Người Trung Quốc xấu xí

 

- Tác Giả : Bá Dương

 

Dịch Giả : Nguyễn Hồi Thủ

 





 

Phần 1

 

2. Người Trung Quốc Và Cái Vại Tương


Bài nói tại New York ngày 16-08-1981, do kư giả tờ báo tiếng Hoa " Bắc Mỹ nhật báo " ghi lại.

 

Vừa rồi ông Chủ tịch nói cuộc họp mặt hôm nay là một vinh hạnh của Hội " Tùng Xă ", đúng ra vinh hạnh này là của tôi. Tôi xin cảm tạ quư vị đă cho tôi dịp được gặp mặt các vị ở nơi xa quê hương này để xin chỉ giáo.


Thực ra Chủ tịch và Chủ báo " Tân Sĩ Tạp Chí ", ông Trần Tiến Trung nói với tôi đây là một cuộc tọa đàm, nên tôi rất vui được đến dự. Nhưng hôm qua từ Bo-xton đến tôi mới rơ là một buổi diễn giảng, việc này làm cho tôi rất lo v́ New York là một đô thị lớn bậc nhất thế giới, đầy " rồng núp, hổ nằm ".


Cho nên tôi chỉ dám nêu lên đây một ít cảm tưởng tản mạn và đó hoàn toàn là ư kiến riêng tư chứ không dám kết luận ǵ cả. Xin các vị chỉ giáo và chúng ta cùng trao đổi với nhau.


Chủ đề hôm nay ông Chủ tịch giao cho tôi là " Người Trung Quốc và cái vại tương". Nếu buổi hôm nay là một buổi thảo luận về học thuật th́ trước tiên chúng ta phải định nghĩa người Trung Quốc là ǵ? Cái vại tương là ǵ? Tôi nghĩ tôi không phải định nghĩa nữa, sợ thành vẽ rắn thêm chân. Bởi v́ có một hiện tượng trên đời là cái ǵ mọi người đều đă biết mà lại đi thêm cho nó một định nghĩa, việc này vô t́nh có thể biến nội dung và h́nh thức của nó trở thành mơ hồ, biến chân tướng của nó thành khó hiểu, và do đó c̣n khó bắt đầu thảo luận hơn.


Phật giáo vốn cho rằng con người phải qua ṿng luân hồi. Việc này làm tôi nhớ đến một tích xưa.
Có người đến hỏi một vị cao tăng đă đạt đạo :


" Đời tôi bây giờ là do tiền kiếp mà tái sinh, thế th́ kiếp trước tôi là người thế nào?Nếu c̣n phải đầu thai một lần nữa, ngài có thể cho tôi biết kiếp sau tôi sẽ trở thành người ra sao không ? ".


Vị cao tăngtrả lời anh nọ bằng bốn câu thơ sau:


Dục tri tiền thế nhân
Kim sinh thụ giả thị
Dục tri hậu thế quả
Kim sinh tác giả thị
(Muốn biết cái nguyên nhân của kiếp trước
Cứ xem những ǵ ḿnh nhận được ở kiếp này
Muốn biết cái hậu quả ở kiếp sau
Cứ xem những ǵ ḿnh đang làm ở kiếp này)
(Tạm dịch thơ: )
Muốn biết kiếp trước thế nào
Cứ xem ḿnh sống ra sao kiếp này
Đầu thai rồi thế nào đây
Hăy nh́n vào việc hiện nay đang làm
(NHT)

Giả sử kiếp này anh được sung sướng, kiếp trước nhất định anh là một người chính trực, độ lượng. Nếu kiếp này anh gặp nhiều khổ nạn th́ phải suy ra rằng kiếp trước anh đă làm những điều ác. Cái tích xưa này gợi cho chúng ta rất nhiều ư nghĩa. Các vị ở đây, nếu là con nhà Phật hẳn cảm thụ dễ dàng, nếu không phải là người theo đạo Phật chắc không tin vào tiền oan nghiệp chướng, nhưng có thể xin các vị cứ suy nghĩ về cái triết lư của nó.


ư tôi muốn nói chuyện này làm chúng ta liên tuởng đến văn hóa Trung Quốc.


Các vị ở đây, bất kể quốc tịch ǵ, đại đa số đều có ḍng máu Trung Quốc, các vị thích hay không thích nó vẫn vậy, chẳng làm sao thay đổi được. Tôi nói người Trung Quốc là theo nghĩa rộng, theo nghĩa huyết thống chứ không phải nghĩa địa lư.


