Phạm Đức Thân

 

 

BÀN TAY TÊ CÓNG

(Tác giả Arseny Tarkovsky, Phạm Đức Thân dịch )

 

 

~~oOo~~

Arseny Tarkovsky (1907 - 1989) là nhà thơ Nga nổi tiếng thế kỷ XX, sinh tại Yelisavetgrad (nay là Kropyvnytskyi) Ukraine và chết tại Moscow.

Ông bắt đầu theo học Lớp Văn Học Nhà Nước Cao Cấp từ 1925 và tốt nghiệp 1929. Trong Thế Chiến II ông bị thương, phải cưa chân và được Huân Chương Sao Đỏ v́ dũng cảm. Ông c̣n làm báo, viết truyện và nhất là dịch nhiều thơ Đông phương (Turkmen, Georgian, Armenian và Arabic). Ông được truy tặng Giải Nhà Nước Sô Viết năm 1989.

*Frostbitten Hands *(Bàn Tay Tê Cóng) in trong báo Novy mir, 1987, no.5, là truyện ngắn thời bao cấp với chế độ phân phối thực phẩm và hàng hóa, cho thấy đời sống khó khăn dưới thời Sô Viết. Thảo nào, sau 3 thập niên được độc lập, hưởng dân chủ tự do, Ukraine hiện đang anh dũng chống trả xâm lăng của Nga để bảo vệ chủ quyền, đất nước thanh b́nh thịnh vượng của ḿnh.

(Phạm đức Thân dịch từ bản Anh dịch Frostbitten Hands của Catherine Porter)

~~oOo~~

 

Không lâu sau Cách Mạng, lúc đó c̣n là đứa trẻ, tôi tới học Trường Âm Nhạc Robespierre. Khi tôi được bảo cấm không đi chân đất tới trường, việc học nhạc của tôi bị ngưng giống như nửa chừng giữa đoạn allegro (nhanh) của một sonata (tấu khúc). Nhưng thôi học nhạc không là ǵ so với xấu hổ của tôi khi nghe thầy hiệụ trưởng có ư kiến, tṛ đi đất đến trường giống như mấy đứa bụi đời ngoài phố là sỉ nhục trường ông.

"Chúng tôi không có tiền mua giầy," tôi bảo ông.

"Vậy th́ hăy mua giầy cũ ngoài chợ," ông nói. "Chúng rẻ hơn."

"Mẹ không cho mang giầy cũ, bà sợ bị nhiễm trùng," tôi nói.

"Tôi hoàn toàn thông cảm t́nh cảnh khó khăn của em," hiệu trưởng nói, "nhưng tôi phải nghĩ đến danh tiếng của trường."

Tôi ra khỏi pḥng ông, tai nóng bừng Trên đường về nhà tôi quyết định không nói ǵ với Mẹ về chuyện giầy. Tôi biết bà sẽ mua giầy cho tôi nếu bà biết cái nhục nhă của tôi; nhưng để làm vậy bà sẽ phải bán đôi ủng bằng nỉ hoặc cái khăn ấm của bà, hoặc nếu không th́ phải cắt thực phẩm - và tôi biết bà và cha tôi sẽ phải chịu đói, v́ mặc dù mọi khó khăn nhưng tôi luôn luôn được dành phần tốt đẹp nhất.

Những mơ mộng không ngừng về tiền bạc!

Tôi mơ thấy một ví tiền với 10, không phải 50 triệu rúp trong đó, hoặc một thẻ phân phối giầy ủng, hoặc tôi nhận được một quà...Rồi tôi mua đôi ủng mới, có buộc dây, sáng bóng như mặt kính âm bản của ảnh, và một quần mới, một jacket, một áo choàng, và tôi đến trường trông giống như Cậu Bé Lord Fauntleroy. Hiệu trưởng rụt rè tiến lại tôi, và tôi nh́n xuống đôi ủng của ông nhếch mép cười khẩy - hoặc đúng hơn lặng lẽ cười thầm - v́ chúng cũ và chỉ được chải bóng. Rồi tại buổi ḥa nhạc của trường tôi chơi một tấu khúc hay hơn cả chính ông, và ông chạy ào đến tôi nói: "Tha thứ cho tôi đă ngốc nghếch và lỗ măng bảo em không được đến trường nếu không mang giầy...!"

