NGUYỄN CHÍ KHAM

 

MÙA HOA KHÔ RÁO LỆ

 

Tập truyện ngắn Hà Nội, bướm trắng

 

          Trưa nắng gắt. Bên ngoài sân, chỉ độc nhất có một cây bàng nhưng không đủ cho bóng im đổ xuống từ thềm mái hiên lợp ngói. Tôi lơ đăng nh́n ra nắng, trong lúc điếu thuốc hút c̣n cháy. Vị Đại úy Trưởng ban bỗng cất tiếng hỏi tôi:

-Chú có ra Phù Cát không ?

-Không, anh. Em đi luôn trong này.

-Bằng xe đ̣ ?

-Không, em đi máy bay dân sự.

-Cho chú thêm hai ngày đi đường.

-Dạ, cám ơn anh.

Vị Đại uư kư xong tờ giấy phép, coi kỹ lại một chút xong đóng dấu.

-Thím Nga đă sinh chưa ?

-Dạ rồi.

-Trai hay gái.

-Gái, anh.

-Cho anh gởi lời thăm.

-Em cám ơn anh.

Nơi tôi đang làm việc là Ban phát thanh Quân khu 2. Toàn ban chỉ có 10 người, ba sĩ quan, bốn hạ sĩ quan và ba cô bên dân chính làm công việc đánh máy bài vở, vừa xướng ngôn viên. Mỗi ngày, phát thanh 45 phút. Vị Đại uư viết b́nh luận, Trung uư Huấn coi tổng quát chương tŕnh, phần tôi viết tin tức, điểm báo, và thư chiến sĩ (đọc truyện ngắn và thơ). Số người không đông, nên đơn vị nhỏ của chúng tôi coi nhau như người trong gia đ́nh, và riêng vị Đại uư luôn là người anh cả của chúng tôi.

Từ sở làm việc về nhà tôi rất gần nên tôi đi bộ. Trên đường, t́nh cờ tôi gặp cô Nguyệt nhân viên của Đài dân sự. Hai người cùng dừng bước, cô Nguyệt lên tiếng hỏi:

-Thiếu uư qua bên đài ?

-Không, hôm nay tôi nghỉ. Tôi đi phép về Huế, cô Nguyệt.

Với nụ cười thiện cảm, cô Nguyệt hết sức mừng cho tôi.

-Thiếu uư về phép bao lâu ?

-Tôi đi hai tuần.

Cô Nguyệt nh́n lại tôi, nụ cười trên ánh mắt. Tôi chưa rời bước, và một thoáng nhớ về ngày cũ. Hai năm trước tôi làm việc trên Pleiku, pḥng Báo Chí. Vào mỗi buổi sáng, các đài địa phương Dalat, Nha Trang, Quy Nhơn thường gọi lên để xin tin chiến sự. Bản tin này, phụ trách chính là Kim Tuấn, nhưng lúc anh bận th́ người khác viết. Khi nghe chuông reo, ai bắt máy lên th́ người đó đọc. Thường, Kim Tuấn mà bắt máy, ngoài việc đọc tin ra, anh c̣n vui vẻ chuyện tṛ với các cô nhân viên của các đài thêm mươi, mươi lăm phút mới cúp máy. Anh Kim Tuần rất nhiều tài, viết báo, làm thơ, diễn kịch, và bạn rất thân với hoạ sĩ Đinh Cường. Một bữa đó, tôi bắt máy, và sau khi đọc tin xong c̣n cầm điện thoại trên tay mà cứ tưởng như ḿnh đă làm rớt máy lúc nào không hay. Giọng nói của cô Nguyệt đài Quy Nhơn sao hay quá, nghe tiếng nói mà như nghe tiếng hát. Tôi hỏi Kim Tuấn, Trọng Tiến, hai anh chỉ cười, không nói cho biết cô hay nàng là ai. Và, giọng nói ấy, cũng đă làm tôi mất ngủ, rất nhiều lần mường tượng nên một gương mặt, một tà áo, một mái tóc. Và, sự thể cho nỗi nhớ nhung này là tôi không bắt ḿnh phải h́nh dung, tưởng tượng lâu, chừng ba tháng sau tôi âm thầm đi t́m nàng. Buổi chiều thứ sáu, từ Pleiku, tôi ra bến xe đ̣ đi chuyến chót xuống Quy Nhơn. Xe vào bến lúc thành phố đă lên đèn, từ bến tôi đi bộ về nhà cô em gái tôi ở đường Bùi Thị Xuân, gần phi trường. Lâu quá, anh em chúng tôi gặp nhau rất là vui mừng. Hôm sau thứ bảy, tôi tới Đài dân sự lúc mười giờ, nhưng không gặp cô Nguyệt mà một cô khác khiến tôi bối rối, định hỏi nhà mà cũng thấy ngại nên thôi. Tôi rời Đài, ra phố chơi ghé vào các hiệu sách, sạp báo, quán cà phê, tiệm bi da, và có lúc nghĩ tới nàng, có lúc không. Ngày mai, chủ nhật tôi phải trở lên Pleiku để sáng thứ hai đi làm, thoáng nghĩ vậy, ḷng tôi không mấy vui. Chiều xuống dần, tôi c̣n lang thang trên các khu phố đi t́m h́nh bóng của nàng, và trong mộng tưởng luôn hiện ra một khuôn mặt, một mái tóc của nàng cùng âm thanh của tiếng nói. Lúc ấy, đi ngang qua một góc phố t́nh cờ thấy trước hiên nhà có mấy cô gái đang chuyện tṛ với nhau, bất ngờ tôi dừng bước, hỏi thăm các cô này về cô Nguyệt. Thật lạ lùng, nhà cô Nguyệt chỉ ở cách khu phố này chừng vài trăm mét. Và, cô gái lớn nhất chỉ đường cho tôi, căn nhà đầu tiên góc ngă ba, đường Vơ Tánh. Tôi nói lời cám ơn, xong vội đi ngay. Tới nhà, cửa đóng, khi có người ra mở cửa để đón khách, tôi dè dặt hỏi, th́ nàng chính là cô Nguyệt. Tôi rất vui, lên tiếng chào vừa tự giới thiệu về ḿnh và nơi làm việc của ḿnh. Cô mời tôi vào nhà, hai người ngồi ở pḥng khách, và tuy rằng khuôn mặt và mái tóc không như tôi h́nh dung, nhưng vẫn là giọng nói ấy rất thân t́nh, rất đẹp qua ḍng âm thanh.

Ngày hôm sau, tôi trở lên Pleiku. Tối hôm đó, tôi có phiên trực, và bất ngờ khoảng 8 giờ lúc bắt máy điện thoại, người gọi cho tôi là cô Nguyệt. Từ lần gặp đầu tiên ở thành phố này, hai chúng tôi quen biết nhau, và trở nên thân nhau. Tôi, th́ chỉ có một việc làm thôi, nhưng cô Nguyệt không chỉ nhân viên của đài, mà c̣n là cô giáo dạy học ở ngôi trường quận Tuy Phước, xa Quy Nhơn gần 15 cây số. Cô dạy giờ hai môn Việt Văn và Sử địa. Cách đây sáu tháng, cô được vào ngạch, có tin vui, cô liền báo cho tôi biết để chúc mừng.