Người Trung Quốc từ 200 năm gần đây, lúc nào cũng có một ước mong cho đất nước hùng cường, ước mong cho dân tộc chúng ta trở thành một dân tộc ưu tú trong thế giới. Nhưng đă bao nhiêu năm nay, chúng ta luôn luôn yếu kém, măi bị ngoại nhân khinh thị, nguyên nhân tại đâu ?
Đương nhiên trách nhiệm là do nơi chúng ta. Nhưng nh́n dưới góc độ văn hóa mà đặt câu hỏi đó th́ có thể nghĩ đến cái tích xưa vừa kể trên. Tại sao có ngày hôm nay ? V́ sao nước nhà vẫn chưa lớn mạnh? Nhân dân vẫn c̣n biết bao khổ nạn? Từ kẻ cùng đinh không quyền thế đến kẻ phú quư với đặc quyền đặc lợi đều có một nguyện vọng tha thiết như nhau cho đất nước, cũng như đều có cùng một đau buồn sâu sắc.


Tôi nhớ thuở bé thầy học bảo chúng tôi : " Hy vọng của nước nhà đặt nơi các em". Nhưng rồi chúng ta bây giờ th́ sao ? Lại đến lượt chúng ta hướng về đám thanh niên bảo : " Các em là hy vọng của tương lai Trung Quốc ". Cái kiểu cứ đùn đẩy trách nhiệm từ đời này xuống đời khác sẽ c̣n kéo dài cho đến bao giờ ?


Những người Trung Quốc ở nước ngoài đối với vấn đề này lại càng nhậy cảm và kỳ vọng của họ lại càng sâu nặng. Ngoài việc tự thân chúng ta đă không thể mang hết được cái trọng trách về chuyện nước nhà rơi xuống một mức độ tồi tệ với những khổ nạn như vậy, chúng ta lại c̣n phải è cổ vác cái gánh văn hóa truyền thống nặng nề kia.


Đấy là nghiệp báo như đă nói ở trên.


Hôm trước, lúc đi thăm Viện bảo tàng Boston, tôi thấy bên trong có bầy đôi giày cho phụ nữ bó chân của thời đại các bà nội chúng ta. Kinh nghiệm bản thân cho tôi biết những người phụ nữ khoảng tuổi tôi thời ấy đều phải bó chân. Ngày nay những người trẻ tuổi nghe đến chắc không thể nào tưởng tượng nổi. Tại sao trong văn hóa chúng ta lại có thể sinh ra một cái tập quán tàn khốc thế ? Lại có thể áp đặt nó lên trên một nửa dân số trong hàng ngh́n năm, làm cho những người bị bức hại phải tàn phế cả hai chân, thậm chí có khi c̣n găy cả xương, thối cả thịt, không thể đi đứng được. Tại sao văn hóa Trung Quốc lại có thể kéo dài cả hàng ngh́n năm trong lịch sử một yếu tố dă man như vậy ? Tại sao lại cho phép trường tồn qua một thời gian dài như thế mà không có một người nào đứng lên bảo nó phản tự nhiên, hại sức khỏe ? Ngược lại, đại đa số nam nhi c̣n xem bó chân là hay ho, đẹp đẽ.


C̣n nói đến việc bách hại nam nhi th́ thế nào ? Đó không phải chỉ riêng chuyện các hoạn quan. Theo ghi chép của lịch sử, từ các triều vua Tống trở về trước, các nhà có quyền và có tiền đều có thể tự do thiến các nô bộc của ḿnh. Sự việc kinh rợn này kéo dài cho đến triều Tống - thế kỷ XI - mới bị cấm. Chỉ căn cứ vào hai việc trong biết bao nhiêu việc không hợp lư và vô nhân đạo của văn hóa Trung Quốc suốt quá tŕnh lịch sử của nước này, ta cũng có thể thấy là những thành phần không hợp lư của nó đă lên đến một mức độ không thể nào khống chế được.

Bất kỳ văn hóa của một dân tộc nào đều như một ḍng sông lớn, thao thao bất tuyệt trôi đi. Và với thời gian dần dần biết bao thứ nhơ nhớp bẩn thỉu trong ḍng sông lớn ấy, - như cá chết, mèo chết, chuột chết - sẽ bắt đầu ch́m lắng. Lắng đọng quá nhiều sẽ làm ḍng sông không thể chảy nữa, biến thành một cái đầm nước chết, càng sâu càng nhiều, càng lâu càng thối, lâu dần thành một cái vại tương, một cái đầm bùn bẩn phát chua, phát thối.


