NGUYỄN CHÍ KHAM

 

"TRĂNG ƠI, THƠ ẤU MĂI"

TRUYỆN NGUYỄN CHÍ KHAM

Trần Doăn Nho

 

 

 

KENNEDALE, Texas (NV) – “Trăng Ơi, Thơ Ấu Măi,” tác phẩm đầu tay của Nguyễn Chí Kham, do nhà xuất bản Tân Thư, California, xuất bản năm 1988, gồm hai bút kư và sáu truyện ngắn, một số trong đó đă được đăng tải trên vài tạp chí văn học hải ngoại.

Hai bút kư khá dài, chiếm gần nửa tập sách. Một, “Không Đi Xa Nữa” ghi lại một cách khá chi li chuyến hành tŕnh đi Mỹ dịnh cư theo chương tŕnh H.O; và hai, “Hà Nội, Bướm Trắng” ghi lại chuyến đi thăm Hà Nội sau khi được phóng thích khỏi một trại tù ở vùng núi rừng miền Bắc, nơi anh bị giam giữ một thời gian dài v́ là một sĩ quan của quân đội VNCH.

Nếu “Không Đi Xa Nữa” có tính cách người thật việc thật, th́ “Hà Nội, Bướm Trắng” là một tổng hợp đa dạng giữa hồi kư, tùy bút và hư cấu, qua đó, Hà Nội đối với anh là một “thành phố văn chương,” nơi anh đă từng mơ ước được đến thăm. Anh đă đến và đă gặp, không chỉ một Hà Nội của hiện tại mà cả Hà Nội của quá khứ: được tới ṭa soạn báo Phong Hóa và tṛ chuyện với Nhất Linh, với Thạch Lam, không những thế, c̣n được đi dạo chơi với cả cô Loan, nhân vật chính trong “Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh.

Về truyện ngắn, với một văn phong nhẹ nhàng, trầm tĩnh, Nguyễn Chí Kham kể lại những câu chuyện đời khá đơn giản với những chi tiết cụ thể, sống, thực mà độc giả, khi đọc, tưởng như có thể bắt gặp ngay đâu đó trong cuộc sống chung quanh ḿnh. Tuy nhiên, giữa những điều rất thực ấy – thấp thoáng tính cách tự truyện – người đọc bắt gặp những nét hư cấu bất ngờ. Đang rất “hiện thực,” mọi sự bỗng trở nên nhập nḥe, mờ nhạt, y như được lọc qua một màn sương mỏng. Nhân vật này có lúc như lẫn với nhân vật khác, chồng chéo lên nhau. Nếu không hiểu dụng ư của tác giả, người đọc đôi lúc cảm thấy nhất thời khó bắt nhịp được với câu chuyện.

Trong truyện “Đàn Bướm Bay Quanh Chân Ngựa,” ta thấy có một nhân vật tên là Bovary, xuất hiện và biến mất rồi tái xuất hiện một cách rất vô cớ. Thực ra, nhân vật này (tôi đoán) là Nguyễn Chí Kham lấy từ nhân vật Bovary mà anh yêu thích trong truyện “Madame Bovary” của Gustave Flaubert. Một nhân vật khác là Ninh Giang. Cô gái này chợt xuất hiện, rồi biến mất, rồi lại xuất hiện, có khi nhập nhằng với nhân vật khác hoặc là lẫn lộn với một nơi chốn. Hóa ra, h́nh ảnh Ninh Giang tượng trưng cho niềm mơ ước, cho những giấc mơ của tác giả. “Trong lúc ao ước một ngày thanh b́nh, tôi buông súng, nhắm mắt, và rồi, tôi mơ thấy bóng một con ngựa lạc loài đang trở về giữa một khu rừng, dẫm chân lên những cánh hoa đă rụng, lúc ấy có Ninh Giang mỉm cười nh́n đàn bướm bao quanh.” Nói chung, nhân vật của Nguyễn Chí Kham trông như là một loại người lớn-trẻ thơ, nh́n mọi sự mọi vật qua lăng kính của những ước mơ đẹp thời thơ ấu.