Tôi nhận ra rằng tôi phải kiếm được tiền để mua một đôi ủng. Chuyện này không phải dễ đối với một cậu bé lúc ấy mới 12 tuổi, trong khi đó th́ nhiều người lớn không thể t́m được việc làm; nhưng tôi gặp may. Một anh bạn đưa tôi đến văn pḥng báo Thợ Thủ Công, tại đây tôi được biết mọi thợ thủ công đều có nghĩa vụ luật định phải ghi mua dài hạn báo này, dù muốn hay không. Tôi được giao một sổ biên nhận để mang ánh sáng đến cho thợ may, thợ mũ và thợ đồng hồ trong thành phố, cũng như một mũ bảo hiểm chỏm nhọn Kỵ Binh Đỏ để đội trong giờ làm việc trông cho có vẻ quan trọng. Tôi được bảo có thể giữ lại 10 ngàn trên mỗi triệu rúp đem về cho ṭa báo do tôi đi vận động mua dài hạn.

Tôi đâu biết công việc này giống như tṛng ṿng gai lên đầu.

Lúc đó Mẹ làm việc tại một trong vô số ban ngành của Chính Phủ mà văn pḥng hầu như di chuyển mỗi ngày. Bà là người có ư thức xă hội sâu sắc. Bà và đồng nghiệp nhiệt t́nh chuyển dịch tài sản nhỏ nhoi của ban ngành từ phố này sang phố kia. V́ thực tế tôi không bị kiểm soát, tôi ít gặp khó khăn khi chuồn ra khỏi nhà. Mặc quần soọc, đội mũ bảo hiểm, tôi chạy chân đất tới Gorlits thợ đóng sách. Ông đứng sau ghế dài đang làm hộp giấy. (Thời gian này ông không đóng sách.)

Tôi nói: "Công dân Gorlits, xin mời đọc Sắc Lệnh Chính Phủ!"

Tôi cảm thấy đỏ bừng từ đầu xuống chân, và các chữ tắc nghẹn trong cổ họng.

Gorlits đọc Sắc Lệnh, đẩy cặp kính ngược lên trán, thở dài và nh́n tôi chằm chằm.

"Tôi biết ba em," ông nói. "Ông có đóng sách tại tiệm tôi hồi thời Nga Hoàng Khát Máu Nicholas c̣n tại vị. Mọi người trong thành phố nể trọng ông. Ai cũng bảo ông là người tử tế. C̣n em đến tôi, ăn mặc kiểu đó, và cố lấy bánh ḿ khỏi miệng các con tôi! Em có biết những ngày này bánh ḿ tốn kém thế nào không? Tôi sẽ đi gặp bố em ngay và nói ông biết con trai yêu quư của ông đang làm ǵ! Tôi đoán ông không hề biết tí ǵ chuyện này!"

"Cháu chỉ kiếm được duy nhất việc này thôi!" Tôi lắp bắp, ước sao ḿnh có thể chui xuống sàn nhà.

"Thôi được, tôi sẽ đặt mua dài hạn báo của em v́ nếu không người ta sẽ cứ dai dẳng đến," ông nói. "Đây, cầm lấy cái của phi nghĩa của em!"

Sau ông tôi đến Perets thợ sửa đồng hồ, và Sypunov thợ làm giầy. Tất cả họ quở mắng tôi gay gắt v́ đă nhận công việc mà không người tử tế nào đụng vào.

Sypunov là người không chịu khoan nhượng nhất trong đám. Ông c̣n từ chối đọc Sắc Lệnh, và ngay cả phê b́nh khinh miệt tôi hơn các người khác về việc chọn nghề của tôi, rủa sả tôi như tát nước; nhưng cuối cùng ông cũng bắt buộc phải mua dài hạn báo Thợ Thủ Công.

Trên kệ là một đôi ủng mới c̣n cả cốt giầy - đáp ứng cho tất cả mơ mộng của tôi. "Đôi đó giá bao nhiêu?" tôi hỏi, khi trao biên nhận cho ông.

"Em không đủ tiền cho nó đâu," Sypunov nói. "Tôi đ̣i em giá cao đến mức em sẽ phải ăn thực phẩm gia súc..."

Tôi trải qua cả mùa hè và đầu mùa thu chịu sỉ nhục dài dài, để tích lũy đủ vốn mua ủng. Sau cùng ngày đă đến khi tôi mang về từ chợ đôi ủng buộc dây, mới toanh sáng bóng như gương. Tươi rói v́ sung sướng tôi đem khoe Mẹ.

"Con lấy nó đâu ra vậy?" bà hỏi.

"Con mua nó ngoài chợ", tôi đáp

"Nhưng làm sao con có tiền?" bà hạch hỏi, và qua nét mặt bà tôi biết bà đang tưởng tôi đă rơi vào đám bạn xấu ngoài phố.