V́ lúc này không có chi vội, nên gặp nhau, hai chúng tôi chuyện tṛ khá lâu mới chia tay. Về nhà, tôi lấy túi xách sắp xếp mấy bộ quần áo và ít gói quà Tết mang về cho gia đ́nh. Ngày hôm sau, lúc 10.30 sáng, chiếc phi cơ DC6 cất cánh rời phi trường Quy Nhơn. Khi phi cơ bay qua vùng biển Lăng Cô nh́n xuống đèo Hải Vân, tôi bỗng nhớ mùa hè năm 1972, người dân Quảng Trị quê tôi chạy tị nạn băng qua con đèo này trở về quê nhà cũ của ḿnh, ngày đó, tôi có mặt trên đèo nhân một chuyến đi công tác, và nh́n những người dân quê của ḿnh trở về tôi chạnh nhớ mấy câu trong bài hát Về miền Trung của nhạc sĩ Phạm Duy:

Một chiều nao lửa rực cháy đô thành

Tay trong tay chúng ta dắt nhau về quê hương cũ.

Phi cơ hạ cánh xuống phi trường Phú Bài đúng 12 giờ trưa. Có xe ca chở hành khách từ Phú Bài về Huế, nhưng tôi không đến bến chính, mà lúc xe dừng gần khu Morin bên cầu Trường Tiền, tôi xuống, từ nơi này đón xe buưt lên Long Thọ.

Khi thấy tôi xuất hiện trên thềm cửa, Nga rất mừng vui, và đưa cháu gái mới sinh được tuần lễ cho tôi bồng. Tên cháu, tôi đặt là An. Nh́n vợ, rồi nh́n con, tôi có chút bỡ ngỡ rụt rè, cũng thật rất là giống với anh chàng Tân trong truyện ngắn Đứa con đầu ḷng của nhà văn Thạch Lam.

Khi tôi về thăm nhà, th́ Tết nguyên Đán cũng đă qua mười ngày, nhưng không khí Tết vẫn c̣n, nhất là những hạt mưa xuân vào mỗi buổi sáng c̣n tươi hồng trong màu ánh nắng. Hạnh phúc tôi, một người con trai ngày nào đó nay đă tới tuổi trưởng thành. Trong những ngày ở Huế vợ chồng tôi ngoài niềm vui với không khí gia đ́nh hai bên nội ngoại, hầu như chúng tôi dành hạnh phúc cho nhau và đứa con gái đầu ḷng. Về Huế, tôi cũng rất thích ăn những thứ quà vặt buổi chiều như bánh ram, bánh nậm, bánh ít, bánh bột lọc gói và quai vạc. Tôi ăn nhiều, nên có vẻ mập ra nữa.

Nhưng rồi, hai tuần nghỉ phép của tôi đành rút ngắn lại. Tối khuya 10/3/75 thị xă Ban Mê Thuột bị Cộng quân tấn công. Sáng hôm sau, đài BBC loan tin sớm lúc 6 giờ sáng. Và, không chậm trễ sau đó đến các đài Sài G̣n, đài địa phương. Hay biết như vậy, tôi liền theo người anh của tôi làm việc ở đơn vị Trung đoàn 54 mượn điện thoại viễn liên gọi anh Kim Tuấn ở pḥng báo chí Pleiku. Khi nghe tôi gọi, Kim Tuấn hỏi tôi đang ở đâu, tôi cho anh biết là đang nghỉ phép. Với một giọng lo âu, Kim Tuấn nói t́nh h́nh có vẻ nghiêm trọng hơn trước đây. Sau đó, tôi cũng liên lạc được với Quy Nhơn, đơn vị của ḿnh. Khi gặp vị Đại úy Trưởng ban, anh Đức cho biết t́nh h́nh, xong hỏi tôi có thể rút ngắn ngày nghỉ phép được không. Tôi đáp lời ngay, là ngày mai tôi sẽ trở lại Quy Nhơn.

Không ai ngờ được Ban Mê Thuột thất thủ, và tỉnh Pleiku cũng bị đe dọa. Sau hiệp định Paris kư kết 27-1-1973, thời gian yên b́nh chỉ qua được hơn một năm, giờ cuộc chiến bùng phát trở lại. Khi tôi có mặt ở đơn vị, vị Đại úy đi họp ở Tiểu Khu chưa về. Nhưng không đợi lâu, gần trưa ông về tới. Ngay lúc đó, trong ban có ngay cuộc họp. Với vẻ mặt lo âu, vị Đại úy nói:

-T́nh h́nh xấu, rất xấu. Ngay lúc này, anh em trong ban chuẩn bị sẵn sàng nếu có lệnh di tản của Tiểu khu. Tốt hơn hết là ai có gia đ́nh nên lo trước, ở đây có chuyện gấp rút chúng ta cần phải đi ngay. Về công việc trong ban, tất cả các đề mục khác tạm thời ngưng, cần thiết cho từng ngày là tin chiến sự. Và hăy nhớ, những bản tin cần đến sự cổ vũ, lạc quan cho chiến sĩ lên tinh thần. Khi vị Đại úy ngừng lời, tôi hỏi:

-Có thường trực luôn đây không Đại úy.

-Có lẽ, nhưng chờ t́nh h́nh xem.

Tới giờ nghỉ trưa, Đại úy Đức và tôi ăn cơm ở Câu lạc bộ. Trong bữa ăn có lúc chúng tôi im lặng, lo lắng, nhưng không quá suy nhược tinh thần.

-Anh Đức nghĩ t́nh h́nh có khá trở lại không ?

-Khó khăn lắm.

-Em nghĩ, thế nào quân dù cũng trở lên Ban Mê Thuột để giải tỏa.

Anh Đức nói:

-Trận chiến lúc này không giống như mùa hè 72.

Rồi sau ít giây cân nhắc, vị Đại úy của tôi nói:

-Đang có kế hoạch rút bỏ cả vùng cao nguyên.

-Bỏ cao nguyên, duyên hải c̣n nguy hiểm nữa.

-Không, rút cao nguyên để có lực lượng bảo vệ vùng duyên hải.

Tôi nh́n sang vị Đại úy, cố ḍ xét ư tưởng mà chắc ông cũng muốn giăi bày:

-Thế nào Hà Nội cũng tung đại quân vào miền Nam để đánh một trận lớn, một mất, một c̣n. Hiệp định Paris được kư là đ̣n phép để họ dưỡng quân và tập trung quân. Ở ḿnh trong này, ai cũng hiểu rơ t́nh thế, vậy mà chính phủ không có một kế hoạch bảo vệ lănh thổ. Vào lúc mới kư hiệp định ḿnh cố mở ra các chiến dịch cắm cờ, giành đất làm chi, có giữ nổi đâu mà làm. Ngay lúc đó, rất cần một giải pháp với thành phần thứ ba, ḿnh đă không thực hiện, trong quân đội lại c̣n cho giải ngũ để tiết kiệm ngân sách, mất đi biết bao quân số. T́nh h́nh rơ như vậy, chính quyền làm ngơ, và c̣n thêm cái họa chia rẽ của các đảng phái, tôn giáo, cái họa gây ồn, gây rối của mấy ông mấy bà bên nhà báo, và bây giờ trước mắt biến cố Ban Mê Thuột là một dấu hiệu tàn lụi cho chế độ không riêng ǵ với cao nguyên và cả miền Nam.

Những ngày làm việc tiếp theo của chúng tôi trở nên nặng nề, bi quan.

Một tuần lễ sau, Nga rời Huế đem cháu nhỏ vào Quy Nhơn. Và, không ngờ được đó là chuyến bay cuối cùng ở phi trường Phú Bài. Huế thất thủ đă lọt vào tay Cộng quân rồi. Nga đến Quy Nhơn chỉ với con là b́nh yên c̣n hành lư bị bỏ lại ở kho của phi trường Phú Bài không mang theo được. Nhưng sau hai ngày đêm ở Quy Nhơn, Nga, cháu nhỏ , và gia đ́nh em gái tôi cùng đi một chuyến bay vào Sài G̣n, may là có nhà của ba mẹ tôi ở Thị Nghè.

