|
TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ KỲ 11
QUAN NIỆM VỀ CHỮ ĐẠO TRONG VĂN HÓA UỐNG TRÀ VIỆT NAM
Ở nước Ta, miền Bắc thường gọi là cây chè; miền Nam lại gọi là cây trà; riêng xứ Nghệ, dùng từ chè khi sử dụng tươi, qua sao chế th́ gọi là trà. Nước chè nấu từ lá tươi được gọi là nước chè xanh và nước hăm từ chè sao chế th́ gọi là nước trà. Về Trà Đạo Việt Nam, tôi xin ghi ra đây những trích đoạn lý thú của nhà nghiên cứu Phan Lan Hoa trong bài Trà Đạo Việt Nam của chị: [ Chữ “đạo” trong triết lư Đông phương là quy luật vận hành của trời đất. Đạo được định nghĩa thật đơn giản “nhất âm nhất dương vị chi đạo - Lăo Tử đạo đức kinh”. Đạo sinh ra vạn vật. C̣n đức là biểu hiện cụ thể của đạo trong từng sự vật, làm cho vật nào ra h́nh thù vật ấy và vạn vật tồn tại được trong vũ trụ là do đức. Cho nên dụng đức phải thật nhuần nhuyễn theo nguyên lư của đạo sao cho thật tự nhiên, càng tự nhiên càng gần với đạo, phải làm sao cho phù hợp với quy luật âm dương. “Vật cực tắc phản”, cái ǵ thái quá cũng sẽ trở nên bất cập ngay sau đó. Đạo là thứ triết lư vũ trụ, luận về thiên địa, ngũ hành, biến dịch âm dương, về năng lượng, chân khí. Đức dựa vào nguyên lư của đạo mà triển khai ra phép tu luyện thân tâm nhằm hướng tới đạt được trường sinh bất tử. Cho nên những ǵ tuân theo tự nhiên th́ hợp với lẽ đạo. Hơn ai hết các nghệ nhân chế biến trà Việt Nam thấu hiểu điều đó, nên mới dám liều đưa cả mười đầu ngón tay vào chảo để đùa với lửa, ḥng cảm thụ sâu sắc nhất hơi thở của từng cánh trà đang trở ḿnh trong “ḷ luyện đan”, cố gắng bảo tồn một cách hoàn hảo nhất tinh, thể tự nhiên của trà. Thả hồn vào công việc và có trách nhiệm tới cùng với công việc là cái đức của người lao động, cũng ví như một phép tu luyện công năng của đạo vậy, kết quả của ư thức tuân theo lẽ đạo thật mĩ măn, sản phẩm dâng đời của họ là dư vị trà mê hoặc cả trần gian. Nhầm lẫn chăng? “ḥa – kính – tịnh” không phải là đạo, mà đó chỉ mới là ba trong những đức tính của con người. Chỉ có “thanh” mới là đạo tính của thiên địa. Cho nên phép thưởng trà chỉ đạt được tính thanh khiết của trời đất khi thể của cả trà và nước c̣n giữ được đủ đầy về cả tinh lẫn thần. Tinh là năng lượng của vạn vật, thần là năng lượng của trời đất. Cả hai thứ ấy (tinh và thần) đều là nguyên khí quốc gia. “Nhất nước” bởi nước bồi bổ thần lực cho trà đă đành, nhưng c̣n giúp trà gột rửa bụi bặm, tẩy uế tạp chất, giữ cho thể chất của trà được tràn đầy tinh lực. Đây có lẽ là lư do v́ sao thưởng trà mà lại đề cao nước lên trên trà. Cái lư này của ông cha người Việt Nam há chẳng phải hợp lẽ đạo lắm ư? Sao hậu duệ cháu con hôm nay lại bảo Việt Nam không có trà đạo? Sao cái ǵ tôi cũng thấy ngược với mọi người thế nhỉ? Người Việt Nam uống trà, không g̣ ép thái quá về lễ nghĩa, không lạm dụng thái quá tṛ biểu diễn nghệ thuật, để bốc đồng đẳng cấp trà. Tôn vinh nguyên lư tự nhiên, tôn vinh tinh thần của thiên nhiên. Ḥa nhập chân khí của trà với nước, của nước với thiên địa nhân. Đạt được như thế chẳng phải là đạt Đạo rồi sao? Bàn về chữ đạo là vậy, nên ai bảo Việt Nam không có trà đạo là tự khoe ḿnh vô đạo. Bản chất của người Việt Nam được du khách đánh giá là khiêm nhường, hay cười và hiếu khách. Có vị du khách c̣n cất công đi cùng mọi ngơ hẻm làng quê Việt Nam để thực hiện bộ sưu tập “Nụ cười Việt Nam”. Đứng trên lư thuyết của phép tu tâm mà b́nh phẩm, th́ người nào mà luôn cười được trong mọi hoàn cảnh, đạt được đức tính khiêm nhường, người ấy đă hành đạo tự nhiên đến mức nhuần nhuyễn. Lạc Việt là cái nôi của Đạo giáo, nên người Việt không chờ đến lúc khách tới nhà mới bày tṛ lễ giáo, bởi phép tắc ấy chưa hẳn là đạo? cũng không cần biểu diễn nghệ thuật pha hăm làm chi, bởi thái quá dễ mất đi cái đức “tịnh” cần có khi thưởng trà. Trà Việt Nam ẩn chứa trong ḿnh năng lượng của trời đất và vạn vật, chẳng cần phải có hành động thúc đẩy làm ǵ. Dư vị ngọt đắng mỗi khi đă lắng đọng trên đầu lưỡi rồi, sẽ tự khai phóng tâm kinh con người thôi. Và trà nhân sành sơi sẽ cảm thụ được cái đức của người chế ẩm đến đâu để mà nể trọng, đạo tự nhiên mà thành giữa chủ khách đôi bên. Sự thấm nhuần đạo lư không phải là chuyện nói ngoa mà được. “Trà nô – Tửu tướng” là triết lư trong thú ăn chơi của chúa Trịnh Sâm (1739 – 1782) đă được học giả nổi tiếng Vương Hồng Sển giải thích như sau: “... có nghĩa là uống rượu th́ phải thật sang trọng và oai phong, uống như đại tướng vừa thắng trận ban sư hồi trào, có quân hầu tiền hô hậu ủng, có ca nhi chuốc rượu hiến tửu; nhưng trái lại, khi ẩm trà th́ phải tự coi ḿnh như là nô bộc của thứ đồ uống thanh nhă này...”. Chẳng biết trà dẫn đạo đến cho người, hay là người đưa đạo vào trà, cũng có thể cả đă hai dẫn dụ nhau gần với đạo lư. Chúa tự coi ḿnh là nô bộc của trà - trà nô, nên hàng sáng khi chúa ngự trà, th́ bà phi Tuyên là người tự tay quạt ḷ đun nước cho chồng, c̣n chúa Trịnh Sâm đích thân tự ḿnh hăm trà ngự thưởng chứ không sai khiến người hầu. Trà cụ (đồ uống trà) của chúa đều do chúa tự thiết kế mẫu và kư kiểu riêng tại ḷ sản xuất trà cụ Cảnh Đức Trấn. Chúa c̣n đem triết lư trà nô vào trong các buổi ngự triều, dùng trà thay rượu để ban thưởng mỗi khi có ai đó trong các quan triều thần lập công. Thần tự nguyện làm nô bộc của chúa, chúa lại tự nguyện làm nô bộc của trà, rồi chúa lại đem thứ ḿnh sủng ái là trà ban cho nô bộc của ḿnh là thần, cái văn hóa ứng xử ấy của chúa răn dạy đạo lư ở đời, quan quân phải như cá với nước, luôn phải trung thành với nhau th́ nghiệp nước mới vững bền. Văn hóa Trà nô do chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm khai sáng. Sau trở thành nét văn hóa uống trà đặc trưng của người Việt phổ biến ở thế kỷ 18 – 19. Giới nho sĩ ở thời kỳ này thường có cái nh́n miệt thị đối với những ai uống trà mà phải để cho người hầu pha trà, tức không tự ḿnh pha trà theo phong cách Trà nô. Lâu dần thành nếp, ngày nay trong các gia đ́nh Việt, người đàn ông vẫn giữ thói quen tự ḿnh pha trà để uống, vợ con chỉ ủng hộ bằng cách đun dùm phích nước để sẵn mà thôi. Hiện ở kinh thành Huế một nhân chứng sống hiếm hoi, từng tận mắt chứng kiến cung cách Trà nô trong cung đ́nh Việt, người ấy là nghệ nhân tranh thêu Lê Văn Kinh. Năm 2007, lần đầu tiên ông quyết định công bố bộ trà cụ là báu vật vua ban của ông ngoại ḿnh là quan Tham tri bộ lễ Nguyễn Văn Giáo, triều vua Khải Định (1885 – 1925). Xin trích một đoạn ghi chép về lời kể của ông Lê Văn Kinh từ cuốn “Văn minh trà Việt” của trà nhân Trịnh Quang Dũng: “Một viên lính lệ chuyên đun nước dưới bếp bằng một siêu đồng lá mỏng tang rất chóng sôi. Khi nước sôi, nước được chuyên sang ấm