Nguyên Lạc

 

VĂN NẠN

VÀ TÍNH CHÍNH XÁC CỦA NGÔN NGỮ

 

VĂN NẠN

Tiếng nói, chữ viết rất quan trọng, mất nó, chúng ta sẽ bị ĐỒNG HÓA và mất nước ngay.

Chữ viết chắt lọc từ tiếng nói. Văn và nhất là thơ là t́nh túy của CHỮ. Nên cẩn trọng với CHỮ NGHĨA, phải dùng một cách chính xác. Hăy dùng nó cho CÁI ĐẸP, phục vụ nhân sinh. Đừng dùng nó như công cụ hạ thấp người khác, phổ biến điều xấu xa, giả dối. Đừng "ḥa quá nhiều nước lă vào mực." (Modern poets mix too much water with their ink - Goethe) Nghĩa là phải LƯƠNG THIỆN.

CHỮ quan trọng lắm, có thể làm chết hoặc làm tiêu tan sự nghiệp và tài sản con người. Không nhớ vụ án Minh sử triều Thanh đă làm tiêu mạng biết bao Nho sĩ Minh mà Kim Dung đă viết trong phần nhập của bộ truyện Lộc Đỉnh Kư sao? Vụ án của Nguyễn Trăi bị tru di tam tộc (giết ba họ) do sự ganh ghét, đố kỵ của đám tiểu nhân đắc chí, trong đó có một phần từ văn nạn. Vụ sửa đổi chữ bài phú "Đồng Tước đài" của Tào Thực, đưa đến việc thua trận Xích Bích của Tào Tháo. Và cuối cùng với hàng chữ "Kim loại màu vàng" mà các Ngài CS ghi khi kiểm kê vàng của người dân miền Nam để cướp lấy!

VĂN NẠN (cũng được gọi là ÁN VĂN), nói nôm na là những vụ án liên quan đến chữ nghĩa, văn chương, văn nghệ... Có khi nạn nhân chết chỉ do một chữ chứ không cần cả bài, cả tập.

Chết mà không biết ḿnh v́ sao bị chết.

Ta hăy lần lượt xem các vụ văn nạn (án văn) kể trên.



KIM LOẠI MÀU VÀNG

Sau khi chiếm được Miền Nam, CS tiến hành chiến dịch "Kiểm kê tài sản". Để chiếm đoạt vàng của người dân, trong lúc kiểm kê họ đă thay đổi chữ VÀNG bằng chữ KIM LOẠI MÀU VÀNG ḥng chiếm đoạt công lao mồ hôi và nước mắt của người tạo ra nó. Đó là VĂN NẠN mà người dân phải "lănh đủ" trước sự trấn lột của cán bộ CS.

 

BÀI PHÚ ĐỒNG TƯỚC ĐÀI CỦA TÀO THỰC

Tào Tháo đời Tam Quốc (220- 264) có xây một cái đài bên sông Chương Hà tỉnh Hà Nam, đặt tên là Đồng Tước. Đài này cực kỳ tráng lệ. Tháo sai người trang hoàng tô điểm rất lộng lẫy, rồi tuyển gái đẹp khắp vùng đem chứa vào trong.

Tào Tháo có đứa con nhỏ tên Tào Thực, tự Tử Kiến, có tài hạ bút thành văn thơ. Khi xây xong đài Đồng Tước, Tào Tháo sai con làm bài phú "Đồng Tước đài" để ca tụng công nghiệp của Tào. Bài phú rất đặc sắc.

Để khích Chu Du là đô đốc Đông Ngô đánh Tào Tháo, Khổng Minh sửa đổi câu thứ 7 của bài phú "Đồng Tước đài" của Tào Thực.

Nguyên văn:

Liên nhị kiều vu đông tây hề,
Nhược trường không chi đế đống.

Nghĩa là:

Bắc hai cầu tây đông nối lại
Như cầu vồng sáng chói không gian.

