NGUYỄN CHÍ KHAM

 

SƠ DẠ HƯƠNG

 

 

Sơ Dạ Hương xuất hiện tên làm nhà văn lần đầu trên tuần báo Nghệt Thuật số 9. Trong số này, có hai truyện ngắn tôi đọc rất thích : Ngoại ô, Dĩ An và linh hồn tôi của Cung tích Biền, Những ngày ở Sài G̣n của Sơ Dạ Hương. Nếu như, một nhà xuất bản nào muốn in tuyển tập truyện miền Nam hỏi ư kiến, tôi xin chọn hai truyện này cùng những truyện tiếp theo : Vơ Phiến, Thác đổ sau nhà. Mai Thảo, Luân . Doăn quốc Sỹ, Ǵn vàng giữ ngọc. Thanh Tâm Tuyền, . Nguyễn đ́nh Toàn, Băi cỏ. Thảo Trường, Hương gió lướt đi. Y Uyên, Băo Khô. Vương Thanh, Khu rừng mùa xuân. Hoàng Ngọc Tuấn, Canh bạc một vài người.

Những ngày ở Sài G̣n là một truyện viết về Hà Nội, nhân vật chính là Lan Hương. Tôi có ư nghĩ sau khi đọc xong truyện là tác giả đă thu gọn hết cả các t́nh tiết, từng ḍng mạch văn để gói kín vỏn vẹn trong một câu văn thôi. Và, câu văn rất đúng ư với tác giả là nó dài, rất dài, không cần một dấu chấm, một đoạn qua hàng, mà chỉ cần chú ư ở những dấu phẩy, dấu chấm phẩy để t́m ra ư tưởng và bút pháp.

Sau truyện ngắn này, Sơ Dạ Hương trở thành một cây bút mới lạ trong văn chương miền Nam về kỹ thuật viết truyện. Và, đặc biệt hơn nữa là truyện nào cũng có cô Lan Hương.

Khi tuần báo Nghệ Thuật đă tạo nên tên tuổi anh, sau đó, anh được cả hai tạp chí Văn, Văn Học mời cộng tác. Anh bắt đầu viết đều, rồi một tác phẩm đầu tay xuất bản với tựa Những ngày ở Sài G̣n.

Tôi được anh tặng cho một cuốn sau khi sách in xong. Hồi đó, tôi mới tập tành viết lách, quen biết anh và được anh cho sách đọc nên rất là vui. Tôi cố thử bắt chước lối viết của anh, nhưng vụng về, không thành công như anh. Lối viết có những câu mở đóng trong ngoặc đơn, không phải là cách giải thích, mà làm cho nó nhân đôi lên, và câu văn như được viết hai lần ở hai nghĩa khác nhau. Vậy th́, muốn viết một giọng văn như anh, th́ phải đọc, phải hiểu về kỹ thuật viết của nhà văn người Mỹ đoạt giải Nobel năm 1949, William Faulkner. Anh luôn nói với tôi, William Faulkner là người thầy của anh trong tiểu thuyết. Anh học ở Faulkner cách sử dụng mạch ngầm, mạch rẽ. Đây là một phá thể, phá mạch văn cũ trong văn chương Việt Nam, vốn trọng cách viết câu ngắn, sáng sủa, rành mạch, kiểu “Tự lực văn đoàn”

Cả tập sách, truyện nào tôi cũng đọc, và rất thích. Truyện Con dă tràng hết sức hiện sinh. Style của truyện này viết theo cách Camus trong cuốn L’étranger. Câu văn khô, ngắn, giật từng cơn, như cơn ho của người bị ho lao. Và, tôi cũng thấy trong truyện của anh, luôn có cái hồn nhân hậu, luôn nhắc đến Hà Nội trong quá khứ, và nhân vật Hương của anh làm tôi nhớ nghĩ đến Hương của nhà thơ Phạm công Thiện.

Tôi nằm lên chiếc chiếu cạp điều

Nước chảy trên vùng phố tịch liêu

Tôi nhớ một lần cây quế mọc

Tôi đứng nh́n Hương trọn buổi chiều.

Tôi là người miền Trung, gốc gác ở Quảng Trị. Nơi thành phố nhỏ miền giới tuyến này có khá đông người miền Bắc di cư vào Nam cư ngụ ở đây. Nên chi, vùng đất miền Bắc tôi được nghe qua tiếng nói của họ, và có một đôi câu, đôi chữ, đôi âm vực gần với miền đất của chúng tôi. Và, Hà Nội thủ đô miền Bắc, lúc bấy giờ chúng tôi được nh́n thấy qua những đoạn phim thời sự, hiện ra Tháp Rùa, hồ Gươm, cầu Long Biên, con sông Hồng.