cù lao đưa viên lính lệ khác dâng lên cụ Tham tri. Là chủ buổi thưởng trà, quan Tham tri bộ lễ Nguyễn Văn Giáo đích thân tự tay lau, tráng ấm chén, chuẩn bị bàn trà và pha tuần trà đầu. Chủ trà nâng chén bằng hai tay mời khách cùng đồng ẩm. Đợt đồng ẩm này như một nghi lễ mở đầu buổi thưởng trà theo cung cách Trà nô. Khi ấy các lính lệ đều phải lui ra để các cụ ẩm trà và đàm luận thi ca, nhân t́nh thế thái. Sau tuần trà đầu, vị chủ trà có thể tiếp tục pha trà hoặc trao quyền pha trà mời khách cho người thân tín, danh cao trọng vọng ngồi bên phía tay phải ḿnh tiếp tục cho tới hết buổi thưởng trà. Một viên lính lệ đứng xa, mặt cúi xuống phe phẩy hầu quạt các cụ bằng những chiếc quạt tay có cán dài chế tác từ lông ngỗng, lông công tinh xảo”. Pha trà, việc ấy ở các xứ khác là việc dành cho người phục vụ. C̣n ở Việt Nam lại có chuyện bề trên pha trà mời hạ cấp dưới trướng. Một thái độ dân chủ, tôn trọng người hiền tài h́nh thành trong xă hội, người đời nay chớ nông nổi ng̣i bút khi khen chê chế độ phong kiến là lạc hậu. Chỉ là tách trà thôi mà rờ rỡ được chữ đạo để đời. Văn hóa ứng xử ấy, bá quan văn vơ thời nay mấy ai đă sâu xa được như vầy chăng? Thói tục của người Việt ta xưa nay ăn uống mà chép miệng là bất lịch sự, cho nên ai đó chớ có v́ một chút sĩ diện ta đây sành Tàu, sành Nhật mà vội vàng tâng bốc, vội vàng bắt chước xứ người chép miệng ba bốn cái khi uống trà. Bởi bắt chước người như vậy không chỉ phá hỏng đi cái phép tắc của dân tộc ḿnh, mà coi chừng bị chế diễu là vô phép vô tắc đấy. Hăy khum năm ngón tay lại quanh chén trà, làm cho chén trà lọt trong ḷng tay. Tay c̣n lại áp bên ngoài tay kia, để vài giây cho cảm nhận được hơi nóng ở ḷng tay, đưa dần lên mũi và hít nhẹ, dùng trí năo của ḿnh dẫn dụ cho làn hương trà thơm đi vào đan điền thần. Rồi nhấp một ngụm vào miệng và ngậm lại, để cho trà từ từ lan vào chân răng, cổ họng, rồi lại thở nhẹ ra bằng mũi. Đưa nước trà vào vị (bao tử), hít một hơi thật sâu, nín thở và đếm đến 9, dùng ư chí mà dẫn dụ hơi ấm trà thơm vào đan điền khí, rồi đan điền tinh, lại thở nhẹ ra và mách bảo ư chí của ta rằng hăy tĩnh lặng ở nơi tâm hồn. Thoáng chốc, ta thấy các đan điền đều được khai thông, đầu óc ta trở nên nhẹ nhơm lạ thường... Có nhiều phong cách uống trà được người xưa đúc kết: Độc ẩm một ḿnh th́ gọi là U (trầm mặc); hai người đối ẩm th́ gọi là Thắng (vui tươi); ba người cùng thưởng ẩm th́ gọi là Thích (là thân bằng 戚友, là vui buồn có nhau 休戚與共); c̣n chén trà được bề trên ban thưởng th́ gọi là Tứ 賜 (ban ân)...] (Trà Đạo Việt Nam - Phan Lan Hoa)
Để chấm dứt tiểu mục Trà Đạo
Việt Nam này, tôi xin dùng bài thơ “ Hương chè xóm
cũ” của bác sĩ Đinh Nhật Hạnh (từ bài viết của
Phan Lan Hoa). Vì bài thơ dài nên chỉ trích đoạn:
PHẦN PHỤ LỤC: GIAI
THOẠI, VĂN VÀ PHIẾM LUẬN I. Giai thoại trà
Uống trà, nói chuyện trà mà thiếu
những giai thoại về trà quả mất đi phân nửa hồn trà. Bao
quanh những huyền thoại trà có những giai thoại nửa hư,
nửa thực để ca tụng trà. Cái thú của giai thoại là cho
chúng ta một nụ cười hóm hỉnh, một triết lư thâm trầm
hay một câu thi phú đối đáp xuất thần. Dưới đây là một