Đó là nói: hai bên đài Đồng Tước c̣n có hai đài phụ là Ngọc Long, Kim Phượng, và có hai cái cầu bắc nối vào đài giữa như hai cầu vồng trên lưng trời. Tào Thực dùng hai chữ "đế đống" (hay "chuế đống") là có ư so sánh đài Đồng Tước với cung A Pḥng nhà Tần. Trong bài "A Pḥng Cung Phú" của Đỗ Mục đời nhà Đường, có câu: "Trường kiều ngọa ba, vị vân hà long?/ Phức đạo hành không: bất tễ hà hồng?" (Cầu dài vắt ngang sông: chưa có mây sao có rồng?/ Hai đường bắc trên không: không phải mưa tạnh, sao có cầu vồng?)

Nhưng Khổng Minh lại đổi ra:

Lăm nhị Kiều ư đông nam hề,
Lạc triêu tịch chi dữ cộng.

Nghĩa là:

T́m hai Kiều nam phương về sống,
Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân...

Khổng Minh đem chữ "kiều" (cầu) đổi ra chữ "Kiều" (nàng họ Kiều), đổi chữ "Tây" ra chữ "Nam", đổi chữ "liên" ra chữ "lăm"; c̣n câu sau th́ đổi hoàn toàn khác hẳn, để cố ư trỏ vào hai nàng Kiều. Đem chữ "kiều" đổi ra chữ "Kiều", Khổng Minh chủ ư lừa và chọc tức Chu Du. (V́ hai Kiều: một là vợ của Tôn Kiên, vua Đông Ngô, người thứ hai là vợ của Chu Du, đô đốc Đông Ngô)

Sau Đông Ngô liên minh cùng Tây Thục, nhờ Khổng Minh cầu đông phong, nên Chu Du dùng hỏa công đốt phá binh Tào tại trận Xích Bích. Tháo thua to, mộng chiếm đất Giang Nam để đoạt lấy hai nàng Kiều đẹp hoàn toàn tan vỡ. (Nguyễn Tử Quang)

Thấy chưa, v́ VĂN NẠN mà Tào Tháo nướng gần một triệu (850,000) binh sĩ, thoát chạy với vài tên cận vệ, nếu không được Quan Vân Trường (Quan Công) tha mạng th́ toi đời.
 

 

VỤ ÁN MINH SỬ TRIỀU THANH

Đây là VĂN NẠN thứ hai nổi tiếng khủng khiếp ở triều đại Măn Thanh. Do tên cẩu nhân Ngô Chi Vinh tố giác với Ngao Bá (đại thần triều Măn Thanh) bộ Minh Thư tập lượt (do Trang Kiến Long và những văn nhân khác biên soạn), những người học giả văn sĩ tham dự vào việc biên soạn bộ Minh Thư tập lượt (MINH SỬ) và toàn gia họ Trang mấy chục người từ mười sáu tuổi trở lên đều bị xử trăm. C̣n đàn bà con gái th́ phát lảng đến Thảm Dương để cho bọn kỵ binh Măn Châu dùng làm tôi mọi.

V́ bộ MINH SỬ mà nhà tan cửa nát, người chết không biết bao nhiêu mà kể. Thảm hơn nữa là bọn thợ thuyền khắc chữ, thợ ấn loát, thợ đóng sách và những chủ tiệm sách, người bán cũng như người mua cùng người đọc sách hể điều tra ra được là xử trăm hết (Lộc Đỉnh Kư - Kim Dung )



VỤ ÁN NGUYỄN TRĂI

Phải công nhận xứ ta nhiều án văn, có những án kinh hoàng, thê thảm, đại bi kịch. Triều Lê Thái Tôn thế kỷ 15, con người bậc nhất của thời đại là Nguyễn Trăi đă chết bởi sự ganh ghét, đố kỵ của đám tiểu nhân đắc chí, trong đó có một phần từ án văn. Kẻ hoạn quan Lương Đăng được vua tin dùng, vốn sẵn từ lâu ghét Nguyễn Trăi nên t́m mọi cớ vùi dập ông. Mỗi điều Nguyễn viết ra đều bị Lương săm soi vạch ṿi, Nguyễn Trăi có né cách mấy cũng bị quy thành tội. Cuối cùng Nguyễn Trăi đă bị kết án "tru di tam tộc".

Và sau cùng chúng ta hăy nhớ đến án văn kinh hoàng gần đây - vụ Nhân văn giai phẩm.

