LAIQUANGNAM

 

 

Thôi Hiệu

 

HOÀNG HẠC LÂU

 

 

Hôm nay bên ḍng sông xứ người có một người lặng lẽ ngắm về nơi thượng nguồn sương khói với ḷng tràn nỗi nhớ Quê hương. Trăm mối, Ta nhớ Người, Người có c̣n nhớ ta chăng ?

Hoàng Hạc lâu là bài thơ thất ngôn Đường luật hay nhất đời Đường, Nghiêm Vũ thời Tống đánh giá như thế  (1)

Bài Hoàng Hạc lâu được người Việt Nam  thuộc thế hệ sinh thập niên 1940, 1950 yêu thích bởi nó đă được đem vào chương tŕnh Việt văn ban C, tú tài I. Nó có hơn 35 năm được đào sâu tại các trường trung học Việt Nam. Trên mạng đă có trên 55 bản dịch không biết trong số đó ai là người thuộc lớp mà laiquangnam kể ở trên.

 

Nguyên tác  

 

黃鶴樓

 

昔人已乘黃鶴去,

此地空餘黃鶴樓。

黃鶴一去不復返,

白雲千載空悠悠。

晴川歷歷漢陽樹,

芳草萋萋鸚鵡洲。

日暮鄉關何處是,

煙波江上使人愁。

 

Phiên âm 

 

 Hoàng Hạc lâu

 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư hoàng hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du

Tịch xuyên lịch lịch Hán dương thụ

Phương thảo thê thê Anh vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Thôi Hiệu

 

Chú vài từ và tạm dịch nghĩa 

 

1- tích nhân, điển tích, chỉ người xưa. Tục truyền Phí Văn Vi thành tiên, thường cưỡi hạc về nghỉ ở Hoàng Hạc lâu.. Sách Hoàn vũ kư ghi là Phí Hôi từ lầu này cưỡi hạc vàng lên tiên nên gọi là lầu Hạc Vàng. Sách Tề hài chí thi ghi Vương Tử An thành tiên cưỡi hạc vàng qua lầu này nên lầu gọi là lầu Hạc vàng. (2)

2- du du là từ Tàu, mông mênh, lai láng, bao la. Du du một từ có tần số xuất hiện rất cao trong thơ Đường.

3- thê thê là mượt mà, tươi tốt. Cỏ xanh là ước lệ trong thơ Đường, luôn gợi sự quyến luyến với Vương  tôn  (Vương  tôn là  từ trọng vọng dành với ai đó ), ước lệ này được giới thi nhân dùng nhiều mà Vương Duy người đồng thời với ông là một điển h́nh. Nó cũng là một điển từ.  “ thê thê “ là lấy từ bài Chiêu ẩn sĩ trong Sở từ “ Vương tôn du hề bất quy, xuân thảo sinh hề thê thê “(Vương tôn đi chơi không về, cỏ xuân mọc mượt mà), tạm dịch :                        

 

Tiễn người hoa lá  luyến thương,

Hoa đồng cỏ nội ủ hương chờ người.

 

hoặc

 

Tiễn người hoa lá luyến thương

Thê thê nội cỏ ủ hương chờ người

 

Ngoài nghĩa thê thê "  là xanh tươi, mơn mởn, c̣n có nghĩa là buồn bă (thơ đọc qua lỗ tai,  chơi chữ củaThôi Hiệu?,” BKD dịch 2 câu 5, 6 như sau : Sông tạnh Hán Dương cây bát ngát, Băi hoang Anh Vũ cỏ tiêu sơ “, không phải không có lư.  

Điển từ “thê thê “ ( câu 6) dẫn đến “Sử nhân sầu” ở câu 8. Người ra đi nay trở về với bao niềm thương nhớ quê nhà, nguyên nhân? có phải khói sương nơi cuối ḍng không? hay là do điển từ “thê thê” tại câu 4 nhắc đến sự nhớ thương của cây cỏ trên cồn Anh vũ  như đă đề cập.

4- Trong Thất ngôn bát cú luật, địa danh nhằm tăng độ nén của ư. Thi nhân thường chọn địa danh có huyền thoại đặc biệt liên quan đến câu chuyện hay con người lịch sử  đă xuất  hiện trong sách vở của Tàu.

Hán Dương, địa danh, thành phố nằm trên ḍng sông Trường Giang đối diện Hoàng Hạc Lâu. Anh Vũ, địa danh, cù lao ( cồn ) Anh vũ  nằm giữa sông Trường Giang, chênh chuếch với phía thành Hán dương. 

5- Tiếu lâm : Bịa giai thoại để nói bài thơ hay là cách dễ nhất để khen một bài thơ mà người giảng không cần động năo tí nào. Tỉ như bên Tàu có ông  Tân Văn Pḥng đời Nguyên kể lại trong sách Đường tài tử truyện rằng Lư Bạch lên lầu Hạc vàng định làm thơ, nhưng thấy bài thơ Thôi Hiệu quá hay nên ông không c̣n ư, c̣n chữ ǵ để viết nữa. Họ bịa Lư Bạch viết  

 Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc.