số giai thoại lượm lặt được: 1. Giai thoại về thuốc linh đan [ Người Trung Hoa từng nhắc đến ḷ luyện kim đan, viên thuốc linh đan cũng như một loại trà tên là “trà tố nữ” (hay trà trinh nữ) như là một thành tích kỳ diệu của văn hóa nước họ. Nhưng tư liệu của người Tàu viết về những thứ này lại rất mơ hồ không rơ ràng, khiến cho người Trung Hoa đời sau cho rằng đó là những thứ không có thật, mà chỉ là truyền kỳ. Vậy mà câu chuyện ḷ luyện kim đan và trà trinh nữ lại là chuyện có thật được ghi chép trong lịch sử Việt Nam, là Made in Việt Nam 100%. Gíáo sư Hoàng Xuân Hăn trong quá tŕnh nghiên cứu về lịch sử vùng đất La Sơn (Hà Tĩnh) đă lục t́m được tư liệu ghi chép về loại trà này. Theo đó ghi chép của lịch sử và cả ghi chép của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, th́ chính ông là người truyền phép tu tiên và phương pháp luyện trà trinh nữ cho quan tham tụng Nguyễn Hoăn (năm Cảnh Hưng thứ 44 - 1784, đời chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm). Sau đó được Nguyễn Hoăn triển khai luyện đan ở chốn cung đ́nh và trở thành một loại trà thượng phẩm, thịnh hành ở thời Lê – Trịnh. Ghi chép tại mục Tiên khảo Đạo tu lục - Nguyễn Gia Thế Đức Phổ ḍng La Sơn Phu Tử như sau: “...Nguyễn Hoăn nuôi con gái 15 tuổi để làm đỉnh, chú thích rơ chép mật truyền biết rằng kim đan đại dược là ở nữ đỉnh (đỉnh là đồ nấu thuốc tu tiên, nữ đỉnh là con gái đồng trinh dùng để thay đỉnh luyện đan) ...giờ Tuất, giờ Hợi lúc âm khí thịnh, làm phép thái thủ, trên cho hấp khí trời, dưới lấy tinh. Đỉnh lực nào kém lập tức cho thay. Trong khuê pḥng thường có ba bốn người, người ở lâu được vài năm, người ở mau được tám chín tháng, cả thảy hơn trăm nữ đỉnh..”. Như vậy đă rơ: Kim đan đại dược đồn đại xưa nay trong thiên hạ chính là trà trinh nữ. Người xưa đợi đến giờ âm thịnh của tuần trăng, lựa chọn những thiếu nữ đồng trinh ở độ tuổi 15 – 16 có khả năng toát năng lượng âm tốt nhất cho quấn trà quanh người, rồi để nằm phơi dưới trời khuya để hấp thu hai nguồn năng lượng âm của trăng và của người trinh nữ. Có người hiểu rằng treo túi trà vào chỗ kín của nữ giới tôi e là không phải? Tinh ở đây nên hiểu là tinh khí. Như tôi đă có nói ở phần trên bài viết: thần là năng lượng của vũ trụ, tinh là năng lượng của vạn vật, “dưới lấy tinh” trong mô tả của La Sơn Phu Tử ư là hấp thụ lấy nguồn tinh lực của người trinh nữ. Thứ trà ấy mang năng lực âm, chỉ dành cho nam giới dùng trong phép tu tiên, uống vào th́ cân bằng âm dương, cơ thể trở nên sức lực dẻo dai phi thường. La Sơn Phu Tử cũng mô tả Nguyễn Hoăn: “Nhờ dày công tu luyện, nên ông già mà tóc bạc, mặt trẻ. Hơn 60 tuổi c̣n sinh 4 con”.
Về cuộc đời của Nguyễn Thiếp, ông đỗ
Tam trường năm Mậu th́n (1748). Được bổ làm quan tri
huyện ở Nghệ An dưới thời Lê - Trịnh, nhưng về sau ông
đă cáo quan lên núi Thiên Nhận tu tiên. Đạo tu tiên là
ḍng đạo chính thống của người Việt Nam, có từ thời vua
Hùng trên đất Hà Tĩnh. Truyền thuyết Tiên Dung – Chử
Đồng Tử c̣n lưu lại vết tích trên núi Quỳnh Viên mà
Hoàng giáp tiến sĩ Bùi Dương Lịch đă nhắc đến khi nói về
suối Hiêu Hiêu. Cho đến thế kỷ thứ 18, 19, biệt danh của
các văn nhân chí sĩ xứ Nghệ An thể hiện họ đều là các
đạo sĩ. Sau do thịnh t́nh của vua Quang Trung, mời đến 3
lần, Nguyễn Thiếp mới chịu xuống núi và nhận lời làm
quân sư của vua Quang Trung. Khi nhà Nguyễn Tây Sơn thất
thế. Vua Gia Long Nguyễn Ánh tiếp tục vời ông vào triều
nhưng ông từ chối, tiếp tục lên núi tu tiên và mất ở đó.