Những tin tức từ Đài BBC một phần nào đă gây bất lợi cho chính phủ và quân đội miền Nam. Buổi sáng, buổi tối tin trong ngày luôn gây hỗn loạn cho chính phủ, quân đội, và dân chúng miền Nam. Cộng quân tới đâu, tỉnh thị xă đó bỏ ngỏ.

28-3-1975, Đà Nẵng thất thủ. Buổi sáng vừa rời nhà đi trên vỉa hè của khu phố chính t́nh cờ tôi gặp anh T. làm việc bên Ty thuế vụ. Vừa dừng bước, anh đă cho tôi hay tin về thành phố Đà Nẵng. Tôi hỏi nguồn tin, anh cho biết đài BBC mới loan lúc 6 giờ sáng. Trong yên lặng, tôi và người bạn cùng cảm thấy hụt hẫng, bàng hoàng. Một giọng bi quan, anh T. nói:

-T́nh h́nh này, Quy nhơn cũng ít ngày nữa thôi.

Tôi không giăi bày, hoặc suy tính ǵ khác hơn là điều anh T. vừa mới nghĩ. Lúc này, tôi lo lắng cho anh chị tôi ở ngoài đó, không biết có di tản được không. Nếu không, đời binh nghiệp của anh và các chiến hữu cùng đơn vị Sư đoàn 3 chấm dứt. Những ngày qua, thành phố Đà Nẵng rất hỗn loạn, nạn cướp bóc, hôi của không chỉ ngoài dân thường mà c̣n cả những lớp lính tráng lợi dụng t́nh h́nh đen tối để gây ra thêm t́nh trạng báo động. TQLC là một đơn vị thiện chiến, nhưng có không ít những người lính trong đơn vị này rất kiêu binh, ngược ngạo, uy hiếp dân thường. Súng nổ, lính bộ binh, lính tiểu khu đụng độ với lính TQLC.
Trao đổi chuyện không lâu, anh T. và tôi chia tay.Thành phố Quy Nhơn không lớn lắm, chỉ có vài con phố chính, c̣n lại, những con đường khác đều nhỏ và ít được tráng nhựa. Cũng như ở Nha Trang, Quy Nhơn có đường ven biển, đường rộng, có cây cối, và gió biển thổi mát trong mùa hè. Những ngày qua, dân trong thành phố cũng theo dơi sít sao tin chiến sự, các nhà giàu, khá giả đă đưa gia đ́nh vào trước Sài G̣n để lánh nạn bằng những chuyến phi cơ dân sự của hăng hàng không Việt Nam. Có người vẫn yên tâm, v́ tỉnh B́nh Định tương đối rộng lớn, có Sư đoàn 22, có căn cứ Không quân Phù Cát và cả đơn vị địa phương quân của Tiểu khu với quân số bằng cả một sư đoàn.

Tôi ghé quán cà phê gọi một ly và ngồi uống một ḿnh ở mái hiên ngoài. Trong quán, khá đông khách và tôi nghe họ đang bàn chuyện về t́nh h́nh đất nước. Có một người nhận định rằng Đà Nẵng là khúc ruột miền Trung, thành phố này mất giống như là chiếc cầu bị địch quân đánh sập. Tôi uống chậm từng hớp cà phê , mường tượng nhớ thành phố Đà Nẵng hiển hiện trước mắt, và nghĩ đến cảnh tượng di tản vô vọng của những con tàu hải quân đậu ngoài băi biển Tiên Sa. Ngồi không lâu, tôi rời quán đi đến sở làm.

Vừa đến nơi, tôi gặp vị Đại úy trưởng ban cùng đủ mặt anh em quân và dân chính trong ban. Không cân nhắc, tôi nói:

-Đà Nẵng mất rồi anh Đức.

-Anh biết từ lúc sáng.

-Thực là may cho chị và các cháu.

-Anh cũng đă dự đoán trước t́nh h́nh.

Chị Thào và ba cháu đă vào tới Phan Rang cách đây ba ngày.

Không cân nhắc, tôi nói ngay về t́nh h́nh ngoài Đà Nẵng và cùng lúc đề nghị nên di tản vào Quân đoàn ở Nha Trang nội trong ngày hôm nay hoặc ngày mai. Vị Đại úy gật đầu nhẹ, rồi cùng tôi đưa ra vài nhận định về t́nh h́nh chiến cuộc. Tôi nói, sự việc bỏ cao nguyên, hay mất hai tỉnh Huế, Quảng Trị, c̣n hy vọng quân đội tái chiếm được, c̣n như đă mất Đà Nẵng rồi, th́ đành bó tay. Có thể đợi đến ngày mai, nhưng rồi, chỉ hai giờ sau, cả ban chúng tôi có buổi họp khẩn, liền thống nhất ư kiến là phải đi ngay nội trong ngày hôm nay. Tôi mượn xe Jeep của ban về nhà lấy cái túi xách đựng quần áo và các vật dụng. Rời nhà, tôi không trở lại chỗ làm ngay mà chạy một ṿng phố quan sát t́nh h́nh th́ đă thấy không khí trong thị xă rất là ngột ngạt, căng thẳng, từng đám đông đứng trước nhà bàn tán chuyện đi hay ở.

Về lại Đài, chúng tôi hối hả lên đường ngay. Và, cũng như tâm trạng của tôi, anh em trong ban muốn trước khi rời Quy Nhơn đi hết một ṿng thành phố để quan sát và cũng là dịp nói lời chào từ giă. Quả thực, giờ khắc chúng tôi quyết định đi, cũng đúng vào lúc dân chúng trong thị xă chuẩn bị di tản. Trên mọi con đường, mọi nhà ở, nhà nào cũng sẵn sàng chuyển hành lư lên xe. Ở các địa điểm phi trường và ngoài bến tàu đông nghẹt người chen chúc. Xe chúng tôi sau khi đi hết các phố chính ra biển, và dọc con đường này, từng đoàn người ùn ùn kéo nhau tới bến cảng nhưng xem ra vô vọng v́ không thấy bóng con tàu nào ngoài khơi hay đang cập ở bến.

Có lúc tôi im lặng nghĩ nhiều đến anh tôi, và cùng với anh là số phận của những người lính VNCH sẽ ra sao dưới chế độ nghiệt ngă của người CS.

Từ thị xă đi ra để gặp ngă ba quốc lộ chính khoảng mười cây số. Trên đường di tản, đủ các loại xe hàng, xe tải, xe lambretta, xe gắn máy, xe đạp và cả người đi bộ kéo nhau đi, ai cũng vội vàng, gấp rút, vừa hốt hoảng lo sợ.

Tôi chợt hỏi vị Đại Úy:

-Nếu không vào được Nha Trang, ḿnh có định đi tiếp không ?

-Cứ đi tiếp. Không vào được Nha Trang, chúng ta ghé Cam Ranh.

Cù Mông là con đèo nối liền hai thị xă Qui Nhơn và Tuy Ḥa. Khi chúng tôi lên tới lưng đèo th́ đường bị kẹt. Trong khoảnh khắc từ trên đèo nh́n xuống các làng mạc tôi nhận ra cảnh trí rất là đẹp và yên b́nh. Những thửa ruộng lúa xanh, những mái nhà có những hàng cây, những thân dừa và h́nh ảnh các ngôi làng xa gần dưới chân núi với những đám khói bay lơ lửng trông rất thanh b́nh.

Xe chúng tôi bị kẹt trên đèo Cù Mông gần hai tiếng đồng hồ mới tiếp tục được cuộc hành tŕnh. Buổi chiều xuống trong dáng vẻ thờ ơ, ảm đạm. Khi tới địa phận tỉnh Khánh Ḥa , tất cả đoàn người và xe trên liên tỉnh lộ đều bị kẹt cứng không thể vào được thành phố Nha Trang v́ bị phong tỏa . Ngay đó, khi lối đường được mở rộng, xe chúng tôi đi tiếp vào Cam Ranh, sau cùng, cũng phải rời khỏi đây, và vào tới thị xă Phan Rang lúc đă gần nửa đêm.

