ngô thiên thu

        

 

LƯỢC SỬ VỀ SÔNG BỒ



Sông Bồ về địa lư lịch sử


Dương Văn An mô tả về thành Hóa Châu một cách hoành tráng: thành nằm “tại địa phận huyện Đan Điền, sông cái chảy qua phía tây, c̣n có một nhánh sông con chảy vào trong thành. Bên hữu sông này là nơi đặt nha môn đô ty, thừa ty và học xá phủ Triệu Phong. Sông cái Kim Trà rót về Nam. Phá ở phía bắc, đầm ở phía đông, ước ngàn vạn khoảnh, bốn mặt đều là sông nước bao quanh. Ṭa thành trăm trĩ vươn cao, sừng sững như đám mây dài. Đó là địa h́nh hội tụ, thợ trời tạo ra hiểm yếu vậy. Năm đầu niên hiệu Đại Trị (1358) đời Trần Dụ Tông, sai Đỗ Tử B́nh cắt đặt quân Tân B́nh, Thuận Hóa mới tu bổ thành này”. (1)

Như chúng ta biết sông cái ở đây chính là sông Đan Điền mà dân gian xưa nay gọi là sông Bồ. “Đó là sông lớn của huyện Đan Điền, có nguồn rất xa và ḍng rất dài. Đền Minh Uy là ngôi cổ miếu khóa chặt ở đầu nguồn, ṭa thành Thuận Hóa giữ vững ở cửa sông”. (2)

Lê Quư Đôn trích dẫn từ cuốn An Nam Chí như sau: “Sông Bồ-đài phát nguyên từ nước Lăo-qua chảy qua phía đông huyện Bồ-đài, chia chảy vào biển cạn, lại chảy vào ngă ba Hóa Châu, sâu có thể đi thuyền được.” (3)

Theo nhà sử học Đào Duy Anh trong cuốn “Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời” th́ địa danh Bồ Đài là tên đơn vị hành chính cấp huyện thời nhà Trần nằm phía thượng nguồn sông Bồ.

Qua các đoạn văn trên ta có thể xác định được sông Bồ Đài thời Trần chính là phía thượng nguồn sông Đan Điền thời Lê-Mạc, nước Lăo-qua là nước Lào và biển cạn chính là phá Tam Giang ngày nay.

Sông Bồ khởi nguồn từ nhiều nhánh sông nhỏ hợp thành sông cái. Nhánh chính sông Bồ từ Lào chảy qua vùng Hồng Thái (A Lưới). Nhánh thứ hai chảy từ Hồng Kim (A Lưới) và nhánh thứ ba bắt nguồn từ Phong Mỹ (Phong Điền). Ba nhánh này gặp tại Phong Sơn và B́nh Điền rồi chảy về hạ lưu qua các làng mạc thuộc ba huyện Phong Điền, Quảng Điền và Hương Trà. Sông Bồ tiếp tục cuộc hành tŕnh lăng mạn hẹn ḥ người t́nh Hương Giang ở ngă ba Śnh rồi cùng nhau gắn kết thả hồn về phá Tam Giang ra đại dương.

Liên quan đến sông Bồ, Lê Quư Đôn viết: “Đầu nguồn Sơn-bồ thượng huyện Quảng Điền, từ dân Man Trà-bon đến tuần Trù-Sơn một ngày, đến tuần Hiền-sĩ lại một ngày, lại đến sông Bái-đáp lại nửa ngày. Từ Bái-đáp đến cửa Eo một ngày”. (4)

Ở đây ta nhận thấy rằng tùy theo từng khúc sông mà người xưa đặt tên. Thượng nguồn sông Bồ có tên nguồn Sơn Bồ, sông Bồ chảy qua giang phận làng Bái Đáp (Phú Lễ) gọi là sông Bái Đáp, chảy qua làng Phú Ốc th́ gọi là sông Phú Ốc… c̣n sông chính lấy tên theo địa danh huyện.