Nơi ấy ngày nay vẫn c̣n di tích. Thứ trà mà Nguyễn Thiếp
sử dụng để luyện đan ắt hẳn là thứ trà búp đặc sản địa
phương của vùng La Giang quê ông.] (Trà Đạo Việt
Nam - Phan Lan Hoa) 2. Giai thoại về Nguyễn Khuyến Một giai thoại rất có vẻ thực liên quan đến một loài cây cũng gọi là trà nhưng thường người ta gọi là sơn trà hay trà mi. Giai thoại này liên quan đến một nhà thơ nổi tiếng Việt Nam là cụ Nguyễn Khuyến. Vào năm 1905, tuần phủ Hưng Yên tên là Lê Hoan có tổ chức cuộc thi thơ “Vịnh Kiều”. Dù không muốn tham gia, nhưng nhiều lần quan tuần phủ triệu mời nên cuối cùng cụ Nguyễn Khuyến đành tham dự ban giám khảo. Trong cuộc thi này Chu Mạnh Trinh có gửi hai chục bài đến dự thi và đoạt giải nhất kỳ thi này. Tuy nhiên. khi chấm thi Nguyễn Khuyến thấy thơ Mạnh Trinh có hai câu: Làng nho người cũng coi ra vẻ, Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay! Là một nhà nho, cụ Nguyễn Khuyến rất nghiêm trong ư tứ câu đối, phê ngay: Rằng hay th́ thật là hay, Đem nho đối xỏ lăo này không ưa. Tuy đoạt giải nhất nhưng lời phê này lọt đến tai Chu mạnh Trinh, Trinh để bụng không vui. Về sau khi làm án sát Hưng Yên, lúc đó Nguyễn Khuyến mắt đă ḷa, Mạnh Trinh biếu cụ Nguyễn một chậu hoa trà (loài hoa chỉ có sắc mà không có mùi hương) với dụng ư châm biếm cụ Nguyễn không biết thưởng thức văn thơ. Cụ Nguyễn Khuyến cũng hiểu và viết một bài thơ gửi Chu Mạnh Trinh như sau: Tết đến người cho một chậu trà, Đương say c̣n biết cóc đâu hoa! Da mồi tóc bạc, ta già nhỉ, Áo tía đai vàng, bác đó a? Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá, Gió to luống sợ lúc rơi già! Lâu nay ta chỉ xem bằng mũi, Đếch thấy hơi thơm, một tiếng khà!
Chu Mạnh Trinh đọc xong mới thấy hổ
thẹn ḷng nhỏ nhen của ḿnh và càng khâm phục phẩm chất
cụ Nguyễn. 3. Giai thoại về Trà sư Nhật Chỉ ai sống v́ cái đẹp mới được chết thật đẹp. Giây phút cuối đời của các đại trà sư vẫn đầy vẻ tao nhă tuyệt đẹp như khi họ từng sống. Luôn đi t́m sự ḥa điệu với nhịp sống vĩ đại của vũ trụ, các trà sư măi măi chuẩn bị cho sự ḥa nhập vào cơi hư vô. Câu chuyện ‘Chén Trà Cuối Cùng của Lợi Hưu” sẽ măi vươn lên đỉnh cao của sự bi hùng đó. T́nh bằng hữu giữa Lợi Hưu (Rikiu) và Thái Cáp Tú Cát (Taiko-Hideyoshi) dài bao lâu, sự quư kính đối với bậc trà sư của người chiến binh vĩ đại càng cao bấy nhiêu. Nhưng t́nh bạn của một bạo chúa luôn là thứ vinh dự nguy hiểm. Thời ấy đầy rẫy sự phản trắc, và thậm chí người ta cũng chẳng dám tin vào người thân gần gũi nhất. Lợi Hưu (Rikiu) chẳng qua chỉ là một đ́nh thần đê hạ, vậy mà ông thường cả gan biện luận trái ý với vị chúa công bạo tàn của ḿnh. Lợi dụng những lúc có sự lạnh nhạt giữa Thái Cáp và Lợi Hưu, kẻ thù của Lợi Hưu cáo buộc ông liên can vào một âm mưu hạ độc bạo chúa này. Chuyện này x́ xào đến tai Tú Cát (Hideyoshi) thứ nước uống màu xanh lục chết người này được pha chế bởi một trà sư và dành dâng lên cho Tú Cát. Với Tú Cát, chỉ cần nghi ngờ thôi cũng đủ là bằng cớ cho hành h́nh ngay tức khắc, và chẳng lời kêu xin nào lay chuyển được v́ quân chủ đang thịnh nộ. Chỉ có một ân điển dành cho kẻ bị kết án – vinh dự được tự xử ḿnh. Vào ngày định mạng tự xử, Lợi Hưu (Rikiu) cho vời các đại môn đồ của ḿnh lại dự nghi lễ trà lần cuối. Đến giờ đă định, các khách mời buồn thảm đứng ngay trước cổng, dưới mắt họ những hàng cây hai bên lối đi trong vườn dường như đang rùng ḿnh, và trong tiếng xào xạc của tàn lá nghe như có tiếng rên rỉ của những vong linh vô chủ. Mấy chiếc đèn đá xám xịt (Thạch đăng lung) sừng sững như những âm binh đứng gác trước cổng Quỷ Môn Quan. Một làn hương thơm từ trà thất tỏa ra, đó là lời triệu mời khách vào