 Thôi Hạo đề thi tại thượng đầu

 (trước mắt có cảnh đẹp mà không nói lên được bởi Thôi Hiệu đă đề thơ trên kia rồi. Khách thơ tin ? % ? nhiều người giáo sư Việt nghe ông Tàu này nói y như thiệt là tin ngay. Bản chất!

 

Vậy phải xử lư văn bản này như thế nào trước khi dịch sang thơ quốc âm ?

 

Người Tàu rất tự hào với ḍng thơ Thất ngôn bát cú luật của họ. Bài thi loại với thí sinh trên con đường t́m công danh bắt buộc là bài Thất ngôn bát cú luật. Họ nén thơ trong 8 ḍng với 56 từ. Họ nén bằng cách nạ?

1-dùng điển từ, điển tích, địa danh, ước lệ. Điển từ là ǵ ? điển từ là hai hay nhiều từ lấy từ một câu thơ cổ,thí dụ hai chữ “thê thê” trong bài này như đă đề cập ở trên.

2-Sử nhân sầu là cụm từ hay từ thời cụ Tản đà bỏ công dịch và giới thiệu bài này qua ḍng lục bát.  Tản Đà  biết áp dịch là điều không thể bởi làm thế nào đưa trọn câu 2 khẩu ngữ khúc khắc khục khặc này vào câu Tiếng Việt  Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,  nên ông né

Lục bát, Song thất lục bát  của Người Việt vốn có cái mượt mà Tiếng Việt rất riêng đem bù đắp cho bài thơ nguyên tác ḍng Thất ngôn bát cú luật. Thi nhân Tàu chơi chữ chan chát  tại các cặp (3, 4 & 5 ,6) vậy mà không ăn th́  nói ǵ dịch áp theo nguyên tác làm sao dịch áp cho đạt. Lục bát th́ mựợt mà. Song thất lục bát  th́ ngoài cái  mượt mà, là sự  ưu việt  trong thể tự sự, thất ngôn bát cú luật thua xa. Song thất lục bát  nay lại c̣n phù hợp với lối phân đoạn bài Thất ngôn bát cú luật theo hai khổ tiền và hậu như Kim Thánh Thán đă làm.

3- câu “Bạch vân thiên tải không du du”, mây trắng ngàn năm không du du. Từ “không” là không hay “không” là vô cùng đây hay không là trời. Có khi giữ nguyên không du du thế mà hay. theo bạn ?

 

Bạch vân thiên tải không du du

Ngàn năm mấy trắng sắc ngờ ngờ pha

 

4- Điển từ ” thê thê “ ở câu 6,  đây là mắt xích  quan trọng nhất, khiến chuyển hướng từ căm hờn  trong t́nh cảm của người ly khách “_Hoàng hạc “nhất khứ bất phục phản”// một đi, thề chẳng quay về ! sang t́nh cảm  xề x̣a bỏ qua  rồi “thương nhớ” đậm ?

 

Tạnh sông xa Hán dương lồng bóng ,

Thơm cỏ nồng Anh Vũ “thêthê” .

*Quê ta đâu ? bóng chiều tê,

Trên sồng khói sóng, ḷng (Q)uê … ngậm ngùi.

 

5. Ấy chết, ngay tại tiêu đề và ngay tại câu đầu, Thôi Hiệu đă dùng Ước lệ thương nhớ quê hương, “lên lầu”, đăng lâu  để nh́n được thật  xa, trông thật rộng. Toàn văn được tác gỉả đúc kết gom lại là hai từ “Quê xa “ mờ ảo làm cháy ḷng người trở lại ở câu cuối. Quê nhà ta là nơi xa xăm kia,  khuất sau mấy làn mây sương khói! Ta đứng dây thương nhớ Người liệu Người có c̣n tưởng nhớ đến ta chăng ?

 

Tạnh sông xa Hán dương lồng bóng,

Hương cỏ nồng Anh Vũ mượt xa.

*Hỏi đâu cố quận, chiều tà,

Trên sông khói sóng, ..q(Q)uê xa …” ngùi ngùi”

 

Được cái này mất cái kia. Bó tay. Thôi th́ theo cách mà các nhạc sĩ thời nay dùng, viết ”điệp khúc” cho hết ư thơ.

 

 

Dịch sang thơ quốc âm 

 

Người xưa cưỡi  Hạc vàng phiêu bạc 

Đất này “sau trước” Hạc lầu trơ

_Một đi, về chẳng bao giờ ! 

Ngàn năm mây trắng sắc ngờ ngờ pha

 

*Tạnh sông xa Hán dương lồng bóng,

Hương cỏ nồng Anh Vũ mượt xa.