Trong cuốn “Huế Lễ Hội Dân Gian”, (5) tác giả Tôn Thất B́nh có viết về hội Dinh ở làng Cổ Bi trong đó ông có sưu tầm được một bài ḥ vè cổ có liên quan đến ḍng sông Bồ:

“Cổ địa Bi sơn ḍng huyết mạch
Sông Bồ núi Bút hộ Tùng lai
Tiền triều địa bộ châu phê ấn
Thượng bến Cây Trắc hạ Cầu Dài
Long truyền hổ bối triều linh địa
Tả văn hữu vơ lưỡng ban giai
Điền địa ph́ nhiêu dân tế độ
Nam thanh nữ tú chẳng kém ai.”

Cũng trong bài viết này ông Tôn Thất B́nh cho rằng ḍng sông đi qua làng Cổ Bi mang tên “sông Trà Kệ (sông Bồ Nguyên) nay gọi là sông Bồ…” (6)

Tuy nhiên theo ư kiến chúng tôi th́ sông Trà Kệ c̣n kéo dài về đến hạ lưu sông Bồ ra đến phá Tam Giang.

Trong cuốn “Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn - Thừa Thiên” ông Nguyễn Đ́nh Đầu có viết: “Năm 1044, vua Lư Thái Tông ngự giá đi đánh Chiêm Thành v́ quân Chiêm Thành hay sang quấy rối biên địa Đại Việt. Quân Chiêm Thành dàn trận ở phía nam sông Ngũ Bồ”. (7)

Đoạn văn trên ông Đầu dẫn theo cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Ở đây ông Đầu giải thích sông Ngũ Bồ là “Bồ Giang chảy qua Cổ Bi và Bồ Điền”. Không biết ông dựa vào nguồn nào, tuy nhiên theo “Đại Việt Sử Kư Toàn Thư” (8)nhóm dịch giả có chú thích dựa theo học giả Đào Duy Anh th́ cho rằng sông Ngũ Bồ “có thể là sông Chợ Củi (hạ lưu sông Thu Bồn).” Và ông Nguyễn Chính - Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa các dân tộc miền Trung và Tây Nguyên th́ cho rằng sông Ngũ Bồ chính là sông Thu Bồn ở Quảng Nam, được lấy làm ranh giới giữa hai quốc gia Đại Việt và Chiêm Thành vào đầu thế kỷ 14. (9)


Bộ sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn vào năm 1909 (Duy Tân năm thứ 3), tập 1 phần Kinh sư có liệt kê tất cả các con sông th́ không có tên sông Bồ, mà thay vào đó là con sông Phú Ốc như là sông cái chảy qua ba huyện Phong Điền, Hương Trà và Quảng Điền. Điều này có nghĩa là sông Bồ (hay Bồ Giang) vẫn chưa chính thức là cái tên chính thống trong sử sách cho đến thời điểm này.


Một trong tư liệu về sông Bồ được chính thức có tên Bồ Giang là tấm bản đồ (10) được vẽ vào đầu thế kỷ 20 (có thể là năm 1910 v́ lúc này nhà nước có phân lại địa giới hành chính). Tư liệu được ghi chú bằng tiếng Việt có kèm theo tiếng Pháp. Trong tấm bản đồ này Bồ Giang kéo dài từ miền rừng núi Trường Sơn xa xăm hùng vỹ chảy về làng mạc Lại Bằng, Cổ Bi, Hiền Sĩ, Pḥ Ninh, Thượng An, Bồ Điền… rồi dùng dằng uốn ḿnh xuôi về Phú Lễ, Phú Ốc, Hà Cảng, Hạ Lang, Bác Vọng… rồi nhẹ nhàng trôi về các vùng hạ lưu trù phú khác.

Có một cách giải thích khác về sông Bồ có liên quan đến sông Hương. Theo truyền thuyết th́ sông Hương được mang tên bởi một giống cỏ Thạch Xương Bồ th́ ngay bản thân ḍng sông Bồ đă mang tên loài cỏ dại này rồi. Từ điển Hán Việt giải thích Bồ là “cỏ bồ”… c̣n là tên “gọi tắt của cây Thạch Xương Bồ”. Cây Thạch Xương Bồ có nơi người ta ngâm rượu uống . Rượu màu xanh lục rất đẹp và có mùi thơm rất quyến rũ.