trong. Từng người một bước tới và an tọa vào vị trí của ḿnh. Trên sàn gian treo một bức hoành, ḍng chữ tuyệt đẹp của một vị tăng thời xa xưa nói về tính không của muôn vật trên cơi trần này. Ấm nước reo, nó đang sôi trên ḷ than hồng, nghe như tiếng ve sầu trút ra lời phiền muộn của chúng trước sự chia ly với mùa hè. Chủ nhân bước vào trà thất. Mỗi người lần lượt được mời trà, và mỗi người lần lượt tĩnh lặng uống cạn chén của ḿnh; chủ nhà dùng cuối cùng. Theo nghi thức, vị khách trưởng tôn xin phép xem xét trà cụ. Lợi Hưu bày ra mọi thứ trà cụ, với cả bức hoành. Sau khi mọi người buông lời tán thán, Lợi Hưu biếu mỗi người một món đồ làm kỷ vật. Chỉ c̣n lại chiếc chén ông đang dùng. “Chiếc chén này sẽ không c̣n, nó đă bị kẻ bất hạnh này làm cho ô uế nên chẳng thể để ai dùng nữa.”. Nói xong ông đập vỡ chén ra từng mảnh. Buổi lễ đă kết thúc, khách dự không ai cầm được nước mắt, nói lời vĩnh quyết và lui ra khỏi pḥng. Chỉ một người, người gần gủi và thân cận nhất với Lợi Hưu, được yêu cầu ở lại làm chứng nhân cho đoạn cuối. Lợi Hưu cỡi chiếc áo trà hội ra và cẩn thận gấp lại trên chiếu, lộ ra chiếc tử phục trắng toát không một vết bẩn mà ông đă mặc giấu từ trước ở bên trong. Ông tŕu mến nh́n ánh loé phát ra từ lưỡi thanh đoản đao định mệnh, rồi ngâm tặng nó mấy vần thơ diễm tuyệt: Chào ngươi, Ôi thanh gươm vĩnh hằng! Quán tưởng Phật đà Và quán tưởng Đạt Ma Ngươi có ch́a khóa đi vào đại đạo. Lợi Hưu đi vào cơi hư vô với nụ cười nở trên khuôn mặt. (Trích: Trà Đạo - Bảo Sơn dịch từ The Book of Tea của Okakura Kakuzo)
Sách The BookTea của Okakura Kakuzo 4. Trà và Thiền a. Nan-in, một Thiền sư Nhật sống vào thời Minh Trị (1868-1912), tiếp một giáo sư đại học đến hỏi về Thiền. Nan-in mời trà. Ông đă rót đầy tách của khách nhưng vẫn tiếp tục rót thêm. Vị giáo sư ngồi nh́n nước trong tách tràn ra cho đến khi không kiềm ḿnh được nữa: “Đầy quá rồi. Xin đừng rót nữa”. Nan-in nói: “Giống như cái tách này, ông cũng đầy ắp những quan niệm, những tư tưởng của ông. Làm sao tôi có thể bày tỏ Thiền cho ông được, trừ phi ông cạn cái tách của ông trước? (Góp Nhặt Cát Đá - Đỗ Đình Đồng dịch) b. Một chàng trai t́m đến nhà sư, anh hỏi: -Thưa thầy! Con muốn buông xuôi tất cả, nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng. Nhà sư đưa anh một cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá, nhưng anh vẫn không buông tay, mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi rồi uống và cảm nhận thấy rất ngon. Lúc này nhà sư mới từ tốn nói: - Cứ đau là buông th́ con sẽ bỏ lỡ những cái tốt đẹp sau đó!
Vấn đề: Tại sao cứ đau là phải buông,
trong khi c̣n có thể làm cho nó tốt đẹp hơn? "Trong
cuộc đời vốn phức tạp này, chỉ có ta mới biết lúc nào
nên cầm lên & bỏ xuống chuyện của chính ḿnh." -
(Lời dạy từ các Thiền sư) II. Văn viết về trà Xin trích ra đây vài đoạn lý thú bài tản mạn "Tôi Nghe Tiếng Nước Reo Trên Bếp" của văn thi sĩ Nguyễn Xuân Thiệp liên quan tới trà. [ Tiếng nước reo trên bếp là âm thanh quen thuộc của nhiều người Việt ḿnh. Với Nguyễn nó gợi lên nhiều h́nh ảnh và cảm xúc của những chặng đời đă qua. Nó là âm thanh của đoàn viên ấm cúng mà đôi khi cũng là tiếng vọng của cô đơn khi ta đă đi vào buổi chiều của đời với nhiều mất mát ... … Ở Đà Lạt, c̣n có những buổi sớm mai đun nước pha trà trong quán Lục Huyền Cầm của Lê Uyên Phương. Trà tường vi. Thật là tuyệt vời. Tiếng nước reo trong căn nhà gỗ, những cánh tường vi nổi trong chung trà thơm ngát. Hai anh em bàn về việc đưa những bài Sử Ca (thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhạc Lê Uyên Phương) lên sân khấu –có ban hợp xướng, và người đọc thơ dẫn chương tŕnh và cái màn phông là cảnh một ải quan với vầng trăng khuyết. Tất cả những dự tính đó cũng như bao điều đẹp đẽ ở đời cuối cùng đă không thực hiện được. Chỉ c̣n tiếng nước reo trên bếp hồng và mùi hương trà tường vi trong trí tưởng. Âm thanh của ấm nước reo trên bếp và mùi hương cúc, dạ lư hương, hương tường vi bỗng tắt hết khi bước chân vào những trại tù Cộng Sản. Thỉnh thoảng lắm mới nghe được tiếng nước sôi trong những lon guigoz cải thiện rau củ. Ôi những âm thanh của nhọc nhằn, khổ ải. Cho tới ngày ra trại, đi định cư ở Mỹ. Sang tới Mỹ ấm nước lại reo mỗi buổi sáng mai. Cuộc đời ấm trở lại. Xin hăy đọc một đoạn trong bài Trà Ca: "Đầu xuân, một bạn văn ở Los Angeles gởi cho gói trà. Trà mang nhăn hiệu Tuyết Sơn, mở ra thơm ngát. Lúc bấy giờ tuyết phủ trắng thành Oklahoma, nơi tôi ở. Chỉ trong một đêm, phong cảnh đă đổi khác, như trong truyện thần tiên của Hans Christian Andersen. Buổi sáng mở cửa nh́n ra vườn, ngạc nhiên đến sững sờ, vừa cảm động vừa hân hoan. Tuyết, lần đầu tiên nh́n thấy trong đời. Vội vàng vào bếp đun ấm nước. Tiếng nước reo như tiếng gió qua lũng thông vàng. Hương trà bốc lên trong tĩnh lặng sớm mai khi tuyết đă trắng mái nhà, cây cối, bờ rào và những con đường hiu quạnh. Một vài bóng quạ chập chờn, điểm những chấm đen thẫm, như trong tranh mộc bản. Nâng chung trà lên, nóng ấm trong ḷng bàn tay. Uống vào một ngụm, nh́n ra tuyết bay, thấy ḿnh là người hạnh phúc trên đời. Th́ ra, hạnh phúc vẫn có đấy, dẫu hiếm hoi và nhỏ bé so với những nỗi khổ vô cùng tận của kiếp người. Vậy, bạn bè ơi, hăy tận hưởng những hạnh phúc phù du ấy đi, để hồn tan trong hương trà buổi sớm mai, và nghĩ đến những điều tốt đẹp trên đời". Đó là những ngày đầu mới tới Mỹ ở Oklahoma. Sau này ở Dallas, trong ngôi nhà của con trai trên đường White Swan hay trong căn townhouse thuê trong khu Woodcreek, tiếng nước vẫn reo mỗi sáng mai. Vợ phải thức dậy đi làm sớm nên ḿnh dậy theo nấu ấm nước pha cà phê và trà hai người cùng uống. Ôi những tháng năm hạnh phúc đă qua làm sao quên được. Bây giờ, mỗi sáng ḿnh vẫn đun ấm nước pha cà phê nhưng cà phê chỉ một ḿnh. Cuộc đời sang trang khác, cô liêu và quạnh quẽ, may c̣n tiếng nước reo để tưởng tượng một h́nh bóng xa…]
(Tôi Nghe Tiếng Nước Reo Trên
Bếp - Nguyễn Xuân Thiệp, Phố Văn Blog) III. Phiếm luận 1. Trà tam rượu tứ Thử tìm hiểu xem câu tục ngữ "trà tam rượu tứ" này muốn nói điều gì? Có nhiều ý kiến: 1.1. “Trà tam, rượu tứ” là ǵ? Xin thưa: Độc ẩm một ḿnh th́ gọi là U (trầm mặc); hai người đối ẩm th́ gọi là Thắng (vui tươi); ba người cùng thưởng ẩm th́ gọi là Thích (là thân bằng 戚友, là vui buồn có nhau 休戚與共); c̣n chén trà được bề trên ban thưởng th́ gọi là Tứ 賜 (ban ân). "Trà tam" gọi là Thích: là trà uống v́ thân bằng, v́ vui buồn có nhau; c̣n "rượu tứ" là thứ rượu ban thưởng giữa quân thần, giữa bề trên bề dưới. Nhưng đến đời Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, khi chúa tự coi ḿnh là nô bộc của trà, th́ rượu tứ đă được thay bằng trà tứ, vậy là phong phú Việt Nam, rượu tứ có mà trà tứ cũng có trên đời. Có trà thưởng th́ cũng có trà phạt, khi thấy chủ nhân hắt chén trà ra sân, th́ khách nên lịch sự đứng dậy cáo từ ra về, bởi đó là thái độ không muốn tiếp chuyện nữa rồi. ( Nguồn: Trà Đạo Việt Nam - Phan Lan Hoa) 1.2. Nếu tách riêng "chè tam" th́ có thể hiểu là "trà tam tuần" (3 lần pha trà -3 lần cho nước vào ấm trà). Uống trà không nên uống quá 3 tuần, v́ lần nước thứ ba trà đă nhạt, mất ngon. Phần trên đã nói: Nước thứ nhất được gọi là Hoàng Đế trà, theo nguyên tắc Quân Sư Phụ; nước thứ hai là Lăo Bá, tức là cha mẹ ông bà, hay thầy giáo, người ḿnh