 

VỤ ÁN NHÂN VĂN GIAI PHẨM

Vụ án văn này là tấn bi kịch văn nghệ kinh hoàng, oan sai, oan trái, không chỉ tàn hại một thế hệ văn nghệ đầy công tích trong chiến tranh chống Pháp, mà c̣n phủ cái bóng thảm khốc đen tối của nó ám ảnh cả nền văn nghệ dân tộc suốt thời gian dài về sau. Những số phận đại bi kịch như Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Đào Duy Anh, Tử Phác, Đặng Đ́nh Hưng, Nguyễn Bính, Hữu Loan, Trần Duy, Văn Cao, Cao Xuân Huy, Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Nguyễn Sáng, Phùng Cung … đă thành mồi ngon cho chiếc máy chém khát máu trí thức của bộ máy cai trị. (Nguyễn Thông)
 

 

TÍNH CHÍNH XÁC CỦA NGÔN NGỮ

Xin được bàn hai trường hợp tiêu biểu mà tôi kinh qua như sau:

1.

Có cô thi sĩ trẻ, hơi xinh viết một bài thơ có quá nhiều lời comment "hít hà" khen: TUYỆT, TUYỆT, trong đó có rất nhiều Ngài thi sĩ nổi tiếng. H́nh như các ông này có "ư đồ" ǵ đó nên khen bừa, quên đi lời Phùng Quán trong bài thơ "Lời mẹ dặn":

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu...

(Phùng Quán)

Bài thơ cô thi sĩ trẻ có câu thơ như vầy: "chuột kêu ríu rít trên cành".

Theo tôi:

- Chuột sao kêu ríu rít? Phải kêu rúc rích chớ:

Chuột kêu rúc rích trong rương
Anh đi cho khéo đụng giường mẹ la
. (Câu hát ru Quảng Nam)

CHIM CHUỘT sao?
Nghĩa CHIM CHUỘT chắc các bạn đă biết?
 

2.

Trong Nam Hoa Kinh chương XIII, tiểu mục 9 của Trang Tử (học giả Nguyễn Hiến Lê dịch) có đoạn như vầy:

[... Một hôm vua [Tề] Hoàn công đọc sách ở trên nhà, người đóng xe tên Biển đang đẽo bánh xe ở dưới sân, bỏ cái búa cái đục, bước lên hỏi Hoàn công:

- Kính hỏi nhà vua đọc đó là những lời ǵ vậy?

Hoàn công đáp:

- Lời thánh nhân.

- Những thánh nhân đó c̣n sống không?

- Chết cả rồi.

- Vậy là nhà vua đọc đó là đọc cái cặn bă của cổ nhân.

- Trẫm đương đọc sách, một tên đóng xe sao dám luận bàn? Giảng mà có lí th́ tha cho, vô lí th́ bị xử tử.

Người đóng xe đáp:

- Thần xin lấy nghề của thần làm thí dụ: Thần đẽo bánh xe mà chầm chậm th́ ngọt tay mà không bén; nếu đẽo mau th́ mệt sức mà không vô. Phải đừng chậm, đừng mau, vừa với tay ḿnh và hợp với ḷng ḿnh. Không diễn ra được, có cái ǵ huyền diệu ở trong đó. Cho nên thần không truyền lại cho con được mà chúng cũng không học được của thần. V́ vậy mà bảy chục tuổi rồi mà thần vẫn phải đẽo lấy. Cổ nhân và những điều họ không thể truyền lại được nay tiêu diệt hết rồi, sách nhà vua đọc đó chỉ là cặn bă của cổ nhân thôi.

[Nam Hoa Kinh - chương XIII ĐẠO TRỜI (Thiên đạo) mục 9]

Câu chuyện được đặt ra để chứng minh rằng, lời không nói hết được ư, ư không nói hết được t́nh.

[...Sách chẳng qua chỉ là lời. Lời sở dĩ quí là nhờ ư. Ư tuỳ thuộc một cái ǵ không dùng lời mà truyền được. Nhưng người đời quí lời mà truyền lại trong sách..