Năm 1954, hiệp định Genève chia cắt đất nước. Lúc rời xa Hà Nội, 17 tuổi anh đă là một học sinh Trung học nên chi trong hồi ức, nhớ khung cảnh miền Bắc, nhớ thành phố Hà Nội từ mỗi góc phố, những hàng cây, từng chuyến tàu điện đi qua trong ngày (cho đến bây giờ thỉnh thoảng c̣n rộn ràng ở quanh quất đâu đó trong tiềm thức) đều rơ lên từng nét một, và trong văn, anh đă viết đầy chất thơ, đầy những h́nh ảnh sống động, xác thực, và đầy cả một giọng nói Hà Nội gây cho người đọc dễ bị xúc động, và luyến nhớ về quê hương cũ .

Những năm mới lớn, c̣n nhiều mơ mộng, trí nhớ luôn t́m lại Hà Nội, t́m lại tuổi thơ không phải để th́ thầm một ḿnh như lúc đă đứng bóng, nhưng là để kể cho một người khác nghe, để viết trong những lá thư t́nh đầu tiên trong đời. Khi cảm thấy được yêu, cảm thấy hạnh phúc có thật, một đôi lần đă có ư nghĩ đă quên được rồi .

Vào miền Nam, anh may mắn được ở ngay thủ đô Sài G̣n, và đi học từ Trung học lên Đại Học. Năm 1957, anh thi nhảy, đậu Tú Tài I, qua năm 1958 khóa I Tú Tài II rớt, nhưng hai tháng sau thi khóa II, anh đậu. Thời đó, năm đó, có bằng Trung học đă hiếm, nói ǵ đến hai mảnh bằng Tú Tài I, Tú Tài II. Lên Đại học anh học ngành Toán, chứng chỉ MG. Nhưng do hoàn cảnh gia đ́nh, anh bỏ học, t́m kiếm việc làm. Anh thi đậu vào trường Cán sự Bưu điện, làm chuyên viên viễn ấn. Và, không chỉ công việc này thôi, anh c̣n là cộng tác viên với hai hăng thông tấn AP và AFB, UPI. Khi có nghề nghiệp vững chắc, anh trở lại trường Đại Học, nhưng không ở bên Khoa học, mà bên Văn Khoa. Và rồi, cùng với trường Văn anh theo luôn nghiệp văn, và hết sức thành công trong cả hai lănh vực sáng tác và phê b́nh.

Tác phẩm của anh gồm có:

Những ngày Sài G̣n (tập truyện)

Lần cuối, Sài G̣n (Thơ, Truyện, Tạp luận)

Chân Dung Văn Học.

Tác phẩm đầu tay in ở Sài G̣n. Hai tác phẩm sau, in ở Hoa Kỳ. Năm 1970, tôi rời xa Sài G̣n, lúc bấy giờ cuộc chiến ở toàn miền Nam bắt đầu ở mức báo động, t́nh h́nh chính trị cũng bất ổn. Và, cũng trong thời gian này, cuộc sống của anh cũng có một vài thay đổi quan trọng. Nhưng dù cho ở xa, anh vẫn là người tôi nhớ đến luôn, lúc nào cũng có sự nhắc nhở. Khi nhớ Sài G̣n, tôi nhớ đến anh. Cũng như anh luôn nhớ Hà Nội khi đặt bút viết văn. Quán cà phê Pagode có bà Bovary, và ở quán này, những anh em văn nghệ thường hay gặp nhau vào buổi sáng để uống cà phê. Nơi quán này, tôi cũng thường hay gặp anh bạn quư của ḿnh, lúc bấy giờ, anh đă quá nổi tiếng, tạp chí văn học nào cũng đăng bài anh, cũng mời anh viết, nhiều quá, có lúc mệt mỏi không viết nổi. Ngày đó, tôi rất mê say đọc tiểu thuyết, mê say văn chương chữ nghĩa, nên ngồi uống cà phê trong mỗi lần gặp, tôi thường hay hỏi anh về nhiều chuyện văn chương, về những đề tài, những khuynh hướng tiểu thuyết mới trong văn chương và được nghe anh giải thích. Khi được nghe anh giảng giải về những câu thơ hay, những tác phẩm lớn của các nhà văn lớn, đặc biệt , với những sự kiện, những chi tiết khủng khiếp trong tác phẩm gây ấn tượng cho độc giả, anh giải thích rất sâu sắc, chứng tỏ cho cái sức đọc, vốn đọc của anh rất giàu có. Tôi cũng hơi lấy làm lạ, anh bạn học Toán, rất giỏi Toán, và khi đă học ở ngành này rồi, th́ ít mấy ai để ư đến thơ văn, và riêng về ngoại ngữ, không có mấy ai giỏi như những người theo học các ngành văn, nhân văn. Vậy mà, hai ngoại ngữ Anh và Pháp anh rất giỏi, không mấy thua kém những bạn học ở trường Tây. Tôi thường thấy anh hay đọc hai tờ báo Le Figaro và L’Express, Magazine littéraire để viết tin về văn học cho các báo. C̣n các loại tiểu thuyết, anh thường đọc bản gốc tiếng Anh và tiếng Pháp. Và, có một cuốn tiểu thuyết đoạt giải Nobel của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway cuốn Mặt trời vẫn mọc (The sun also rise) nhà xuất bản Vàng Son nhờ anh dịch và cho in đến 5000 cuốn, bán rất chạy. Vào thời kỳ đó, truyện dịch đang là ăn khách trên thị trường văn học.