Nói đến cái hũ tương có lẽ những bạn trẻ không thể hiểu, tôi vốn sinh ra ở phương Bắc, nơi quê tôi cái thứ này rất nhiều. Tôi không thể nói chính xác cái chất tương trong vại ấy làm bằng những chất liệu ǵ (chất chính là đậu tương và bột ḿ), nhưng các vị nếu đă ăn qua vịt quay tại các tiệm ăn Trung Quốc th́ chính là loại tương đó. Nó là một chất đặc không chảy được, không giống nước sông Hoàng hà từ trên trời chảy xuống một tư nào. (Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi - thơ Lư Bạch). Nó là một thứ nước ao tù, lại được để cho bốc hơi, cho lắng đọng nên nồng độ càng ngày càng đông đặc. Cái văn hóa của chúng ta, cái tiền oan nghiệp chướng như đă nói cũng là như thế.


Trong văn hóa Trung Quốc, cái có thể gọi là điển h́nh nhất cho cái đặc sắc này là chế độ " quan trường ". Thời xưa mục đích học hành của các phần tử trí thức là làm quan. Cái chữ " trường " nh́n không thấy, sờ không đụng này được h́nh thành qua chế độ khoa cử. Một khi người đọc sách đă lọt vào được chốn quan trường liền ở vào trạng thái đối nghịch với người thường, với nhân gian.


Dưới chế độ đó người đi học cốt chỉ được làm quan, v́ có câu nói rằng trong sách có nhà vàng, có nhan sắc như ngọc. Đọc sách để có thể làm quan, làm quan ắt có mỹ nữ, kim tiền.


Thời xưa có người nói : " Hàng hàng xuất trạng nguyên ", kỳ thực chỉ trong số những người đi học mới có trạng nguyên, c̣n những người khác cũng chỉ là thợ thuyền không đáng một đồng trinh. Thời đó những người của các giai tầng khác bị rất nhiều giới hạn, nào là không được mặc loại áo quần nào đó, không được đi thứ xe nào đó, ở loại nhà nào đó.


Xă hội phong kiến đặt cái lợi ích của những người làm quan lên trên hết, và v́ nó đă khống chế Trung Quốc quá lâu, nên tạo thành một lực lượng và một ảnh hưởng vô cùng lớn.


Về mặt kinh tế không có ǵ thay đổi đáng kể, nhưng về mặt chính trị nó đă ḱm hăm chúng ta lâu dài trong cái hũ tương văn hóa đó. Một trong những cái đặc trưng của nó là đặt tiêu chuẩn của giới quan lại thành một cái chuẩn cho xă hội, biến lợi ích các quan thành cái lợi chung. V́ vậy nó đẻ ra một thứ ngày nay gọi là " Chính trị thống soái " theo kiểu nói của Mao, làm cho cái hũ tương văn hóa của chúng ta càng thêm sâu đậm, càng thêm nồng nặc.


Ch́m đắm lâu dài trong cái hũ tương đó, người Trung Quốc trở thành ích kỷ, nghi kị.


Tôi tuy đến Mỹ chỉ là du lịch ngắn ngày, nhưng nh́n bề ngoài tôi thấy người Mỹ khá thân thiện, hạnh phúc, lúc nào cũng tươi cười.


Tôi cũng đă gặp con em các bạn bè người Hoa ở đây, trông tuy có vẻ sung sướng, nhưng rất ít cười. Có phải là các bắp thịt ở mặt của người Trung Quốc chúng ta cấu tạo không giống họ? Hay là v́ dân tộc chúng ta mang một cái ǵ vốn quá u ám?


Chúng ta có nghĩ được rằng dân tộc chúng ta sở dĩ như vậy v́ thiếu sức sống trẻ, mà điều đó lại là do chính trách nhiệm của chúng ta không? Giữa chúng ta, chúng ta chèn ép lẫn nhau, không hề hợp tác.


Tôi nghĩ đến chuyện một người cảnh sát trưởng Nhật Bản, khi huấn luyện các học viên của ḿnh, bảo thuộc hạ phải nghi ngờ tất cả mọi người, v́ họ đều có thể là đạo tặc. Cái trạng thái tâm lư này dùng để huấn luyện cảnh sát h́nh sự th́ được, nhưng tâm lư phổ biến của người Trung Quốc lúc b́nh thường lại cũng như thế, lúc nào cũng nghĩ kẻ khác có thể làm hại ḿnh, nó h́nh thành một nỗi lo sợ về bất cứ một cái ǵ. Cái nỗi lo sợ này làm người Trung Quốc biến thành " một đống cát rời " năm bè, bảy mảng (như lời của Tôn Dật Tiên).


Một nước lớn như Trung Quốc, có tài nguyên, có nhân khẩu hơn một tỷ người nếu đồng tâm hiệp lực, trong á châu này chẳng lẽ không bằng được Nhật bản ?