“Trăng Ơi, Thơ Ấu Măi,” tên của truyện đầu tiên mà cũng là tựa đề cho cả tập truyện, phần nào biểu lộ tính cách đó. Nhân vật chính, xưng ‘tôi” là một cậu học tṛ học trung học, được cô Châu, một cô giáo độc thân ăn cơm tháng ở quán mẹ cậu, dạy kèm thêm vào buổi tối. Với cậu, cô giáo là h́nh ảnh của một thế giới khác, lạ lẫm. Chỗ ở cô ngăn nắp, có kệ sách, có đàn ghi ta, có tranh vẽ ngựa, cây cối và hoa. Cô có mái tóc để xơa, hai cánh vai tuy hơi gầy, nhưng “khi cô mặc chiếc áo phồng ngắn tay lại trông thấy sự đầy đặn.” Bàn tay cô có “những ngón nhỏ nhắn rất đều đặn.” Thỉnh thoảng buổi chiều, cậu nghe tiếng đàn tiếng hát từ pḥng cô vọng lại. Pḥng riêng của cô “tỏa mùi thơm của một thứ nước hoa” trong đó có chăn gối, ánh đèn và ít thứ khác đầy màu sắc. Có một lần giảng bài, cô cố gắng hết sức mà cậu học tṛ vẫn không hiểu. Bực ḿnh, cô khóc. Thấy cô giáo khóc, cậu hoảng sợ, đưa hai bàn tay ra cho cô đánh. Nhưng cô giáo không nỡ đánh. Cặp mắt cô “khác lạ hẳn, một cái nh́n thảm đạm, tối đen phủ xuống. Ở nơi g̣ má cô, vệt nước mắt khô lại, cô lơ đăng ngó cây đàn.” Tất cả những ǵ toát ra từ cô giáo đều là nỗi ám ảnh đối với cậu học tṛ.

Và rồi, cô giáo đi lấy chồng! Ngày đám cưới cô, cậu học tṛ được tham dự từ đầu đến cuối. Cậu cảm thấy rất vui. Nhưng khi tiễn đưa cô theo chồng, một phi công, vào ở hẳn Sài G̣n, cậu mới cảm thấy buồn. “Ngày đám cưới đă vui được bao nhiêu th́ bây giờ buồn lại chừng đó.”

Sau biến cố 1975, vật đổi sao dời, cậu học tṛ ngày xưa đă là một người lớn thuộc phe thất trận, làm nghề đi bỏ báo thuê, gặp lại cô giáo cũ ở Sài G̣n, đang làm chủ một quán sách. Chồng cô mất tích trong một phi vụ hành quân và con cô, đi vượt biên, chưa có tin tức. Cô sống độc thân như ngày nào thuở trước khi c̣n làm cô giáo. Hai người có dịp nối lại t́nh quen biết cũ. Không những thế, anh c̣n hùn vốn với cô để phát triển quán sách. Hai cô tṛ thân nhau như người trong gia đ́nh.

Đang buôn bán thuận lợi, cô giáo lâm bệnh nặng, phải vào nằm bệnh viện. Thế là ngoài việc coi sóc quán, anh c̣n phải ghé bệnh viện chăm sóc cô. “Tôi lại gần đầu giường, đặt bàn tay ḿnh lên trán cô. Tôi cảm thấy rất tự nhiên, nhưng ánh mắt của cô như thể nh́n tôi rất lâu, in dấu một vẻ cười nhưng không lay động, làm tôi chợt nhớ đến một bàn tay nhỏ bé của tôi ngày xưa đă run run đưa ra trước cặp mắt cô đầy sự tức giận, uất ức, nhưng buổi tối đó cô vẫn yên lặng, rồi khẽ bảo tôi cất bàn tay đi.”