Trong những năm trước của thập niên 60, anh viết phê b́nh và sáng tác nhiều nhưng kể từ năm 70, hoạt động của anh chuyển hướng, làm riêng một tạp chí Văn học, Tập San Văn Chương cùng với số bạn hữu học ở trường Văn Khoa.

Những truyện ngắn anh viết trong sách in, và những bài viết mới cũ trên các báo văn học, mỗi lần đọc, tôi đều rất cảm kích. Ở phê b́nh, anh có lối viết rất chắc nịch, rất sáng tạo và gây nên ấn tượng mạnh với nhiều ư tưởng mới. Ở bên sáng tác truyện, với kỹ thuật chuyển mạch ngầm, anh viết nhiều câu văn lạ, và hay như những câu thơ. Anh sáng tác, nội dung truyện hầu như không có, không cần thiết, mà tất cả quy chiếu về cách viết độc đáo để mở ra con đường mới trong văn chương. Bếp lửa của nhà văn Thanh Tâm Tuyền là một cuốn truyện hay, nhưng chỉ có bài viết của anh mới choàng lên được cho tác phẩm này một thành phố văn chương, đó là Hà Nội.
Ngày 30/4/1975 kết thúc cuộc chiến miền Nam. Tôi bị gọi đi tŕnh diện học tập, sau đó, vào các trại cải tạo trong miền Nam cũng như ngoài Bắc. Khoảng thời gian hơn sáu năm, tôi mới được cấp giấy tha để trở về với gia đ́nh. Khi về, tôi thấy lại thành phố Sài G̣n quá tang thương đến độ bàng hoàng. Về lại thành phố này, một thành phố tôi đă sống qua thời tuổi trẻ, th́ nay đă lắng cặn trong hiện hữu. Để có kế mưu sinh, tôi làm nghề bán báo dạo, bán sách cũ, kèm theo luôn cả thuốc lá. Ngày về của riêng tôi th́ đă rơ, c̣n bạn bè, và những anh em quen biết th́ sao ? Tôi được hay tin có một số anh em rời quê hương vào những ngày cuối tháng tư, sau đó, là những chuyến vượt biên, c̣n số ở lại, vẫn ở các trại tù chưa về, hay dọn đi lên ở những vùng kinh tế mới. Riêng anh bạn quư, tôi nghĩ là chắc anh đang ở nước ngoài, v́ anh đă có làm việc cho các hăng thông tấn quốc tế, nên chuyện anh đi vào lúc ấy, cũng dễ dàng thôi.

Không ngờ, tôi gặp lại anh. Nụ cười méo xệch, nhưng hết sức hồn nhiên. Buổi sáng đó, nhân mới đi nhận báo về, ngang qua nhà Bưu điện, bất ngờ có một người khách gọi hỏi mua tờ báo Tuổi Trẻ, tôi liền dừng xe.

-Trời đất, anh Trụ. Tưởng anh đi đâu mất đất rồi.

-Tao có đi được đâu.

Hai anh em kéo nhau vào quán cà phê, làm mỗi người một ly và ăn một cái bánh tiêu.

-Giờ anh làm việc ǵ ?

-Có việc ǵ đâu. Tôi lang thang ở đây, chờ có ai nhờ dịch thư, đánh điện tín ra nước ngoài, tao giúp họ.

Tôi nghe, nhưng không quan tâm mà chỉ hỏi:

-Nhưng sao mà anh không đi?

Anh giải thích:

-Thằng AP đưa tao đi được, nhưng một ḿnh thôi. Làm sao đi, khi c̣n cả bà già, vợ, lũ con sáu đứa.