kính trọng; Nước thứ ba gọi là B́nh Dân trà. C̣n “rượu tứ” có thể hiểu uống rượu không nên uống quá 4 chung, v́ sẽ làm người ta say, gây ra những hậu quả đáng tiếc. Nếu uống trong định mức đó th́ ngon và có lợi cho sức khỏe, c̣n uống quá số lượng đó là thừa, mất ngon và kết quả là rất khó lường. Rượu th́ nồng độ phải là “sủi tăm”, “cuốc lủi”, sực nức cay nồng, không nhạt thếch, không cháy cổ mới là rượu ngon, nhắm đến chén thứ tư- “tửu tứ” là vừa đủ độ ngà, là ranh giới giữa chừng mực và độ bốc. 1.3. Có người giải thích “trà tam rượu tứ” là uống trà phải uống ba người, uống rượu phải uống bốn người! Họ biện luận rằng, uống trà là để bàn thế sự, kim cổ đông tây, nên cần người thứ ba làm trọng tài! C̣n uống rượu phải có bốn người, chia 2 cặp nói chuyện, rồi thay nhau mới vui (“Tửu nhập ngôn xuất”: Rượu vào lời ra). Ý này có vấn đề: - Nếu nói uống trà cần người thứ ba để làm trọng tài, thi lỡ người thứ ba hùa theo người kia th́ sao? (thường xảy ra) - C̣n nếu nói khi uống rượu cần bốn người để chia phe cho cân sức, th́ lỡ ba người chọi một th́ sao? (thường xảy ra) 1.4. Ý kiến thứ ba dựa vào Kinh Dịch (của tác giả bài viết): Trước hết ta nên chú ý trong Kinh Dịch: - Số lẻ: 1, 3, 5 ... là số dương; số chẳng: 2, 4, 6 ... là số âm: - Chữ dương (陽) gồm hai phần: bên trái là sườn núi hoặc bức tường; bên phải, trên có mặt trời lên khỏi chân trời, dưới là những tia sáng mặt trời chiếu xuống: - Do đó, dương trỏ phía có ánh sáng, phía sáng. - Chữ âm (陰) gồm hai phần: bên trái cũng là sườn núi, bên phải, trên có nóc nhà, dưới có đám mây: -Do đó, âm trỏ phía mặt trời bị che khuất, không có ánh nắng, phía tối. Phía có ánh nắng th́ ấm áp, cây cối tươi tốt; còn phía không có ánh nắng th́ lạnh lẽo, cây cối không phát triển. Do đó âm/ dương từ cái nghĩa tối/ sáng chuyển qua nghĩa lạnh/ nóng, đêm/ ngày, mùa đông/ mùa hè, mặt trăng/ mặt trời, chết/ sống, yếu/mạnh, giống cái/ giống đực, suy/ thịnh, xấu/ tốt, hư/ thực, tiểu nhân/ quân tử, đóng/ mở, đục/ trong... Tam = 3, tượng trưng cho Càn/Trời -Tam Thiên (3: tròn) Tứ = 4, tượng trưng cho Khôn/Đất - Tứ Địa (4: vuông) Do nghĩa này câu "trà tam rượu tứ" người xưa quan niệm là uống trà - dương - thanh tao, cao nhă ... ; còn uống rượu - âm - phàm tục. Lại nữa người xưa cũng thường nói: Ăn ở vuông tṛn: Tam=tṛn, Tứ= vuông. Đồng tiền xưa tṛn bao vuông ở giữa, cũng nói rơ sự cao nhă của tṛn bao trọn cái "gồ ghề" "sắc cạnh" vuông. "Ăn ở sao cho vuông tròn" nghĩa là ăn ở sao cho phải đạo. Vì uống trà suy nghĩ thâm trầm, kín đáo ... còn uống rượu thì ồn ào, "rượu vào lời ra", nên thời Pháp thuộc, mật thám thường theo dõi uống trà hơn uống rượu. Thời này giống chăng? 1.5. Ý nghĩ sau đây cũng hợp lý: Tam: 3 muốn nói là ít người, Tứ: 4 là nhiều người. Uống trà thì cần ít người, uống rượu thì nhiều người mới hay.
2. Ngôn ngữ hai miền
Anh chàng sinh viên gốc Hà Nội vừa vô
nam quen được cô bạn gái dễ thương. Sau một hồi tán tỉnh
mời được cô bạn đi uống nước, nhưng trong ḷng thắt thỏm
v́ túi tiền quá mỏng. T́m được một quán nước vỉa hè, hai
người ngồi uống nước hàn huyên. Anh chàng vốn bệnh sĩ Hà
Nội cao giọng kêu cô chủ quán: “Chị ơi cho xin hai ly
chè”. Hai người tiếp tục hàn huyên nhưng chờ quá lâu mà
chẳng thấy mang trà ra. Anh chàng hỏi lại. Cô quán nhiệt
t́nh trả lời: “Dạ, em nhờ đứa em đi mua chè cho anh chị
rồi”. Anh chàng chẳng hiểu ǵ, c̣n cô bạn gái phá lên
cười. “Chè này là chè đậu nấu đường, thôi anh nán một
chút ăn cho vui”, cô gái nói. (Miền Bắc gọi trà là
chè). Anh chàng trong bụng rầu thúi ruột nhưng ngoài
mặt cố làm vui. Ngày mai lại ăn ḿ tôm mất rồi - (Nguồn
khanhhoathuynga)
Nguyên Lạc
|