|
Nguyễn Hàn Chung
MỘT CHÚT BÂNG KHUÂNG
TRONG THƠ CỦA NGUYỄN HÀN
CHUNG
Thơ Nguyễn Hàn Chung vốn rất khó đọc! Từ
“Nghịch Lưu Của Tuổi”, rồi qua “Dự Cảm Rời”
mấy năm trước và mới đây trên các trang thơ của “Lục Bát
Tản Thần” là một chuỗi dài những vần thơ khó đọc! Dường
như việc làm thơ ở Nguyễn Hàn Chung không phải là để thả hồn
vào những vần thơ mà là chữ và chữ… Nói thế không biết có
vội vàng, phiến diện lắm không khi người làm thơ như Nguyễn
Hàn Chung đă có một chặng đường khá dài mơ màng cùng thi
phú? Là một người đọc b́nh thường như tôi th́ tôi nghe ra ở
thơ ông là gánh nặng của một người đang gánh chữ giữa cơn
nắng cháy những trưa Hè! Làm thế nào mà tôi có thể nghĩ khác
cho được?
Thế nhưng, người làm thơ nào, dù tài giỏi cách mấy, dù cao
siêu cách mấy, kể cả nhọc nhằn gánh chữ trên đôi vai đôi lúc
mỏi rụng rời, họ không thể nào thoát ra khỏi cái chất rất
gần, rất thật của một con người b́nh thường! Chính v́ cái
nền tảng b́nh thường ấy ở mỗi con người mà người làm thơ c̣n
chắt chiu lại được phần nào; đó chính là cái nền của thi ca
trữ t́nh mà anh không thể cất giấu ở đâu cho được! Và cũng
chính v́ cái nền tảng b́nh thường ấy ở mỗi con người làm thơ
là cái t́nh cảm, cái rung động, cái chất lăng mạn, cái chất
trữ t́nh ấy mới làm nên những vần thơ thực sự là thơ! Nhận
ra điều ấy, tôi nghĩ người làm thơ như Nguyễn Hàn Chung, ông
cũng không phải là người ngoại lệ!

B́a thi
tập Dự Cảm Rời của Nguyễn Hàn Chung, ấn hành năm 2015, Hoa
Kỳ;
và b́a thi
tập Lục Bát Tản Thần, Bản Sắc Việt ấn hành, năm 2018, Hoa
Kỳ.
Có một điều may mắn cho người đọc thơ của
Nguyễn Hàn Chung qua một chặng đường dài từ 1968 đến nay,
năm 2018, tṛn năm mươi năm, là không phải đi t́m đâu xa
những bài thơ cũ; mà nó có ngay trong tuyển tập “Dự Cảm
Rời” (2015), và “Lục Bát Tản Thần” (2018), thành
ra, thơ của ông đang ở đây và bây giờ!
Dường như, bối cảnh chung quanh của mỗi thời mà bất cứ nhà
văn, nhà thơ nào đă và đang sống cũng chảy tràn vào tâm tư
của mỗi tác giả. Chúng ta thấy cái thời tác giả Nguyễn Hàn
Chung vừa lớn lên và biết suy tư cũng là cái thời chiến
tranh khói lửa khốc liệt! Những năm tháng mà chúng ta thường
nghe kể về những “dấu binh lửa”, “dọc đường số một”, “mùa
hè đỏ lửa”, “đại lộ kinh hoàng”,“Tết Mậu Thân”… là những
năm tháng mà bất cứ người nào từng trải qua và từng nghe
nhắc tới đều là những thời kỳ mà người ta từng băng qua
những ngày dài khói lửa ấy đều băn khoăn về sự tàn phá kinh
hoàng của chiến tranh, cả sự tan tác ngoài trời cùng nỗi tan
tác trong ḷng người của một bà mẹ già trăm đắng ngàn cay:
“Lệ tràn pha sắc máu
Lửa đỏ ngập trời đông
Trắng đêm niềm uất hận
Máu chảy loang thành ḍng
Bước chân già khập khiểng
Lê lết kéo trên đường
Bom chực rơi đầu ngơ
Đạn muốn hằn qua xương
Người mẹ già bật khóc
Âm ba không thành lời
Bởi không c̣n nước mắt
Cho căm hờn thương đau.”
(Chiến cuộc với mẹ, 1968, Dự Cảm Rời, trang
19)
Với vài nét chấm phá ngắn ngủi như mấy vần thơ vừa dẫn,
chúng ta thấy ở Nguyễn Hàn Chung, có lẽ lúc bấy giờ tác giả
c̣n rất trẻ, nếu không muốn nói là c̣n quá trẻ, nhưng ông đă
thấy, đă nghĩ về chiến tranh và đă sống với chiến tranh bằng
một chút t́nh của một người trong cuộc lữ…
Dĩ nhiên rồi, là một người con trai nào từ thuở nhỏ cho đến
lúc mới lớn lên và đi vào đời với một chút bâng khuâng lăng
mạn mà không mơ mộng yêu đương? Chàng trai trẻ Nguyễn Hàn
Chung với chút hồn lăng mạn của thuở đôi mươi ấy cũng để lại
chút xót xa cho một buổi trở về quê cũ của một lần nắng hạ,
và cơn gió khô giữa ngày Hè:
“Khi trở về giữa một ngày nắng hạ
Em có c̣n hong nỗi nhớ cho tôi
Mưa cuối phố se hồn tôi giọt quạnh
Bước chân về cũng hiu hắt buồn thôi.
Khi trở về giữa một ngày gió hạ
Môi khô ran những thương mặn t́nh nồng
Tôi chợt mọc trong hồn trăm sợi nhớ
Cũng u hoài như con nước mênh mông.”
(Khi trở về Đà Nẵng, 6-1970, DCR, trang 20)
Nhưng rồi chàng trai trẻ ấy không chỉ “cũng hiu hắt”, “cũng
u hoài”, mà tác giả c̣n tự ví ḿnh như “loài cỏ hạ, mọc giữa
khu rừng cao hoang vu” và đâu đây có tiếng“cười rộn ră” vô
t́nh của người yêu ngày cũ và để rồi tự nhủ ḷng ḿnh thôi
th́ cũng đành hờ hững như một giấc chiêm bao!
“Khi trở về tôi như loài cỏ hạ
Mọc cỗi cằn trên hoang phế rừng cao
Khi tôi về tiếng em cười rộn ră
Cũng hững hờ như một thoáng chiêm bao.”
(Khi trở về Đà Nẵng, 6-1970, DCR, trang 20)
Trong bài “Một khúc t́nh không tưởng”, tác giả sáng
tác tháng 10 năm 1971, với hai câu thơ mở đầu:
“ Nhớ hoài khanh nhớ hoài khanh
Ngựa thời gian đă tế nhanh trong mù.”
(Một khúc t́nh không tưởng, DCR, trang 21)
Ở đây, tác giả cố ư làm mờ đi một điển tích xưa với mấy chữ
“ngựa thời gian”, nhưng có lẽ dưới con mắt của người đọc nhà
quê già như tôi vốn cổ hủ, tôi chợt nghe ra ở đó có mấy chữ
“bóng câu”: Do chữ “câu ảnh”. Trong Tống Sử có câu “Nhân
sinh như bạch câu quá khích”, nghĩa là: Đời người như bóng
con ngựa trắng nhỏ chạy qua lỗ hở. Ư nói đời người qua mau
và quá ngắn ngủi. Th́ ra, “khúc t́nh” xa xưa ấy dù “không
tưởng”, dù được thời gian mau mau vùi lấp đi rồi nhưng hồn
thơ ở Nguyễn Hàn Chung vẫn mang một mối u hoài, thương cảm,
bâng khuâng:
“Nhớ hoài khanh nhớ hoài khanh
Bên hiên chải tóc thề xanh độ nào.”
(Một khúc t́nh không tưởng, DCR, trang 21)
Rồi đến năm 1972, một năm sau đó, Nguyễn Hàn Chung vẫn không
rời nỗi nhớ; nhưng cũng đành thôi với chút cay đắng ngậm
ngùi:
“Gọi người t́nh măi không thưa
Đành thôi chút đắng cay thừa cũng xa.”