Tuy nhiên đa số các nhà nghiên cứu cho rằng tên ḍng sông thay đổi theo những lần thay đổi địa danh. Ông Hồ Tấn Phan lư giải: “thời bấy giờ có thể người ta gọi tên sông theo tên huyện nó đi qua, nên một con sông đă có nhiều tên. “Sông cái Đan Điền” là quăng sông đi qua huyện Đan Điền (huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế ngày nay)”. Cũng như thế, “Sông cái Kim Trà” là quăng sông đi qua huyện Kim Trà. Lư giải này có căn cứ thực tế lịch sử. Rằng người xưa có thói quen gọi tên sông theo tên làng, xă, huyện, tỉnh nó đi qua. Như sông Hồng có những đoạn mang tên Mê Linh, Bạch Hạc, Việt Tŕ”. (11)


Như vậy ḍng sông Bồ gắn liền với các địa danh cấp làng xă như Bồ Điền (12) và địa danh cấp huyện như Bồ Đài, Trà Kệ, Đan Điền, Quảng Điền (13) hoặc theo tên nguồn nước Sơn Bồ. Tuy nhiên theo ư kiến chủ quan cái tên Bồ Đài được xem là cổ xưa và ư vị nhất nên rồi lâu dần được mặc định theo tên gọi dân gian là sông Bồ cho đến ngày nay.



Sông Bồ gắn liền với các giai đoạn lịch sử

Trước tiên chúng ta lướt qua thành Hóa Châu. Thành được xây dựng lại qui mô, do nhà Trần tiếp quản vào thể kỷ 14. Phía tây thành có ḍng sông Bồ án ngữ và bảo vệ. Hóa Châu là tiền đồn phía nam của Đại Việt là trấn giữ hiểm yếu cho cả đường sông và đường bộ, vừa chống lại nhiều đợt xâm phạm biên cương của quân Chiêm Thành, vừa là nơi trú ẩn an toàn cho dân chúng người Việt định cư ở Hóa Châu. Chính nơi đây tướng Đặng Tất khởi binh đánh cho quân Minh đại bại. Cho măi đến từ năm 1471 Nhà Lê chinh phạt Chiêm Thành, thành Hóa Châu mới hết giữ vai tṛ quan trọng của nó.

Tiếp đến là việc lập dinh phủ trước sông Bồ. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên chọn Phước Yên (1626- 1636) cũng như chúa Nguyễn Phúc Chu đă chọn Bác Vọng (1712- 1738) trước mặt ḍng sông để xây dựng thủ phủ. Hai vùng đất này đều khá cao so với các vùng khác, cũng giống như đất Phú Xuân, là “chỗ nổi bật ở giữa đất bằng ngồi vị càn [tây-bắc], trông hướng tốn [đông-nam], dựa ngang sống đất, trông xuống bến sông; đằng trước là quần sơn, chầu về la liệt”. Cả hai huyện Hương Trà và Quảng Điền đều lấy “núi Ḥn Đốn làm trấn sơn.” (14)

Sông Bồ liên quan đến các sự kiện lịch sử khác. Tại giang phận Phú Lễ đă diễn ra trận quyết chiến giữa quân Trịnh và quân Nguyễn vào cuối năm 1774, kết quả quân Nguyễn đại bại, quan quân phải rút chạy vào Quảng Nam.

Ngay tại sông Bồ này, ngày 20/7 năm Ất Dậu (19/8/1885) chứng kiến cuộc thọ h́nh nghĩa sĩ Đặng Hữu Phổ tại bến đ̣ Quai Vạc (c̣n gọi là đ̣ ba bến) ngay trên quê hương ông. Năm ấy ông vừa tṛn 31 tuổi.