Nh́n mà thấy được là h́nh và sắc; nghe mà thấy được là tên và tiếng. Buồn thay! Người đời cho rằng h́nh và sắc; tên và tiếng diễn được chân tính của sự vật. [Điều đó không đúng], v́ người biết th́ không nói, người nói th́ không biết ]. (Nam Hoa Kinh -Trang Tử)

 

Tiểu mục 9 này có những điều cần bàn lại:

1. " người biết th́ không nói, người nói th́ không biết "

Nam Hoa Kinh cách đây hơn 2000 năm rồi, theo tôi có thể có những điều trong đây không c̣n thích hợp với thời hiện tại nữa. Đơn cử như câu nói "người biết th́ không nói, người nói th́ không biết". Nếu ta cứ khư khư giữ theo ư nầy th́ đất nước nói riêng và nhân loại nói chung sẽ không tiến bộ được. Người biết được, phát minh, phát kiến được những điều hay mà không nói ra th́ làm sao người khác, người sau học hỏi. Điều hay này sẽ mai một đi, thật tiếc quá.

Chắc v́ ảnh hưởng của các câu nói giống như vầy mà các người Hoa thuờng dấu nghề, không nói cho ai biết, hậu quả đă đưa Trung Hoa thua sút Tây phương.

Câu này theo tôi đề nghị nên viết lại như sau: "người biết th́ nên nói, người nói th́ chưa chắc biết" sẽ chính xác hơn đối với thời bây giờ.

Tại sao chúng ta cứ khăng khăng giữ theo, không chịu xét lại những điều cách đây hơn cả ngàn năm xem có hợp thời bây giờ không? Ví dụ các câu "Xướng ca vô loại", "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" bắt nguồn từ việc Khổng Tử khinh miệt người nữ và truyện" Giả chết để thử vợ" của Trang Tử. Khổng Tử đă từng tàn hại biết bao con hát như Nguyễn Ngọc Ngạn đă viết trong sách "Kỷ niệm sân khấu".

 

2. Cụm từ CẶN BĂ

Theo thiển ư tôi, việc xử dụng từ CẶN BĂ, trong tiểu mục này cũng nên xét lại, nếu muốn tiến bộ.

Việc xử dụng từ CẶN BĂ nầy hơi...quá "mạnh tay" và sẽ gây phản ứng tiêu cực. Tôi sẽ bàn rơ phần dưới.

Chúng ta thử phân tích hai chữ này xem sao?

 

Cặn bă gồm chữ CẶN và chữ BĂ ghép lại

-- CẶN:

-Tạp chất trong nước, lắng xuống đáy vật đựng.

Uống nước chừa cặn (tục ngữ). (Wiktionary)

- Nhận xét ta thấy chất cặn hoàn toàn khác với nước tinh khiết. Nó có thể tốt (hữu ích) hoặc xấu (không có ích).

Thường người ta không dùng lại chất cặn

 

-- BĂ:

Phần c̣n lại của một vật sau khi đă lấy hết chất nước cốt.

Bă mía, bă hèm, bă trầu, ...(Wiktionary)

- Nhận xét thí dụ về bă mía: Bă này vẫn c̣n là mía dù chỉ c̣n ít chất mía.

Các bă có khi vẫn được dùng, không bỏ đi

 

Giờ ta nhận xét lúc hai chữ ghép lại :

-- CẶN BĂ:

- Cái vô dụng, xấu xa, thấp hèn, đáng bỏ đi, ví như phần cặn và bă sau khi đă chắt lọc, lấy hết tinh chất. (Wiktionary)

- Phần chất c̣n lại sau khi đă lọc lấy hết cái tốt, cái tinh chất (nói khái quát); thường dùng để ví cái xấu xa, thấp hèn, chỉ đáng bỏ đi (tratu.soha). Thí dụ: Thải chất cặn bă ra khỏi cơ thể

- Nhận xét ta thấy CẶN BĂ chỉ là xấu, đáng bỏ đi nghĩa tương đối với đồ vật.

Cái nghĩa xấu xa càng mạnh thêm nếu chúng được dùng trong văn chương hay cho người, thí dụ:

Văn chương cặn bă.
Phần tử cặn bă trong xă hội.