*Hỏi đâu cố quận, chiều tà,

Trên sông khói sóng , ..q(Q)uê xa …” ngùi ngùi”

 

và điệp khúc

 

* Tạnh sông xa Hán Dương lồng bóng,

Hương cỏ lồng Anh Vũ “thê thê”.

* Quê ta đâu? _ ,bóng chiều tê!,

Trên sông  khói sóng, ḷng (Q)uê … ngậm ngùi.

 

1- “Sau trước “là điển từ của Kiều [ trước sau nào thấy bóng người (Kiều )]

2- Cố Quận là từ được phổ biến khi Bùi Giáng xử dụng cho dù trước đó Huy Cận đă dùng nhưng không mấy ai để ư, bởi bài thơ của Huy Cận lúc ấy dở.

3- Ngùi ngùi  chữ của CPN,

4- q(Q)uê, gồm hai từ quê và Quê

 

 

Một bản dịch lục bát của người xưa : Tản Đà:

 

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,

Mà đây Hoàng hạc riêng lầu c̣n trơ.

Hạ vàng đi mất từ xưa,

Ngàn năm mây trắng bây giờ c̣n bay.

Hán dương sông tạnh cây bày,

Băi xa Anh vũ xanh đầy cỏ non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai.

 

Tham khảo 

(1)  NGUYỄN KHẮC PHI, Phân tích b́nh giảng tác phẩm văn học 10, NKP là người  và hướng dẫn SV làm luận văn tiến sĩ.. Ông là người có công phổ biến và tán dương văn học Trung quốc tại Việt Nam từ 50 năm nay trong giới đại học SP Hanoi   

(2)  Nguyễn Thế Nữu, Thơ Đường b́nh chú, Hội nhà văn, 2000

(3) Mách bạn  bản dịch của Ngô Tất Tố, TTk, BKD, KHD, Vũ hoàng Chương và của 50 người dịch khác các bạn có thể  đọc  trên mạng. lqnam không ư kiến ..

(4) và bài viết tại link khiến bạn nhiều suy tư. http://www.vietmedia.com/news/?L=grabstory.html&ID=2843&start=1501&Cat=VanNghe

(5) đọc hoàng hạc lâu nhiều người thích hai câu cuối trong nguyên tác:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

 

đă bao nhiêu người dịch hai câu trên nhưng nào có ai dich qua câu ca dao thương nhớ

 

Chiều chiều đứng dựa ngơ  sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều

 

không cần đăng lâu, không cần ḍng sông, không cần t́nh hương cỏ, chỉ một bóng chiều tà là đủ gợi lên bao niềm thương nhớ. Nhớ đến “ chín “ cả trời chiều, nơi nơi đều chứa nổi đau, tám  chiều địa dư + một chiều nội tâm. Làm người Việt sao mà khổ thế, sao mà t́nh quê hương sâu đậm thế. Nhớ in ít thôi không đươc sao?

 

Hăy nghe người mẹ người cha Quảng Nam  và người con của họ đối đáp :

 _Ngó lên ḥn Kẽm đá Dừng 

Thương cha nhớ mẹ quá chừng *bạn ơi ! 

_ Thương cha nhớ mẹ th́ về, 

Nhược bằng thương kiểng nhớ quê th́ đừng!. 
 

 Lư do nào mà bậc làm cha làm mẹ người Quảng nam lại vui vẻ chấp nhận và khuyến khích con cháu ḿnh bỏ xứ ra đi ? Tại sao ? Chỉ có Chúa họa may  mới biết. Họ đâu cần chi bọn trẻ sống ở bên ḿnh, mong ḿnh đựợc săn sóc  lúc tuổi già. Trẻ cậy cha ,già cậy con .”Tụi bay đi đi, nơi nào cho tụi bay sống  hạnh phúc, cho tụi bay  an cư lạc nghiệp, sống cho ra sống, nơi ấy chính là quê hương. Ở nhà cha mẹ tự lo thân được mà. Yên tâm đi. Tổ quốc chỉ một mà thôi, nếu có thương nhớ mẹ cha th́ hăy dấu nước mắt vào ḷng. Tụi bay vui là Ta đă vui. Ngày xưa mẹ hát ru, bây giờ các con lại hát ru sao?” .

Thương thay cho người Việt ḿnh  với tấm ḷng thương nhớ quê nhà đau đáu.  Và ai ngồi dịch và giới thiệu Hoàng hạc lâu với động cơ thương nhớ quê nhà nay thử sờ lại ót ḿnh. laiquangnam lỡ dại đă bỏ công đọc  và giới thiệu lăng xẹt một bài thơ Tàu, lẽ nào các bạn lại lặp bước đường này ?

 

Saigon một sáng tháng năm 2011.

laiquangnam

 

 

trang  laiquangnam 

 

www.art2all.net