Sông Bồ gắn liền với nông ngư nghiệp địa phương

Sông Bồ c̣n là nguồn sống nuôi dưỡng biết bao con người và vạn vật. Sông Bồ c̣n là nơi tổ chức lễ hội như lễ hội Cầu Ngư, hoặc hội đua thuyền truyền thống….

Câu dân gian “gạo Mỹ Xá, cá Hộ Yên” có liên quan trực tiếp đến sông Bồ. Ở Mỹ Xá trước đây dân hay trồng giống lúa gạo rằn có tên là lúa Chiêng. Loại lúa này có đặc tính ưu việt là nước sông Bồ mỗi năm lũ lụt lên cao th́ cây lúa phát triển cao lên chừng ấy. Theo chúng tôi th́ giống lúa Chiêng ở đây chính là giống lúa Chiêm có hạt gạo màu đỏ mà người ta thường nấu cháo ăn với cá thệ kho khô và được xem là một trong những món ăn truyền thống của Huế có giá trị dinh dưỡng cao.

Cũng vào mùa mưa, nước từ thượng nguồn chảy về hạ lưu không những mang phù sa bồi đắp ruộng đồng mà nó c̣n mang lại nguồn cá đáng kể, đặc biệt là loại cá ch́nh vào mùa sinh sản đă vượt thác ghềnh từ thượng nguồn sông Bồ về biển sinh con và đàn ch́nh con này lại vượt biển vào phá Tam Giang ngược lên thượng nguồn sông Bồ để trưởng thành. Dân Hộ Yên (An Xuân ngày nay) nắm bắt được thời cơ này để đánh bắt cá. Ngoài ra đất Hộ Yên là vùng trũng nên lượng cá lưu trú ở đây cũng nhiều vô kể.

Tóm lại sông Bồ là chứng nhân lịch sử. Nó đă chứng kiến biết bao thăng trầm của đất nước. Dân tộc Việt có thói quen tư duy sông nước nên việc lập làng lập chợ lập phủ lập thành tŕ đều có yếu tố sông nước. Thiết nghĩ nhà nước, chính quyền hoặc các cơ quan ban ngành có liên quan nên cần nghiên cứu h́nh thành phát triển tour du lịch bằng thuyền tham quan các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử, các làng nghề truyền thống dọc theo sông Bồ.


Huế, 2013
Ngô Đ́nh Thiên Thu


……………………………………….
Ghi chú:
(1) Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục, nhà xuất bản Thuận Hóa, 2001.
(2) Ô Châu Cận Lục. Sách đă dẫn.
(3) Lê Quư Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, NXB Khoa Học Xă hội, 1977
(4) Sách đă dẫn.
(5) Tôn Thất B́nh, Huế Lễ Hội Dân Gian, Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế 1997.
(6) Sách đă dẫn.
(7) Nguyễn Đ́nh Đầu,Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Thừa Thừa Thiên, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 1995.
(8) Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Kư Toàn Thư
(9) Nguyễn Chính, Về Ngũ Hành Sơn nhớ công chúa Huyền Trân. Nguồn Internet.
(10) Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Thừa Thừa Thiên. Sách đă dẫn.
(11) Nguồn Internet.
(12) Bồ Điền trước đây thuộc huyện Đan Điền (Quảng Điền), năm 1834 thôn này thuộc huyện Phong Điền. Ngày 26-1-1954, Nghị định số 141 NĐ/PC của Thủ hiến Trung Việt, sáp nhập các làng Bồ Điền, An Lỗ, Thượng An, Pḥ Ninh, Đông Dă, Hiền Sĩ vào quận Quảng Điền. Ngày 20-4-1956 th́ các làng này thuộc Phong Điền.
(13) Chúa Nguyễn Hoàng đổi tên huyện Đan Điền làm huyện Quảng Điền (dẫn theo Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn).
(14) Phủ Biên Tạp Lục. Sdd

Địa chỉ liên lạc:
Ngô Đ́nh Thiên Thu
42 Đặng Dung, Huế
Di động: 0946948894
Email: ngothienthu2007@yahoo.com.vn

 

Trang Ngô Thiên Thu

art2all.net