Quan hệ cô-tṛ dần dà biến thành quan hệ t́nh nhân. “Cô” bây giờ trở thành “nàng.” Một tối nọ, anh dẫn người t́nh đi dạo trong sân bệnh viện. “H́nh như, tuổi hai mươi của tôi lúc hiểu được t́nh yêu ở một nơi nào khác, không phải từ nơi đó. Nhưng nàng bảo tôi, em ạ, vẫn là nơi chốn cũ đó. Không mất đâu, ở bên tôi em đang đi trên con đường trở về lại tuổi hai mươi.” (…) “Tôi đưa bàn tay tôi qua nắm lấy tay nàng, và lúc ấy, trong trái tim tôi nóng ấm lên một niềm hy vọng. Vâng, tôi biết ḿnh đang đi trên con đường trở về lại với tuổi hai mươi. Thế rồi, bằng ánh mắt mỉm cười, nàng gật đầu ưng thuận. Và hết sức cảm động, tôi được yêu. Trên cánh tay tôi, nàng ngửa khuôn mặt, đón nhận những nỗi nhớ, rồi những cái hôn rất ngọt ngào.”

Mối t́nh đeo đẳng từ thuở học tṛ, rốt cuộc, đă được toại nguyện: cô giáo đă trở thành “người bạn đời” của người học tṛ cũ. Nhưng tiếc thay, chỉ một thời gian sau, cô giáo từ giă cơi đời. “Khi đến hơi thở cuối cùng, tôi rất xót xa, ôm chặt cố giữ nàng trong hai cánh tay đă tê dại. Nước mắt tôi đă không chảy được một giọt nào cả.” (…) “Khi nhắm mắt, tôi nh́n thấy nàng hé môi uống một giọt nước mưa. Nơi đôi môi, nàng đẹp như một cánh hoa hồng vừa mới nở.”

Ấy thế mà, cái chết của cô giáo không được nh́n như một bi kịch, mà ngược lại. “Bỗng nhiên, ḷng tôi nghe rộn một niềm vui với tiếng nước của một ḍng sông đang được chảy trở về…” Về đâu? Về “Nơi thành phố cũ, mọi thứ đều đổ nát và tiêu tan, chỉ c̣n trơ trọi, độc nhất một chiếc cầu nằm phía sau lưng ngọn đồi cạnh cái ga xép.” Ở nơi đó, có “bóng dáng người đàn bà đang ngước mắt, trông đợi từ phía chiếc cầu một chuyến xe lửa đă tàn lụi, lê lết trở về để có được một ngày hồi hương.” Quả là một tâm cảnh lạ lùng. Hồn nhiên mà rối rắm! Mất mà được. Được trong mất…

Hồi hương ở đây, với Nguyễn Chí Kham, cũng chính là ước vọng được trở về với thời thơ ấu. Trở về với thiên đường đă mất. Măi măi. Ngay cái tựa đề đă là một gửi gắm thiết tha: Trăng Ơi, Thơ Ấu Măi!

***

Nguyễn Chí Kham sinh năm 1944 ở Quảng Trị. Trước 1975, anh có truyện ngắn và thơ đăng ở tạp chí Văn, tạp chí Nghệ Thuật. Ra hải ngoại, anh cộng tác với tạp chí Văn Học. Sau “Trăng Ơi, Thơ Ấu Măi,” không thấy anh sáng tác truyện ngắn đăng báo nữa, mà chuyển hẳn qua truyện dài và xuất bản năm tác phẩm, cuốn nào cũng dày, có cuốn gần bảy trăm trang: “Nắng Hồng Phương Nam,” “Thành Phố Tuổi Trẻ,” “Chuyến Tàu Ngày Mai,” “H́nh Bóng Con Tàu” và “Vườn Dâu.”

Nguyễn Chí Kham cho biết: “Tôi viết dễ dàng, không có ǵ khó khăn.” Mặc dầu, cũng theo anh, “Chưa bao giờ, tôi tự xét hay có ư nghĩ ḿnh là nhà văn” (Lời Bạt, tiểu thuyết “Vườn Dâu”). (Trần Doăn Nho)
 

 

art2all.net