 

Bây giờ chúng ta trở lại câu nói của ông thợ làm bánh xe: "sách nhà vua đọc đó chỉ là cặn bă của cổ nhân thôi"

Theo câu nói này vậy kinh sách là xấu xa, không ích lợi ǵ, chỉ đáng bỏ đi?

Ở đây có hai trường hợp:

1. Đối với ông thợ: V́ những người thợ thường ít thích chữ nghĩa, không làu thông câu văn, cho nên những kinh nghiệm trong nghề mà họ thủ đắc, muốn ghi để truyền lại chờ con cháu hơi không mạch lạc, luộm thuộm nên hơi khó hiểu. Lại nữa, con cháu v́ thích nghề, ít thich chữ nghĩa nên đôi khi đọc chữ cũng không tiếp nhận tuyệt đối lắm. Họ phải làm lại từ đầu, cái công việc mà ông cha đă làm để cho thuần thục: "Trăm hay không bằng tay quen". Họ cần phải tốn nhiều thời gian.

Lời của ông thợ phê phán kinh sách có khi là do sự đố kị, ghét bỏ kinh sách chăng?

2. Nếu lời này là do một người nào đó mượn lời ông thợ để chê kinh sách th́ xử dụng hai chữ CẶN BĂ quá "mạnh tay". Chắc v́ "thất chí" hoặc có vần đề ǵ nên mới ghét bỏ kinh sách, thơ văn đến như vậy.

Kinh sách là những kinh nghiệm của người xưa viết ra để truyền lại cho người sau. Con người khác với con vật là ở "tính kế thừa". Chẳng lẽ phải tốn nhiều thời giờ, nhiều khi cả đời để phát minh, phát kiến lại những ǵ người xưa đă. Biết rằng "lời không nói hết được ư", nhưng ít ra nó cũng ghi ra được 50 -60% hoặc hơn nữa cái ư của tác giả, do đó đỡ tốn thời gian cho người sau biết bao, khỏi phải trở lại từ đầu. Nếu tin theo "sách chỉ là cặn bă của cổ nhân thôi" người sau sẽ không đọc sách, cũng như trên, điều hay của người trước phát minh, phát kiến sẽ mai một đi, làm sao nhân loại tiến bộ được !

Nếu cho rằng chúng không chứa hết cốt tủy th́ chỉ dùng chữ BĂ mà thôi. Sách vẫn dùng được, nhưng chưa chứa hết cốt tủy tác giả muốn nói, cần phải t́m hiểu thêm. Không thể dùng cụm từ CẶN BĂ gây tiêu cực.
 


VÀI HÀNG VỀ CHỮ NGHĨA VIỆT CỘNG

1. Ai cũng biết VC là vua chơi chữ, lúc chúng mới vào miền Nam, cũng như bây giờ. Chúng bày ra nhiều danh từ quái dị, ví dụ

- “bức xúc”:_Nghe nó nói, tôi bức xúc quá

không biết từ tiếng nào ra, giở tự điển: đúng nghĩa là “cần kíp”, “khó chịu, bực bội”

- “ẩm thực”, từ Việt Hán, trong khi đă có sẵn chữ Việt thuần túy “ăn uống”,

- “lô-gích” bởi tiếng Pháp logique, nghĩa tiếng Việt có sẵn là “hợp lư”.

 

2. Vốn sắt máu, VC thích dùng những danh từ mang giọng tranh đấu, đàn áp, bắt bớ. Từ ngữ vô tội bỗng bị “nâng cao quan điểm”, trở thành phương tiện phô bày bản chất vơ biền nằm trong tiềm thức của chúng. Vài ví dụ:

- giải phóng mặt bằng; giải phóng chất khí
- quản lư đời em, quản lư đời anh (lấy vợ, lấy chồng)
- xử lư hạt giống; xử lư từ xa (remote control?)
- khống chế tốc độ; khống chế chi tiêu
- giáo án (thay v́ bài dạy)

 

3. Từ ngữ VC chuyển biến, đổi màu như cắc kè tùy theo lập trường, hoàn cảnh.

- Cũng là “phi công” nhưng của “ngụy” th́ trở thành “giặc lái”, của bọn chúng là “chiến sĩ lái”.