(Lục bát cho người t́nh, DCR, trang 22)
Tác giả Nguyễn Hàn Chung năm nay chắc ông chưa già, nhưng có
lẽ tác giả cũng không c̣n trẻ nữa! Chính v́ vậy mà “Nghịch
lưu của tuổi” lúc này tức là ông làm một công việc mà người
trọng tuổi nào cũng muốn một lần quay gót trở về; trở về với
những ngày của tuổi hai mươi, của những năm tháng trước, của
một thời khó quên, một cố gắng dù không khó nhưng cũng làm
cho hồn thơ của ông nhiều lúc bồn chồn tấc dạ xiết bao!
“Mùa mưa nào không trắng xóa hà phương
em ở lại chiều anh không hẹn thuở
anh thức hết những bọt bèo rơm rạ
tiếng chuông câm rưng rức buổi xa người
nhỏ chăn đồng cuối tóc phải chăn côi
ngoai ngoái lại mồ cha xanh nếp trán
nâng chai cạn mà không đành nốc cạn
Giọt rơi tràn con mắt nhướng sa mi
tuổi lăn tṛn đời bể nửa viên bi
những cạnh sắc cứa vào đâu cũng xóc
thôi th́ cố níu trái tim thất lạc…”
(À ơi điệu cũ, trang 121)
Trở về nhưng không làm sao t́m lại được tuổi thơ ngày ấy,
th́ thôi cũng đành “cố níu trái tim thất lạc” giữa muôn
trùng! Để rồi, người thơ đành ngồi trầm tư và than trách số
phận chính ḿnh:
“Chiều tới sáng lục t́m mưa cắm cúi
ngón với bàn ngong ngóng đến thê lương
gần rất lạ xa tới tầm tay với
sợi mong manh riết róng cột âm thầm
lầu cây khế leo tấm thân chùm gởi
nhướng lên mù thấy rơ một xa xăm
vẫn mụ mị lùng bùng cơn cớ trước
ngơ ngơ ngác ngác những phương chiều
Mùa không hắt
tia nắng vàng. Vô phước
kẻ điêu nào c̣n léo hánh cô liêu.”
(Léo hánh cô liêu, DCR, trang 127)
Trên đây là vài bài thơ trong “Nghịch Lưu Của Tuổi”
mà tác giả cho in lại trong “Dự Cảm Rời” như một tuyển chọn
mà cũng là một cách đổi tên trong ngăn tủ kư ức của tác giả,
một thứ kư ức rất xót xa, thêm chút bâng khuâng nhưng măi
hoài cứ theo chân người thơ trăn trở những bóng chiều! Rồi
người đọc không dừng lại ở đó, theo thời gian, có lẽ cũng
thêm một lần mời bạn đến với “Lục Bát Tản Thần” của
Nguyễn Hàn Chung, xem chừng hơi lạ!
Thực t́nh ra, tôi không có ư cắt nghĩa tựa bất cứ một tác
phẩm nào của bất cứ một tác giả nào; và với “Lục Bát Tản
Thần”, cũng vậy. Lục bát là thể thơ rất cũ nhưng sao lại là
“lục bát tản thần”? Điều này có lẽ chỉ có người tạo ra nó và
đặt cho nó cái tên th́ mới có thể cắt nghĩa được đầy đủ!
Nhưng cần ǵ thắc mắc về một cái tên gọi giữa cơi nhân sinh
này! Phải vậy không, thưa bạn? Và cái mà tôi muốn mời bạn
bước qua khỏi cái tựa rất ư lạ-lạ ấy là trong những trang
thơ huyền ảo của Nguyễn Hàn Chung c̣n đọng lại chút ǵ không
sau mỗi lần ḿnh gắp sách lại? Đó là trọng tâm của mấy hàng
ngắn ngủi này xin thưa cùng bạn vậy!