Tôi cũng nói qua cho anh biết về tôi, và trước khi rời quán, tôi trả tiền cà phê và đưa mấy tờ báo cho anh đọc.

Sau buổi gặp này, hai anh em trong mỗi tuần thường có dịp gặp nhau, uống cà phê, vừa nhắc nhở tới các anh em nhà văn một thời quen thuộc ngồi ở quán cà phê Pagode. Và, nhắc tới quán này, tôi nhớ nghĩ đến bà Bovary, và tôi vừa nghĩ đến bà, vừa tin rằng bà đang sống ở Pháp hay bên Mỹ.

Tôi làm nghề bán báo và kèm thuốc lá tương đối cũng sống được. Trong các ṭa soạn tôi thường đến đăng kư báo để bỏ mối, vừa bán lẻ, báo Tuổi Trẻ là nơi tôi có sự quen thân với anh em trong ban biên tập. Nhờ sự quen thân này, nên tôi mới giới thiệu anh Trụ làm cộng tác viên với tờ báo trong mục điểm sách, viết phê b́nh văn chương về các tác giả ngoại quốc. Lúc bấy giờ, sách dịch được in nhiều, và các báo cũng rất cần những người có am hiểu về hai ngoại ngữ Anh, Pháp. Và, nhu cầu họ cần t́m là thành phần trí thức miền Nam, vốn rất am hiểu về văn chương nước ngoài qua hai ngoại ngữ Anh và Pháp. Khi tôi giới thiệu, ṭa soạn chưa có ǵ niềm nở, tin tưởng mấy, nhưng khi anh Trụ tung những bài viết nặng kư đă khiến cho ṭa báo hài ḷng, bắt đầu mời anh viết, xong mời anh phụ trách nguyên trang, và từ đó, cuộc sống của anh phần nào dễ chịu hơn.

Nhưng rồi, đến đầu thập niên 90, anh ngừng viết. Vào lúc này, tôi cũng xa Sài G̣n ra Huế sống cùng với vợ con. Cuối tháng 11 năm 1993, tôi cùng gia đ́nh sang Hoa Kỳ định cư theo chương tŕnh HO. Một thời gian không lâu, anh và tôi liên lạc được với nhau qua điện thoại. Th́ ra, vào năm 1990 anh cùng gia đ́nh vượt biên qua ngả đất Lào, rồi đất Campuchia, rồi đất Thái, và sau cùng, anh được nước Canada, vùng nói tiếng Anh tiếp nhận.

-Đúng là quả đất tṛn, phải không anh Trụ.

Anh cười, bây giờ mới nghe giọng nói anh sang sảng. Thế rồi, tôi kể lại cho anh những năm tháng đă rời xa Sài G̣n, ở Huế, rồi lên đường đến nước Mỹ.

Liên lạc thường xuyên qua điện thoại mỗi tuần, đến tháng sáu năm 2000, anh Trụ ở Canada qua chơi, hai anh em chúng tôi có dịp gặp lại nhau, chuyện tṛ đêm đầu tiên say sưa đến không ngủ, rồi trời vừa sáng là uống cà phê, rồi kéo nhau đi ăn sáng ở tiệm phở Nguyễn Huệ. Đất quận Cam đất của người Việt tị nạn. Ở đây, có Little Saigon. Và, đến đây, tôi giới thiệu anh Nguyễn quốc Trụ với tạp chí Văn học, và nhà văn Nguyễn Mộng Giác quản nhiệm tờ báo, đă mời anh viết mục tạp ghi hàng tháng.

Vốn là người có tài năng, nên những bài viết của anh Trụ được số độc giả thích đọc. Tôi luôn nhận ra nơi anh, thấy rằng, anh Trụ không chỉ có kiến thức rộng, có hai ngoại ngữ thông suốt, viết phê b́nh, sáng tác đều có một giọng văn lôi cuốn, thêm điều này nữa là tiếng Việt anh rất giỏi, mỗi câu văn, anh viết rất chính xác. Và, trong văn anh, có những câu dí dỏm, của một người miền Bắc mà rất hiểu về miền Nam.

Sơ Dạ Hương, bút hiệu lúc ban đầu của anh nay anh không c̣n dùng đến nữa. Nhưng riêng tôi, tôi vẫn thích bút hiệu này, vẫn nhớ cái tên Sơ Dạ Hương anh đă dùng, nỗi nhớ này có thể nào đem ra so sánh với một mối t́nh cũ, xa xưa ấy của chính ḿnh được hay không.
 

 

 

art2all.net