Ở Phan Rang, thành tŕ cuối cùng của miền Trung hiện đang có căn cứ Không quân và nhiều lực lượng bộ binh của quân lực VNCH trấn giữ. Mới đêm qua, chúng tôi hy vọng được ở nơi này lâu và chờ liên lạc với Quân đoàn. Nhưng rồi, qua hôm sau, tin tức cho biết thành phố Nha Trang đă bỏ ngỏ. Bộ Tư lệnh Quân đoàn II, Bộ chỉ huy Tiểu khu Khánh Ḥa đều rút, và dân chúng cũng ra đi. Hay tin này, chúng tôi liền bỏ Phan Rang, t́m đường xa hơn vào các tỉnh phía Nam. Thật may mắn, chúng tôi cùng nhau đi nhờ được chuyến trực thăng về Sài G̣n của hai phi công có quen biết với gia đ́nh vị Đại úy trưởng ban.

Sự thoát nạn, sống sót của tôi thực vô cùng cảm xúc khi tôi được về tới Sài G̣n. Sau một lúc bày tỏ nỗi mừng vui được thoát nạn, và nói lời cám ơn với phi hành đoàn của chuyến bay di tản, chúng tôi chia tay và hẹn gặp lại vào ngày tŕnh diện ở đơn vị Tổng cục chiến tranh chính trị.

Khi thấy tôi xuất hiện, cả nhà hết sức vui mừng. Nhưng ngay sau đó, lại cảm thấy lo lắng v́ không hay biết được tin anh tôi. Tôi trấn an với ba tôi, nói rằng, tàu hải quân từ Đà Nẵng đi Sài G̣n cũng lâu, không nhanh được.

Bây giờ đây trở lại Sài G̣n, thành phố tôi sống qua một thời trẻ tuổi lăn lộn với nhiều công việc nhưng rất vui, đă không c̣n tạo cho tôi những cảm giác đó nữa. Ngay như sự trở lại của tôi lần này, cũng không có niềm vui như trước đây thỉnh thoảng có được một kỳ nghỉ phép thường niên. Và, cũng trong lần này, tôi nghĩ rằng, không như mùa hè năm 1972, những căn cứ, những tỉnh bị Công quân chiếm đóng quân lực VNCH vẫn có thể tái chiếm lại, sự việc này hiện tại gần như bất khả thi. Sự kiện cả miền Trung rơi vào tay CS, do một phần tinh thần quân đội đă sa sút, một phần dân chúng luôn hoảng loạn trước những tin đồn rất thất thiệt.

Nguyên nhân dẫn đến hai sự việc này xuất phát từ Hiệp định Paris. Năm 1972, VNCH ở trong cái thế thắng, nhưng khi hiệp xong hiệp định Paris lại bị đồng minh Mỹ đẩy vào cái thế thua. Một yếu tố nữa, do Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ quá lớn, nên chi, Tổng Thống VNCH buộc phải cắt giảm quân sự cho giải ngũ gần đến 1/3 lực lượng trong quân đội.

Chỉ một hai ngày nghỉ nhà cho bớt o âu, căng thẳng, tôi cũng như anh em quân nhân từ miền Trung vào tới đây tŕnh diện đơn vị chính gốc của ḿnh. Mỗi ngày, chỉ tập họp trong buổi sáng, sau đó cho tan hàng.

Những quân nhân lạc ngũ từ các đơn vị ngoài miền Trung về ngày càng đông, nhưng ở Sài G̣n vẫn không có dấu hiệu giao động. Tin tức trên các tờ nhật báo ở thủ đô về một cuộc chiến đang c̣n diễn ra không có ǵ đáng đọc nữa, v́ hết thảy các tỉnh, các đơn vị ngoài đó đă rút đi, và thảm kịch hăi hùng nhất là các đơn vị thuộc quân đoàn I, gồm cả ba sư đoàn I, II, và III. Sự tổn thất c̣n lớn hơn nữa, là ngoài miền Trung các đơn vị trú đóng là thành phần ṇng cốt nhất của quân lực VNCH, trong đó, đơn vị trừ bị TQLC cũng đang vừa chiến đấu, vừa rút quân.

Tôi chưa lĩnh được đồng lương nào nên phải xin tiền nhà chi tiêu vặt Buổi sáng, khoảng mười giờ chúng tôi được tan hàng, ngày hôm sau vẫn trở lại với lệnh chờ. Không về nhà, tôi đón xe buưt xuống phố và ngừng ở bến chính trước khu chợ Bến Thành. Tôi đi lang thang không mục đích, điều chỉ mong là gặp bạn quen, hay các anh em quân nhân thuộc đơn vị Sư đoàn 3 của anh tôi để hỏi tin tức.

Quán cà phê Mai Hương luôn đông khách. Ngồi ở đây nh́n cảnh sinh hoạt chính yếu của Sài G̣n để ghi nhận và bày tỏ cảm nghĩ của những người từ nơi xa trở về. Và lúc này đây, cho dù đường phố quanh đây vẫn đông vui tấp nập, các cô gái dạo chơi vẫn giữ những dáng vẻ hồn nhiên, tươi vui, và vẫn rất đông người đi mua sắm, nhưng không khí chiến tranh đang có dấu hiệu đe dọa mỗi lúc đang tiến tới thật gần. Long Khánh cách xa Sài G̣n gần 100 cây số, mặt trận ở đó là mặt trận cuối cùng, nếu như Long Khánh thất thủ, coi như địch quân sẽ tiến rất nhanh về Sài G̣n. Vào mỗi tối tôi chịu khó nghe tin tức các đài ngoại quốc, những tin tức các đài này hầu hết thiên về kẻ đang thắng thế và luôn luôn loan những bản tin báo trước những sự việc đă rồi, dù chưa xảy ra hay nói tới. C̣n lúc ngày bắt đầu, ngồi ở quán cà phê tôi đă bắt đầu đọc báo theo dơi tin tức. Và lúc này, hầu hết các báo đều b́nh luận và loan tin về các nhân vật chính trị như Đại tường Dương văn Minh, Trung tướng Trần văn Đôn, Thiếu tướng Không quân Nguyễn cao Kỳ, và các linh mục, các thượng tọa với những phát biểu thăm ḍ về t́nh h́nh hiện tại ở Việt Nam. Tin chiến sự chỉ c̣n nói tới mặt trận Long Khánh với các đơn vị dù, bộ binh, chủ lực sư đoàn 18 đang chiến đấu, cùng với sự yểm trợ rất hùng hậu của các phi cơ chiến đấu thuộc hai sư đoàn Không quân đóng ở căn cứ Tân Sơn Nhất và Biên Ḥa. Những tin tức ngoài các tỉnh miền Trung đă trở nên vô vọng, và các tin này, có được biết cũng chỉ nhờ vào phóng viên của các hăng thông tấn UPI, AP, AFP , Reuter, hoặc qua các đài VOA, BBC v́ rằng phóng viên ngoại quốc hoạt động ở các vùng Cộng quân đang kiểm soát họ luôn dễ dàng, tự do khi viết bài, chụp ảnh và loan tin.