"Lạy Chúa! " bà nói sau khi nghe tôi đă thuật lại mọi chuyện. "Tôi không bao giờ nghĩ ḿnh sống để nh́n thấy một ngày như thế này! Con không xấu hổ sao? Tôi đă sinh ra một con quỷ! Con đă kéo danh tiếng nhà ta xuống bùn nhơ chỉ để mua cho ḿnh một đôi ủng. Có chắc là con không giấu mẹ chuyện nào khác?"

Từ đó trở đi, tôi bị cấm triệt rời nhà nếu không có phép đặc biệt, và tôi hết sức thuyết phục cũng chỉ được Mẹ cho ra ngoài nửa giờ cần thiết để đưa giấy xin nghỉ việc và trả lại mũ bảo hiểm, sổ biên nhận.

 

Thu qua, rồi đông đến. Tôi có một bộ đồ mới, làm từ vải nhung màn cửa mầu lục, với hoa văn h́nh hoa huệ và cọng hoa uốn lượn, mầu đậm nay đă nhạt phía sau lưng. Tôi cũng có một áo khoác mới, cắt từ áo choàng cũ của Mẹ, và tôi được mua cho một mũ lông. Vật duy nhất tôi không có là đôi bao tay. Bao tay cũ tôi mang khi tuyết rơi lần đầu tiên và tôi đă làm mất sau gần một giờ chơi ném tuyết. Tôi giấu chuyện này không cho Mẹ biết và bất cứ khi nào ra ngoài tôi giả vờ như có mang nó, để cho bà đinh ninh là tôi ăn mặc tươm tất, thích nghi.

Một hôm Mẹ đi làm về, bảo tôi: "Sáng mai con phải tới nhà kho để lănh khẩu phần. Tháng này Mẹ sẽ được 6 kư đường cát, thay v́ lương và thực phẩm thường lệ. Đây là cái bao. Nhớ đừng quên bao tay."

Đó là một buổi sáng lạnh cay đắng. Đường phố vắng hoe. Một cơn gió buốt giá thổi từ thảo nguyên vào. Nhiệt kế bên ngoài tiệm thuốc chỉ 26 độ âm.

Tôi tới nhà kho và nhập vào ḍng người xếp hàng trên đường. Tay tôi đỏ tía v́ lạnh, trông giống như chân ngỗng. Mẹ đă tự làm áo khoác cho tôi, và v́ bà cho rằng thọc tay vào túi áo là bất lịch sự, cho nên áo bà làm không có túi. Ống tay áo lại quá chật tôi không thể thọc tay vào. Tôi đặt tay trái sau ve cổ áo, nhưng rồi tay phải tôi đông giá. Tôi đă rất sợ bị mất chỗ trong trường hợp người ta không cho tôi vào hàng. Dẫu sao có lẽ tôi đến quá chậm v́ hàng dài khiếp. Thời gian lết qua. Chân tôi đau, răng tôi lập cập, và tay tôi...Tôi thổi chúng; tôi mở cúc áo và thọc chúng dưới nách - đó là một ngày lạnh cực kỳ.

Sau cùng tôi cũng qua tới nguỡng cửa nhà kho và lê bước xuống bực thang tiến lại quầy.

Chuyện không thể nào ngờ xẩy ra lại đă xẩy ra.

Tôi liếc nh́n người đàn ông đang cân hàng, và há hốc mồm. Chính là Sypunov thợ làm giầy, một trong những khách của tôi đă đặt mua báo Thợ Thủ Công. Ông cũng nhận ra tôi. Ông nh́n ḍ xét qua quầy xuống chân tôi xem tôi có mang giầy không, rồi nói; "Tự kiếm đủ tiền rồi, phải không? Ăn cắp tiền từ những người lương thiện."

Cả hàng người ngó tôi chăm chăm.

"Nó đi quanh thu tiền mua dài hạn một tờ báo," Sypunov giải thích như thể đang đ̣i hỏi công lư. 'Nó dọa phạt chúng tôi - nó được hưởng 1 kopeck cho mỗi tờ báo nó bán. Mới nứt mắt ra mà đă làm tên ăn cắp. Khi nó lớn lên nó sẽ là một người xấu xa."

Tôi quên hết hai bàn tay. Tôi chỉ muốn được chết cóng. Thà chịu bất cứ chuyện ǵ cũng được, c̣n hơn là phải nghe ông nói và bị đám đông nh́n chăm chăm.

Khi tôi tới quầy, Sypunov nói: "2 giờ 30. Nghỉ ăn trưa! Các đồng chí phải lui ra ngoài! Chúng tôi sẽ đóng cửa trong một giờ."

