúc, lúc Kim Trọng – Kiều tái ngộ và liên quan đến bài Cẩm Sắt của Lư Thương Ẩn mà Nguyễn Du dùng.

Các đoạn Kiều có liên quan

©** Giác Duyên ngây thơ năm xưa:

2081-Có nhà họ Bạc bên kia,
Am mây quen lối đi về dầu hương.
Nhắn sang, dặn hết mọi đường,
Dọn nhà hăy tạm cho nàng trú chân


Một lần đạp cứt một lần chặt chân. Cho Bà Sư già hiện diện biết đâu Sư Bà lại bàn đến việc “Kiều cạo đầu xuất gia”, rằng con hăy nghe lời Thầy “đời là bể khổ” là rách việc; thế nên Nguyễn Du cho “Mây bay hạc lánh” là êm ru.

Mây bay hạc lánh. Bà Sư đi lánh mặt như là một sự chuộc lại lỗi lầm do thiếu kinh nghiệm sống năm xưa tuy Sư Bà là người rất giàu đạo đức làm người. Đó là câu cuối trong đời Kiều. Một tin vui cho nàng.

© Kiều than trước khi nhảy xuống sông Tiền đường

2611-Thân sao thân đến thế này ?
C̣n ngày nào cũng dư ngày ấy thôi !
Đă không biết sống là vui,
Tấm thân nào biết thiệt tḥi là thương !


© Nguyễn Du động ḷng lần thứ nhất, cho rút tên Kiều ra khỏi sổ 

2721-Đoạn trường sổ rút tên ra,
Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau.
C̣n nhiều hưởng thụ về lâu,

2724-Duyên xưa tṛn trặn phúc sau dồi dào!

© Tiếp đến, sắp kết thúc có một chuyển biến đột ngột “t́nh cảm “ trong đoạn kết.

Nguyễn Du cho Sư Bà hắc ám không được CảnMũiKỳĐà mà phải “Mây bay hạc lánh”
Cho dù trước đó th́ Kiều đánh đàn lần cuối với điển từ từ Lư Thương Ẩn:

Đợi mọi cuộc t́nh về dĩ văng
Bây giờ lần đốt nản mà thôi.

Lư Thương Ẩn, Cẩm Sắt.

Lời b́nh trên sẽ làm sáng tỏ dụng tâm của Nguyễn Du “ xa gần " dùng điển từ để tạo thêm ngữ cảnh cho thơ. Hán Vườn đừng bao giờ nghĩ rằng Nguyễn Du tiên sinh viết rất đỗi thật thà và khiêm cung:

Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.

Mà bị cười cho thúi đầu.

© Câu thơ của Nguyễn Du

Sư đà hái thuốc phương xa,
3232-Mây bay hạc lánh biết là t́m đâu ?

giống bao nhiêu %. nguyên tác của Giả Đảo mà bọn đội Hán phát biểu lôm côm.

© Mây bay hạc lánh là nhân vật cần t́m, sư bà Giác Duyên. Vân thâm mây của đất trời. Nếu cho rằng mây dày thâm thẩm dùng chỉ là người ẩn sĩ th́ cũng không mấy giống được bao nhiêu %.
Nguyễn Du “Mây bay hạc lánh” ( nhân vật chủ động gặp gỡ là Sư Bà). Giả đảo “bất tri xứ” do tiểu đồng không muốn kiếm giúp (nhân vật gián tiếp can thiệp vào sự gặp gỡ ).

 

Hẹn các bạn trong phần II về bài Cẩm Sắt của Lư Thương Ẩn .

Laiquangnam


 

trang  laiquangnam 

 

www.art2all.net