Bây giờ đây, đang có mặt ở thủ đô Sài G̣n nhưng tôi nh́n thành phố với bao nhiêu cảnh sinh hoạt đang diễn ra như một kẻ vô hồn. Các rạp hát lớn trong thành phố vẫn chiếu những cuốn phim mới và hay để phục vụ khán giả, nhưng dường như, ở nơi đâu cũng thấy sự vội vàng và tưởng như mong một ngày cứ kéo dài, mặt trời chưa vội lặn, v́ đêm xuống trên bầu trời luôn rực sáng những trái đạn hỏa châu từ các vùng ven đô bắn lên, hay phải rùng ḿnh nghe sự rung chuyển từ tiếng súng đạn pháo xa gần vọng tới, đó là lúc, đêm bao trùm nỗi sợ hăi. Và, cứ lúc đêm xuống, sau bữa ăn cho qua bữa, gia đ́nh nào cũng tụ tập, vừa kín đáo trong tiếng chuyện tṛ nhỏ to bàn bạc về chuyện nên ở lại hay là phải ra đi. Về Tổng Thống Thiệu, trong tháng tư này, ông ta trở nên ù ĺ, và bất lực. Ngày một, ngày hai người dân hối hả kêu gọi ông từ chức để miền Nam có một chính phủ mới hy vọng t́m ra giải pháp thương thuyết với địch quân trong cái tương quan làm sao giữ lại được thành phố Sài G̣n và phần đất c̣n lại ở miền Tây đừng mất, đồng thời mong thảm họa tắm máu của người CS đối với nhân dân miền Nam đừng xảy ra. Nhưng ông Thiệu vẫn không chịu từ chức. Người ta cho rằng, ông giữ lại chiếc ghế v́ c̣n tin vào bổn mạng, v́ c̣n giữ được chiếc ch́a khóa là những lá thư của Tổng Thống Hoa Kỳ Nixon gởi cho ông với những lời cam kết là không bỏ rơi miền Nam Việt Nam. Nhưng ông Thiệu quên mất rằng, Tổng Thống Nixon đă từ nhiệm v́ vụ nghe lén Watergate.

Rồi một buổi sáng đó, t́nh cờ tôi gặp anh Nguyễn Mộng Giác. Đối với anh Giác tôi vừa là lứa học tṛ đầu tiên, vừa được coi như là người em. Lúc c̣n ở Quy Nhơn, anh làm Hiệu trưởng, rồi Chánh sở học chánh. Gặp nhau, anh em hết sức mừng vui, và anh bắt tôi kể lại chặng đường di tản từ Quy nhơn về đến Sài G̣n. Vừa muốn tôi kể, anh cũng muốn tôi viết một bài kư về chuyến đi này để đăng báo Bách Khoa. Hai người mới gặp nhau trên phố chính, lúc ấy, tôi lang thang qua mấy dăy sạp hàng bán sách cũ dọc phố Lê Lợi t́m mua mấy cuốn sách dịch đọc cho đỡ buồn chán qua ngày. Ngay đó, chúng tôi băng qua đường vào quán cà phê Mai Hương. Tên quán Mai Hương trùng tên với nữ ca sĩ Mai Hương, cháu gọi Thái Thanh bằng cô. Tôi thích giọng hát Mai Hương, và bản Hướng Về Hà Nội của nhạc sĩ Hoàng Dương là bản cô hát nghe rất hay và vô cùng xúc động, tưởng như trong mỗi câu hát cô hát, là mỗi lần đưa bàn tay ra níu lại từng cánh cửa, từng ngôi nhà của Hà Nội, để Hà Nội đừng mất đi, hay rất có thể nghe qua tiếng cô hát Hà Nội được mang đi theo bên ḿnh cô, bên ḿnh những người Hà Nội vào đến tận Sài G̣n.

Sau một hơi thuốc, một ngụm cà phê, anh Giác nói:

-T́nh h́nh nguy ngập rồi.

-Anh nghĩ sao, dự định thế nào ?

Nh́n tôi qua cặp kính trắng, trông anh sa sút lạ lùng. Tôi lên tiếng:

-Lúc này, ông Thiệu nên sớm từ chức, rồi có muốn trốn bỏ trách nhiệm ra nước ngoài không sao cả. Không hiểu sao, trong tháng ba ông bỏ cao nguyên, cũng không hiểu sao, đến lúc này ông c̣n tin vào người Mỹ, tin vào ông Nixon đă về vườn. Người dân Mỹ, cả các đại biểu quốc hội Mỹ, không mấy ai ưa thích quân đội của họ phục vụ cho miền Nam VN cả. Và nói đến truyền thông Mỹ cũng như truyền thông các nước khác, đúng hơn là chúng ta nên coi họ như thuộc về đối nghịch , v́ rằng, chỉ có Cộng quân với dép râu, nón tai bèo, súng AK lội rừng, lội suối vượt Trường Sơn đó mới là h́nh ảnh hào hùng, nhân bản của chiến tranh. C̣n ở miền Nam, các phóng viên thích chụp ảnh xác chết của người dân, người lính, hơn là nh́n ra được đúng sức chiến đấu tận lực, trung thành với đất nước của những người lính VNCH trong sứ mạng bảo vệ phần đất hiếm hoi của miền Nam. Bất ngờ, nghe một giọng nhẹ nhàng, vừa thản nhiên, anh Giác nói với tôi:

-Ông Thiệu sắp sửa từ chức.

Tôi có cảm giác bừng tỉnh, ḷng vui lên, hy vọng và tin tưởng vào điều anh Giác vừa nói. Và, lúc đó, cho dù chỉ là tin đồn, hay anh Giác có được nguồn tin này lấy từ ở đâu, tôi vẫn có ư nghĩ rằng, vậy là miền Nam sẽ b́nh yên, Sài G̣n sẽ được sống sót,

Người bạn lớn của tôi, anh Giác là một nhà văn đă xuất bản nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong đó có tác phẩm đoạt giải thưởng văn học của Trung tâm văn bút. Nh́n ánh mắt người bạn lúc này gặp lại, tôi kỳ vọng nơi anh một tác phẩm lớn về cuộc chiến hai miền Nam Bắc khi đến ngày kết liễu.

Cứ vậy, mỗi ngày của tháng tư trôi qua nặng nề, nó cũng phiền muộn, đau thương như mối t́nh của chàng nhạc sĩ trong bản Sombre dimanche. Tin tức mỗi ngày ch́m ch́m, nổi nổi. Giá sinh hoạt tăng, giá vàng, giá ngoại tệ cũng tăng. Cuối cùng, mặt trận Long Khánh tan vỡ.

Ngày 21 tháng 4, lúc 8 giờ đêm cả thành phố nghiêm nhặt trong t́nh trạng giới nghiêm và mọi người trong nhà dán mắt vào chiếc máy truyền h́nh xem trực tiếp bài diễn văn từ chức của Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Bằng một giọng cay đắng, vừa hùng biện, việc trước tiên là vị nguyên thủ đưa ra những lời thanh minh về những quyết định quan trọng của ông trong sự việc bỏ vùng chiến thuật trên cao nguyên để bảo vệ vùng đồng bằng, tiếp sau đó, là những lời lên án, buộc tội Tổng Thống Hoa Kỳ đă phản bội, bán đứng miền Nam cho Cộng Sản Hà Nội. Tối hôm ấy, một trận mưa đêm khủng khiếp trùm kín cả thành phố Sài G̣n.