"Đưa tôi khẩu phần, tôi phải về nhà," tôi năn nỉ. Và ngạc nhiên thấy ḿnh thêm: "Mẹ tôi đau. Không ai ở nhà."

Đó là lời nói dối vô dụng. "Chúng tôi sẽ không phát cái ǵ trước bữa trưa," Sypunov trả lời. "Nếu đói, hăy ăn những biên nhận mua báo dài hạn."

"Đưa nó khẩu phần!" Có người kêu to từ trong hàng. "Nó không ăn cắp cái ǵ cả! Nó đă làm ǵ sai trái? Nh́n nó ḱa, nó lạnh tái xanh. Nó đang chết cóng!"

"Chỉ nh́n nó máu tôi đă lạnh đông cứng! Nó đă làm theo ư nó. Giờ nó không được ǵ hết. Cứ cho nó đợi. Mời các công dân làm ơn bước ra ngoài!"

Chúng tôi ra ngoài đường. Bụi, các mảnh giấy và mưa đá sắc như kim đang bị thổi bay theo gió, và những lá vàng đập vào đá lót vệ đường nghe như tiếng sắt. Tôi đút hai tay vào bao. Một cô gái nhỏ có lúm đồng tiền trên má đi ngang qua, đội chùm đầu.

"Bao tay em ngộ quá, chú nhỏ!" cô nói.

Trong một thoáng tôi cảm thấy ấm. Tôi quay người, mở bao, mở cúc áo khoác và phóng tay vào túi quần.

Cô gái nhỏ ngoái lại, kêu lên: "Quần nhung, quần nhung!"

Tôi rút tay ra khỏi túi, ra vẻ dũng cảm cài lại tất cả cúc áo và chuẩn bị cam chịu sỉ nhục tiếp theo, nhưng cô đă cạn tṛ chế nhạo. Người trong hàng dấu mũi vào trong cổ áo, lặng lẽ chuyển chân này sang chân kia, nhẩy nhấp nhỏm và vỗ tay, giống như tài xế taxi đang đợi khách. Thời gian lết đi chậm chạp như thể cũng bị lạnh cóng kẹp cắn. Sau cùng Sypunov trở lại, gỡ khóa, mở toang cánh cửa viền khung kim loại, và tất cả chúng tôi lại bước xuống vào kho. Ông loay hoay với sổ sách, ghi chép, phun nước bọt vào đầu bút ch́, rồi nói với tôi: "Thẻ đâu, đồ cặn bă?"

Ngón tay cứng ngắc, tôi lôi thẻ ra khỏi túi, và Sypunov ném 6 kư đường đóng cục vào bao. Tôi xốc nó lên vai và lên đường.

Mặt trời như trái cam lớn lờ mờ hiện sau màn sương giá lạnh trông như nửa trái cầu của Sao Hỏa. Gió thổi những nắm cát vào mắt tôi và làm môi tôi tê cóng. Tôi chỉ c̣n đủ sức để vác cái bao và phải dùng hai tay để giữ nó trên vai. Tôi cảm thấy có một cục ǵ trong ngực, như thể tay tôi đang truyền cái đau tới đó để cho tôi có thể chịu đựng được và không chết. Tôi lôi cái bao xuống khỏi vai, đặt nó trên vệ đường dưới hai chân đang đứng, tay trái quệt những giọt lệ trên má và tay phải đút sau ve cổ áo.

Một phụ nữ dừng lại, nói: "Tay em có tê cóng không, em nhỏ? Chúng đau không? Về nhà ngay và ngâm chúng vào nước lạnh. Thật tội nghiệp không có tuyết để chà tay vào. Em phải bảo mẹ mua cho bao tay. Em có mẹ không, em nhỏ?"

Không trả lời, tôi lại xốc bao lên vai, hai tay nắm chặt cái nút thắt và loạng choạng xuôi xuống phố.

Mẹ đă về nhà để ăn trưa và bà mở cửa cho tôi.

"Chuyện ǵ vậy?" bà kêu ré lên, nh́n chằm chằm vào mặt tôi. "Bao tay con đâu?"

Tôi x̣e bàn tay ra và bà đau đớn nắm lấy chúng trong tay bà. Bà mang lại một nồi nước và tôi thọc vào đó đôi tay không có sinh khí, h́nh như không c̣n thuộc về tôi nữa. Mẹ cúi người trên tôi. Ôi, mấy năm qua bà đă già hẳn đi...

 

Phạm đức Thân dịch

 

 

art2all.net