“Lục Bát Tản Thần” vốn là một mạch dài trong chuỗi sáng tác
của Nguyễn Hàn Chung, nên như tôi có nhắc qua khi vào bài,
ôi thôi, chữ là chữ! Nhưng có một điều là dù ông có giấu kỹ
những suy tưởng của ḿnh về trời đất, về thế thái nhân t́nh
trong những câu thơ lục bát c̣n nguyên h́nh hài cũ hoặc
chúng đă bị cắt rời, cắt rời…; và làm cho mỗi câu dài đủ âm
đủ vần thành từng khúc, từng khúc ngắn dài rất lạ khác nhau
th́ cái chất trữ t́nh trong máu huyết ông, cái nỗi dằn vặt
trong hồn ông nó vẫn c̣n đó một cách nguyên vẹn, khó phai
lợt! Bạn muốn tôi dẫn ra vài vần thơ tiêu biểu ấy chứ ǵ?
Th́ đây, xin mời bạn:
“Từ ta héo đến ta hon
Cười toe toét giấu nỗi buồn tái tê”
(Về đâu đợi nàng, LBTT, trang 23)
“Chắc chi đủ khạp, khui, khàn
Mai kia c̣n được tới hoang dưới mồ.”
(Chơi tứ sắc ở hội cao niên, LBTT, trang 33)
“Lề mề câu trước câu sau
Câu nào cũng có dàu dàu. V́ ai!”
(Cô liêu ca, LBTT, trang 40)
“Tưởng rằng dứt áo là thôi
Nào hay sợi rách cột người chết trân”
(Cột, LBTT, trang 41)
“Giá như cứ giá như hồi
Xưa ta đâu phải ngậm ngùi. Giá như.”
(Giá như, LBTT, trang 56)
“Già th́ phải quạnh hiu thôi
Cớ chi ngày trẻ trung thời ngủ quên
Cớ chi bán sống lấy tiền
Cớ chi mơ mộng hăo huyền đầy kho”
….
“Già rồi biết phận ḿnh đi
Chén cơm sớt đổ bát ḿ bưng rơi
Cớ chi c̣n nhớ nón cời
Như nàng Chăm nhớ hồn Hời năm xưa”
(Cớ chi, LBTT, trang 64)
“Kệ đi đừng có ưu phiền
Kệ đi, đừng có ưu phiền. Kệ đi.”
(Kệ đi, LBTT, trang 65)
“Chiều trời xưa ấy thu phân
Tiếc không thể tiếc, quên dần, không quên.”
(Gió giông quê cũ, LBTT, trang 224)
Vâng, thưa bạn, c̣n nhiều lắm những vần thơ tê tái ấy!
Qua hai thi tập “Dự Cảm Rời” và "Lục Bát Tản Thần”
của Nguyễn Hàn Chung mà tôi vừa đọc lại như người vừa đi
ngang qua một khu vườn trồng cây ăn trái, tôi cố t́m ra
những trái chín cây mà ông chủ vườn muốn giấu kỹ cho riêng
ḿnh! Nhưng qua cái nh́n rất quê mùa của một người nhà quê
già chuyên trồng cây ăn trái với phân cỏ mục như tôi cách
nay có tới ngoài bảy chục năm, tôi thiển nghĩ thơ ông sau
này có lẽ sẽ c̣n lại với riêng ông là một chút t́nh riêng,
một chút buồn man mác mà xa xăm, diệu vợi cùng với một chút
“bâng khuâng như tỉnh như say một ḿnh” (*) ; và dù đôi lúc
ông rất cứng cỏi v́ cái gốc chàng trai xứ Quảng Nam với sông
nước Thu Bồn ngày nào cứ chảy mải miết, không ngừng trong
huyết quản của ông, nhưng rồi ra sẽ có một ngày ḷng ông sẽ
mềm lại v́ một chút t́nh riêng ấy, một chút buồn man mác ấy,
và một chút bâng khuâng ấy!
Mong lắm thay!
Hai Trầu-Lương Thư Trung
Houston, giữa tiết Thu lạnh, ngày 28 tháng 11 năm 2018
(*) Câu Kiều của Nguyễn Du.
|