Thế là ông Thiệu đă từ chức. Lời nói cuối cùng của ông trong bài diễn văn là một lời hứa sẽ ở lại, góp một tay súng cùng với quân dân miền Nam chống lại kẻ thù CS. Ngày hôm sau, t́nh h́nh chuyển biến rất nhanh. Sự chuyển biến này không phải mọi người chờ đợi ǵ ở chính phủ mới do ông Phó Tổng Thống Trần văn Hương lănh đạo, hay rồi sẽ được trao quyền lại cho Đại Tướng Dương Văn Minh và giáo sư Vũ Văn Mẫu, mà nỗi băn khoăn chung là Sài G̣n sắp sụp đổ. T́nh h́nh không có dấu hiệu lạc quan. Giá gạo, giá thực phẩm, giá vàng, giá ngoại tệ lại tăng vọt. Các ngân hàng nghẹt kín người từng hàng, từng lớp chen lấn chỗ đứng chờ rút tiền. Các gia đ́nh công chức cao cấp, những gia đ́nh có người làm việc cho các cơ quan hay hăng thầu của Mỹ, gia đ́nh nào cũng chuẩn bị đi, không muốn ở lại. Có hai quốc gia liên hệ trực tiếp với người xin di tản là Hoa Kỳ và Pháp. Hoa Kỳ vẫn luôn ưu tiên cho thành phần người Việt làm việc và đă trung thành với họ, c̣n Pháp, những người Việt có quốc tịch của quốc gia này ngày trước khi Pháp c̣n bảo hộ. Những chuyến bay dân sự cất cánh rời Tân Sơn Nhất tưởng như muốn đi luôn, không trở lại nữa. Mùa mưa cũng đang tới, buổi chiều những trận mưa kéo dài không dứt. Không khí Sài G̣n trở nên nặng nề ngày nhốn nháo, tán loạn, về đêm, tiếng súng pháo kích bắt đầu nă vào Sài G̣n. Trong đêm, nhiều trận hỏa hoạn, lửa cháy cao ngùn ngụt. Trong đêm, có những con phố vắng đến rợn người. Và cũng trong những đêm như thế, du kích, hoạt động nội thành cho CS tổ chức bí mật cơ hội cướp chính quyền.

Cuối cùng, ngày 28 tháng 4, chính phủ của Đại tướng Dương Văn Minh và giáo sư Vũ văn Mẫu ra mắt. Nhưng không c̣n có ǵ để hy vọng nữa. Thời gian của một cuộc chiến đă tới ngày lụi tàn. Sự báo trước ngày hủy diệt Sài G̣n được gióng lên bằng một trăm ngàn quả đạn pháo của địch quan sẽ đồng loạt nổ cùng một lúc.

T́nh thế thực sự đă quá nguy ngập. Tiếng súng nổ khắp nơi. Phi trường, bến cảng bị pháo kích, kho đạn Long B́nh và các kho xăng bốc cháy. Tại ṭa Đại sứ Mỹ người ta chen lấn để vào được bên trong sân ngồi đợi chờ di tản. Đại sứ Graham Taylor c̣n ở đó để cho người di tản c̣n chút hy vọng cuối cùng. Người Mỹ cũng bắt đầu di tản những quân lính c̣n lại của họ. Khi họ rút đi, một số thân nhân của họ cũng được mang theo. Từ ngoài vùng biển cách xa Sài G̣n chừng ba mươi dặm, các tàu Hải quân Hoa Kỳ đang neo đậu. Những chuyến bay trực thăng liên tục đi về giữa hạm đội và ṭa đại sứ. Những phi công của Mỹ làm việc bằng cả tấm ḷng nhân ái của họ. Ở phi trường Tân Sơn Nhất , trong giờ phút nguy kịch, vẫn c̣n có những phi công VNCH chiến đấu rất anh dũng thực hiện nhiều đợt oanh kích tấn công vào các mục tiêu trọng pháo, các vị trí đóng quân của địch đang bao vây thủ đô Sài G̣n. Hai ngày 28, 29, dân chúng Sài G̣n đổ xô xuống bến cảng Sài G̣n trong một hy vọng cuối cùng là được rời khỏi đất nước. Ngày và đêm, lũ lượt họ kéo nhau đi. Họ đi, chỉ biết ra đi, tới nơi nào cũng chưa thể biết, nhưng đi là thoát khỏi nanh vuốt của người CS. Vào lúc đó, sự ra đi bất ngờ và vô định, không một ai có thể nghĩ được rằng, đó là một cuộc phiêu lưu không phải để chọn cái chết mà mong t́m ra một quê hương mới. Những con tàu âm thầm lần lượt rời bến cảng. Những chiếc phi cơ vội vă cất cánh bay lên bầu trời u ám. Đó là h́nh ảnh cuối cùng, vĩnh biệt Sài G̣n .

Anh chị tôi và đứa con trai nhỏ đă bị kẹt lại ở Đà Nẵng, không t́m được đường di tản khi thành phố bị Cộng quân chiếm đóng. Ngày 30/4/75 lúc 11 giờ sáng, Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng để tránh một cuộc đổ máu vô ích.

Ít ngày sau đó, tôi đi tŕnh diện và nhận giấy tờ ghi lệnh tập trung cải tạo cấp úy là ngày 28/6/1975. Trong thời gian chờ đợi, cả gia đ́nh tôi mưu sinh bằng cách mở một sạp hàng trên vỉa hè đường Tôn Thọ Tường buôn bán quần áo, giày dép, thức ăn đóng hộp, những thứ hàng này mua ở Chợ Lớn. Anh em chúng tôi thay phiên nhau, mỗi gia đ́nh nhận một ca cho sáng sớm, trưa chiếu tối, trong ngày. Tôi vừa lo cho sạp hàng, vừa đi bán dạo quần áo mai ô cho bộ đội ở các địa điểm tập trung như sở thú, ngoài bến xe, trung tâm giải trí. Ngày nào, tôi cũng để dành chút ít tiền mua sữa cho cháu nhỏ. Nga thăm ḍ tin tức, muốn trở ra Quy Nhơn dạy học, v́ giáo viên miền Nam cũ được lưu dung. Tôi cảm thấy phân vân, bất định. Nhưng rồi, Nga ở Sài G̣n chừng một tháng th́ ra Quy Nhơn, cháu An ở lại với tôi. Khi tôi chạy hàng kiếm sống, th́ cháu được gởi nhờ ông bà nội và cô chú coi sóc giùm.

Những ngày trong cuộc mưu sinh, lúc nào về ghé ngang qua nhà anh chị Giác tôi đều có ghé vào, và chiếc bàn tṛn ở mái hiên ngoài là nơi hai anh em vừa uống trà, vừa bàn chuyện thời thế. Những lúc đó, tôi và anh Giác cùng đem cuốn truyện Kiều ra bói. Anh Giác mở đầu hai câu:

Bó thân về với triều đ́nh

Hàng thần lơ láo phận ḿnh ra đâu

Và ngay trong thời điểm này, Hà Nội đă cho gọi các công chức cao cấp, các Sĩ quan cấp tướng và cấp tá là thành phần trí thức, tinh hoa của miền Nam phải tŕnh diện sớm, không bỏ sót một ai. Sự kiện này làm tôi bỗng nhớ hai câu:

Về đây nước trước bẻ hoa

Vương tôn quư khách ắt là đua nhau.

Rồi ngày phải tŕnh diện đă tới. Buổi sáng ấy tôi đến thăm anh Giác, cùng uống uống cà phê với anh ở nhà, xong hai anh em chở sách từ những dăy kệ lấy bớt ra, chất lên xe đạp xuống chợ sách ở Sài G̣n, chạy mấy ṿng xe bán hết, có được tiền liền kéo nhau vào quán cà phê Mai Hương, vừa uống cà phê, vừa bói Kiều. Và, những câu nào t́m ra được tương ứng với sự kiện trong hoàn cảnh của miền Nam lúc bấy giờ, anh Giác và tôi cùng cười hết sức tâm đắc. Về nhà đă trưa, lúc tôi nói lời từ biệt, anh Giác nhét túi cho tôi 2000 tiền tiêu vặt. Lúc đó, vẫn c̣n xài tiền cũ của miền Nam chưa có lệnh đổi.