- Đối với Trung Cộng, khi c̣n là tay sai, VC nâng bi hết cỡ: nào là “đồng chí anh em”, “t́nh hữu nghị Việt-Trung thắm thiết, môi hở răng lạnh, đời đời bền vững”, nào là “trăng Trung quốc sáng hơn trăng Mỹ [đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ]”. Khi bị Tàu Cộng đánh cho tơi tả ở biên giới cuối thập niên 70 th́ chúng chửi ong ỏng các “đồng chí anh em” là “bọn bành trướng Bắc Kinh”, “bọn sô vanh (chauvin) nước lớn”. Khi đă bán đất, bán biển cho Trung Cộng, và ở cái thế đầy tớ, VC sợ bọn này đến mức không dám viết “tàu Trung quốc" bắn ch́m thuyền đánh cá Việt Nam, mà chỉ dám nói là “tàu lạ”.

 

4. Chuyện vui về chữ nghĩa

Chuyện bị Tào Tháo rượt (cảm giác mắc đi cầu, đi ngoài) sau đây th́ bất kể tuổi tác, già trẻ, nhiếp hộ tuyến sưng hay không sưng. Cũng tại trại Hoàng Liên Sơn, cũng lại chuyện chữ nghĩa. Một cải tạo viên, v́ buổi chiều lén ăn sắn sống, nên đang đêm bị đau bụng, xách đèn chạy vội ra vọng gác, khá xa.

- Báo cáo cán bộ, tôi xin đi cầu.

Thằng vệ binh, giọng c̣n trẻ:

- Không được. Giờ "lày" anh đi ra cầu "nàm" cái ǵ, có ư đồ ǵ?

Anh bạn ta, Nam kỳ rặt

- Hổng phải đâu, đi cầu là đi ỉa đó. Lẹ lẹ giùm lên cán bộ, tui chịu hết nổi rồi...

- Không được, anh phải học cách ăn cách "lói" cho đúng văn hóa nghe chưa: Tôi xin phép đi đại tiện. Các anh toàn "nà" người có tú tài hai, tú tài ba mà không biết dùng chữ cho đúng và "nịch" sự. Anh "lói nại" đi

Im lặng vài giây... Rồi bỗng nghe tiếng bạn ta trả lời ngắn gọn, cộc lốc:

- Thôi khỏi cần nữa, xong rồi.

- Anh "lói" xong rồi "nà" xong cái ǵ?

Bạn ta đùng đùng nổi giận, la lớn dường như không sợ ǵ nữa:

- Là ỉa ra quần rồi đó cha. Không tin cha cứ trèo xuống mà hưởi. Đau bụng thấy mụ nội mà cứ lèng èng quoài.
(Theo Người Lính Già Oregon)
 

 

LỜI KẾT

Xin được lặp lại: Chữ viết chắt lọc từ tiếng nói. Văn và nhất là thơ là tinh túy của CHỮ. Hăy cẩn trọng với CHỮ NGHĨA, phải dùng chính xác. Phải dùng nó cho CÁI ĐẸP, phục vụ nhân sinh. Đừng dùng nó như công cụ hạ thấp người khác, phổ biến điều xấu xa, giả dối. Đừng "ḥa quá nhiều nước lă vào mực." (Modern poets mix too much water with their ink - Goethe) Nghĩa là phải LƯƠNG THIỆN.

Qua những điều nhận xét trên, rơ ràng ta thấy VĂN NẠN ghê gớm lắm. Hăy cẩn trọng và chính xác trong chữ nghĩa. Hăy bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Và cuối cùng hăy nhớ: ĐẤT NƯỚC NÀY SẼ TIÊU VONG NẾU MẤT TIẾNG NÓI VÀ CHỮ VIẾT CỦA RIÊNG M̀NH.

Hăy cùng nhau bảo vệ sự trong sáng, chính xác, và giữ ǵn tiếng VIỆT yêu thương của chúng ta!

Nguyên Lạc


...........................


Tham khảo: Nhượng Tống, Nguyễn Hiến Lê, Người Lính Già Oregon, Nguyễn Từ Quang, Nguyễn Thông, Kim Dung



 

art2all.net