Vào lúc ra đi, tôi bồng cháu An trên tay, bỗng nhiên tôi thấy cháu vùng vẫy, giận dữ, hai tay đập mạnh vào mặt tôi làm tôi chảy nước mắt và quay mặt đi. Từ nhà ḿnh ở Thị Nghè, tôi đón xe buưt lên Trung Tâm Trần Hoàng Quân. Ở căn pḥng lớn này là giảng đường của trường Văn Khoa dành cho sinh viên lớp Dự Bị. Tối hôm đó, số sĩ quan cấp úy lên đến gần 2000 cùng một lượt lên xe Molotova rời Sài G̣n đi Tây Ninh, trên lộ tŕnh, xe nghỉ dọc đường nửa đêm, qua sáng hôm sau khoảng 9 giờ, đỗ xuống Trảng Lớn là trại học tập đầu tiên. Tôi ăn cái Tết trong tù ở trại này, qua tháng ba về Biên Ḥa, và ở Biên Ḥa đến tháng sáu năm 1977, th́ chuyển trại ra miền Bắc. Tới bến Cảng lúc mười giờ đêm, nhưng đến hai giờ sáng mới lên tàu thủy sông Hương. Tàu chỉ cất một tiếng c̣i ngắn rồi lặng lẽ rời bến Sài G̣n. Lênh đênh năm ngày, bốn đêm, cập bến Hải Pḥng lúc ba giờ chiều, nhưng chờ đến lúc mặt trời vừa lặn chúng tôi mới lên bờ. Được cấp phát cơm gói trong mo cau, nước uống, nghỉ ngơi đúng ba tiếng xong lên xe lửa rời Hải Pḥng lên vùng Tây Bắc. Tôi nh́n thấy một vài cảnh và nhà ở của Hải Pḥng, rồi Hải Dương, và khi tàu ngừng ở ga Gia Lâm, nh́n sang bên kia sông Hồng, tôi thấy Hà Nội với cả vùng đô thị đang c̣n sáng đèn.

Tàu lại cất tiếng c̣i khởi hành trong nỗi nhớ lạc loài, chơi vơi. Hết ga Đông Anh, tàu sẽ đến ga Phúc Yên. Và, khi tàu ngừng lại ở ga Thạch Lỗi bên cạnh có hồ nước tôi bỗng nhớ đến nhà ga này được nhà văn Khái Hưng chọn làm bối cảnh trong cuốn Nửa Chừng Xuân. Nơi nhà ga này, cô Mai xuống, đi bộ qua bến đ̣ Gió , khi cô về đến nhà th́ trời đă tối. Tôi vẫn ước mong một ngày nào đó được trở về, đến ga này, tôi sẽ xuống và t́m đến căn nhà đó của cụ Tú Lăm để t́m thăm cô Mai. Khi một nhân vật tiểu thuyết lại gợi cho ḿnh một ai đó ở ngoài đời, tôi không dám nghĩ đến t́nh yêu hay hẹn ḥ, mà nghĩ nhiều đến hạnh phúc của thời gian trong huyền nhiệm.

Mờ sáng, tàu đến ga Việt Tŕ. Nhà ga nằm bên cạnh cây cầu và nhà máy điện. Tàu lại rời ga, và trong chúng tôi không ai nghĩ đến ga nào là ga cuối của cuộc hành tŕnh. Tới đầu buổi chiều, tàu đến ga Yên Bái và đỗ chúng tôi xuống đây. Từ Yên Bái, chúng tôi vượt đường bộ qua một băi cát rộng là thượng nguồn của sông Hồng, sau đó lên xe Molotova đi đến trại Nghĩa Lộ. Hàng xe chở tù chạy trên những con đường đèo ngắn , khúc khuỷu, và trước khi đến trại qua hai cái phà lớn, sóng nước dâng lên cao v́ đang vào mùa lũ.

Trại Nghĩa Lộ nằm sâu trong một thung lũng bên cạnh một con suối lớn. Ở trại này, công việc lao động chính hàng ngày của chúng tôi đi đốn dang, tiêu chuẩn mỗi người 15 cây. Ngày chủ nhật đi lấy củi. Mỗi cuối tháng có một ngày đi tải gạo, địa điểm là hợp tác xă Ba Khe cách xa trại chừng 15 cây số. Lên đường từ sáng, ở lại trưa, chiều đem gạo về nhập kho. Có những buổi sáng đoàn tù dưới những cơn mưa nhỏ hạt, đi qua những thôn bản, những đồi trà và các nông trường, riêng tôi, mỗi lần trong chuyến đi như vậy cảm thấy có một nỗi nhớ về những kỷ niệm, những ngày tháng cũ xa khuất, với chút luyến tiếc hơi buồn, nhưng vẫn đẹp.

Không c̣n nữa là người lính, hay ở một đơn vị nào, nhưng trong tôi những người ban cũ, những đơn vị cũ vẫn c̣n thân thiết như xưa.

Sau ngày kết thúc cuộc chiến miền Nam, Hà Nội và Bắc Kinh bắt đầu có những rạn nứt. Giữa tháng tư năm 1979, cuộc chiến tranh Trung Quốc Việt Nam bùng nổ ở vùng biên giới Lạng Sơn, đến tháng sáu, chúng tôi được lệnh chuyển trại về vùng xuôi, đến trại Tân Lập thuộc tỉnh Vĩnh Phú. Về trại này, Công An quản lư, và ở đây chúng tôi không làm công việc đi rừng mà lo về sản xuất làm trà, trồng mía, trồng sắn, các thứ hoa màu, lúa nếp, và hơn hết là làm mật với số lượng mía mênh mông lên đến 20 héc ta.

Khi nằm ở trong trại tù, và di chuyển từ trại này đi trại khác, mỗi cuộc di chuyển tôi luôn nghĩ đến vợ con, gia đ́nh, đến những lá thư ḿnh mong được viết. Về gia đ́nh, thư Nga viết cho tôi thường luôn, mỗi quư nhận được gói quà 3 kư lô, và sau nhiều năm xa cách một ngày hè đó, Nga đi cùng với mẹ tôi ra thăm tôi. Tôi gặp lại mẹ tôi và Nga trong sự mừng tủi.

Những ngày ấy ở trong nhà tù, có lúc tôi nuôi hy vọng ngày về, có lúc không. Và, trong những ngày tháng vô vọng này, nhớ lại thời tuổi trẻ tôi có đôi chút cảm xúc làm được mấy bài thơ, rồi cũng theo phong trào học ngoại ngữ hai thứ tiếng Anh, Pháp, ngoài hai việc đó ra, tôi c̣n làm được một việc tương đối khích lệ cho riêng tôi và bằng hữu là chép lại trong tập vở nguyên bản cuốn truyện Kiều.

Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Kiều là một tác phẩm hiện sinh, v́ rằng nàng Kiều đă có một sự chọn lựa cho phận đời của ḿnh và chấp nhận sự chọn lựa đó. Khi có một bản truyện Kiều chép tay xong, tôi chuyền lại cho các bạn khác,

Năm 1979, cùng với cuộc chiến với Trung Quốc th́ cũng có tin đồn người Mỹ sẽ giải cứu các tù binh VNCH. Nhưng việc này, hai bên không thực hiện,

Và rồi, không ngờ được tôi đă rời khỏi trại giam như một giấc mơ. Vào một buổi sáng đó ở sân tập kết, cán bộ giáo dục đọc tên 20 người được tha về, trong đó có tên tôi.

Về lại với gia đ́nh, không thể nào tôi diễn tả được hết sự sống sót của ḿnh trong thế gian này. Nhưng rồi, những ảo tưởng, ước mơ, hy vọng, tuyệt vọng dần tan biến trong nỗi hụt hẫng không kéo dài lâu, rồi tôi cũng trở lại được với đời thường. Trong những người bạn tôi quen biết, anh Nguyễn Mộng Giác là người duy nhất tôi không có một ước mong t́m ai khác để thay thế. Khi tôi được tha về, đến thăm anh, anh mừng lắm. Rồi trong cuộc mưu sinh, tôi làm nhiều công việc, chạy hàng bán thuốc lá, bán báo. Bốn ngày trước khi rời Sài G̣n ra Quy Nhơn để thực hiện chuyến đi vượt biên, anh có có đến nhà t́m tôi hai lần, nhưng tôi bận chạy hàng ngoài đến chiều tối mới về nên anh đến t́m mà không gặp tôi. Bỗng nhiên, mẹ tôi sực nhớ nói cho tôi biết, ngày hôm sau buổi sáng đi qua ghé vào nhà anh, th́ chị Diệu Chi cho biết anh ra Quy Nhơn.

Và, một hai tuần sau, tôi lại ghé nhưng không gặp anh măi ba bốn tháng sau tôi mới được hay biết tin anh vượt biên

Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đă ṃn con mắt phương trời đăm đăm

Anh Giác đi vượt biên hơn một năm, th́ tôi cũng rời Sài G̣n ra Huế. Ngày tôi ở trại tù, Nga chỉ dạy học ở Quy Nhơn một năm rồi ra Huế sống nhờ gia đ́nh bên ngoại. Khi tôi về, tôi ở tạm Sài G̣n để mưu sinh một thời gian, Và, cuối năm 1986 tôi rời khỏi hẳn Sài G̣n.

Về lại thành phố này, cảnh cũ không c̣n như xưa nữa. Nhưng nghề sách báo như vương nợ cho cái nghiệp của tôi. Về đây, tôi cộng tác với nhà xuất bản Thuận Hóa của nhà văn Trần Thùy Mai trong việc buôn bán sách du lịch. Theo cuộc sống qua ngày, đầu năm 1990 bắt đầu có chương tŕnh HO, tôi nộp đơn xin xuất cảnh và đến tháng 11/93, gia đ́nh chúng tôi sang Mỹ.

Santa Ana là một thành phố lớn của quận Cam. Tôi ở thành phố từ ngày định cư đến hôm nay. Khi đặt chân đến nước Mỹ, nỗi lo lắng nhất của tôi là t́m kiếm công việc làm và lo cho con cái học hành. Và trước nhất là may mắn, sau đến những công khó của ḿnh, để rồi lướt qua được những khó khăn trong mấy năm đầu, dần dà cuộc sống ổn định.

Tôi vốn có chút đam mê về văn học, nên qua Mỹ, và được ở trong quận hạt có đông người Việt tôi lần thích ứng với mọi sinh hoạt cộng đồng. Little Sài G̣n, được coi như thủ đô của người Việt tị nạn. Nơi đây, văn hóa Việt phát triển rất nhanh và lớn mạnh, trong đó, quy mô nhất là ngành truyền thông. Sách báo tiếng Việt hiện diện nơi này rất đáng kể và cũng rất quan trọng. Nhật báo, tuần báo, tạp chí tràn ngập ở các hiệu sách, các khu chợ, và những văn pḥng giao dịch. Khu thương xá Phước Lộc Thọ hai ngày cuối tuần, rất đông đồng hương người Việt đi chợ, đi mua sắm quần áo, hay ngồi quán cà phê, và ở đây cũng là địa chỉ chung để hỏi thăm tin tức bạn bè.

T́nh cờ, tôi gặp lại anh Nguyễn Mộng Giác ở nhà sách Văn Khoa. Hai anh em mừng vui, đến bỡ ngỡ. Rồi tôi theo anh về nhà thăm chỗ anh ở và gia đ́nh anh. Từ Phước Lộc Thọ về nhà anh rất gần, trên đường, vẫn giọng nói chừng mực và xét đoán qua tầm nh́n, anh Giác nói với tôi về sinh hoạt văn học hải ngoại và những hướng đi trong tương lai. Tới nhà, chị Giác và các cháu đều nhận ra tôi, vui mừng gợi nhớ lại những kỷ niệm cũ thời c̣n ở Quy Nhơn. Tôi ở lại ăn trưa cùng với gia đ́nh, sau đó, c̣n lại ở pḥng khách với cà phê, thuốc lá, anh Giác bắt đầu nói cho biết về tạp chí Văn Học mà anh là người đứng ra sáng lập, vừa làm Chủ bút.

-Thế hệ trẻ bên này, thay đổi nhanh lắm. Cùng với lớp trẻ, là một lớp nhà văn mới xuất hiện và viết rất hay qua những kinh nghiệm từ các trại tù, trại tị nạn vượt biên, và Kham sẽ ngạc nhiên vô cùng khi chính những cây bút trẻ thế hệ zéro, đến những nhà văn lưu vong là trụ cột cho nền văn học hải ngoại. Anh kể rất nhiều tên tuổi các nhà văn nam và nữ, tôi nghe hoàn toàn mới lạ. Nhưng trong tôi có một niềm tin nhiều hơn là nghĩ đến những nhà văn miền Nam cũ c̣n sống sót và vẫn cố gắng tiếp tục sự nghiệp văn chương.

Ở nhà anh Nguyễn Mộng Giác c̣n là nơi tụ họp các bạn văn trong vùng quận Cam hay ở các nơi xa đến trong ngày cuối tuần. Và bên những kệ sách sắp ngay ngắn, trên tường các kệ này, mỗi khung đều có h́nh lưu niệm của các văn nghệ sĩ. Thực là quư giá, và những gợi ư rất hay. Khi đến nhà anh Giác chơi, ngoài những câu chuyện vui cùng các bạn văn, tôi thường hay đứng bên các dăy kệ xem sách, đọc các báo văn học. Và trong những lần đó, đọc những truyện ngắn của Trần Kim Lan và Nguyễn Nhị Lê tôi rất thích. Có một truyện ngắn, đọc xong, tôi cảm thấy bâng khuâng và gợi nhớ đến những h́nh ảnh cũ khi c̣n ở bên quê nhà. Làm sao tôi quên được h́nh ảnh những cô giáo miền Nam cũ khi c̣n được lưu dung và dạy học trong những hoàn cảnh rất là khó khăn, trong đó có Nga là vợ tôi. Và, truyện ngắn mà Nguyễn Nhị Lê viết về một cô giáo dạy học ở một trường quận hẻo lánh, mỗi ngày đạp xe băng qua một cánh đồng ruộng nh́n vào cảnh sống của người dân, rồi nghĩ đến phận ḿnh và những học sinh của ḿnh, khiến tôi lại nhớ một lần bắt gặp h́nh ảnh một cô giáo miền Nam cũ nhân ngày nhà giáo được học sinh biếu cho vài quả cam, lúc đạp xe trên đường về do đường xấu, nhiều ổ gà làm xe cô bị chao, và làm cái túi đựng cam của có mấy trái rớt ra ngoài lăn trên đường. Ngay lúc ấy, cô dừng xe cúi xuống lượm lên, và ánh mắt cô đă cười ngượng ngùng khi một người khách qua đường chợt trông thấy. Giữa hai sự việc, giữa hai h́nh ảnh khác biệt nhau, nhưng có lẽ cùng chung một tâm trạng. Sau khi đọc xong truyện ngắn này, tôi đi qua các dăy kệ và ngước nh́n lên những khung ảnh để t́m gương mặt tác giả. Bất ngờ, một bức ảnh chân dung rất đẹp và rất dễ thương đă làm tôi dừng lại và nh́n ngắm rất lâu.

Ngay lúc đó, chợt anh Giác xuất hiện, tôi liền chỉ tay vào bức ảnh và hỏi anh, th́ không ngờ đó là tác giả Nguyễn Nhị Lê với những truyện tôi rất thích đọc và với ước mong chi có một ngày được gặp người của quê hương cũ. 

 

Nguyễn Chí Kham

(Trích trong tập Hà Nội, Bướm Trắng )

 

 

art2all.net