Ṃn mỏi dưới chế độ xă hội phong kiến chuyên chế tự bao đời, đắm ch́m ngụp lặn trong cái hũ tương đó, óc phán đoán cùng tầm nh́n của người Trung Quốc đă bị tương làm ô nhiễm nặng, không vượt ra nổi cái phạm vi ảnh hưởng của nó.


Qua bao nhiêu niên đại, đa số chúng ta mất dần năng lực phán đoán cái ǵ đúng cái ǵ sai, mất khả năng phân biệt cái ǵ là đạo đức, chỉ phản ứng bằng t́nh cảm và trực giác mà không biết suy nghĩ. Tất cả giá trị của hành động rồi đều bị cái tiêu chuẩn chính trị và đạo đức của cái hũ tương đó chi phối. V́ vậy thị phi, phải trái, đen trắng không c̣n có vẻ đối nghịch nữa. Trong hoàn cảnh này, khi t́m hiểu sự vật, chẳng ai c̣n đi đến chỗ phân tích cặn kẽ. Cứ qua loa lấy lệ một cách lâu dài rốt cuộc sẽ đưa đến cái quả báo nhăn tiền, đó là " Chiến tranh Nha phiến " (1840).


Chiến tranh Nha phiến là sự đột nhập của văn hóa nước ngoài theo chiều ngang. Đối với người Trung Quốc nó đánh dấu một kỷ niệm " quốc sỉ " (cái nhục của một nước), nhưng nh́n từ một góc độ khác nó lại là một lần thức tỉnh lớn không thể tránh được.


Nhật Bản trên mặt này đă phản ứng hoàn toàn khác chúng ta. ở thế kỷ XVIII khi Mỹ đánh ch́m hai tàu Nhật, nước Nhật đă mở cửa. Đối với người Nhật sự kiện này mang lại một cơ hội tốt, họ biết biến sự sỉ nhục thành một sự thức tỉnh.


Thực ra chúng ta phải cảm ơn Chiến tranh Nha phiến, nếu không có nó th́ t́nh cảnh hiện tại sẽ như thế nào? Có lẽ các vị ngồi đây không chừng trên đầu vẫn c̣n cái đuôi sam, phụ nữ vẫn c̣n bó chân, c̣n mặc áo dài, áo ngắn (áo kiểu ngày xưa của người Trung Quốc), trên bộ c̣n ngồi kiệu do người khiêng, dưới nước c̣n ngồi thuyền tam bản.


Ví thử Chiến tranh Nha phiến xảy ra sớm hơn 300 năm, có lẽ Trung Quốc đă biến đổi sớm hơn một tư; nếu nó xảy ra sớm hơn 1.000 năm th́ lịch sử đă hoàn toàn chẳng như ngày nay. Tôi cho rằng cái " kỷ niệm quốc sỉ " này là một cú đập mạnh vào cái hũ tương văn hóa của chúng ta. Không có nó người Trung Quốc vẫn c̣n ch́m đắm dưới đáy, có khi c̣n ngạt thở mà chết rồi.


Sự đột nhập của văn hóa ngoại lai trong Chiến tranh Nha phiến làm cho chúng ta có thể nghĩ rằng nhà Thanh là một thời đại quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nếu chiến tranh này xảy ra vào thời nhà Minh chưa chắc Trung Quốc chịu nổi cú sốc và t́nh h́nh đă khác. Văn minh hiện đại phương Tây đối với nước Trung Quốc già nua thật ra càng đột nhập sớm càng tốt. Cái sự xung kích lớn lao này chắc hẳn là một sự kiện khiêu chiến nghiêm trọng đối với lịch sử và văn hóa, nhưng đem lại cho chúng ta cái văn minh vật chất và văn minh tinh thần mới.


Cái gọi là văn minh vật chất Tây phương như máy bay, trọng pháo, xe hỏa, tàu điện ngầm, v.v...làm cho chúng ta bỗng nhiên thấy thế giới bên ngoài mới mẻ làm sao, có biết bao nhiêu thứ không giống chúng ta, làm cho chúng ta có một nhận thức biết coi trọng cái mới, cái văn minh vật chất. C̣n nói đến văn minh tinh thần, những ư thức hệ chính trị Tây phương cùng các tư tưởng học thuật cũng cho chúng ta bao nhiêu quan niệm và gợi ư mới mẻ. Xưa nay chúng ta nào biết dân chủ, tự do, nhân quyền, pháp trị là ǵ. Tất cả những thứ này đều là các sản phẩm lấy giống từ phương Tây.


Trước đây người Trung Quốc chỉ biết câu : " Nhân mệnh quan thiên " (số mệnh con người là do nơi trời). Thực ra số mệnh một con người có phải là do trời hay không cũng c̣n tùy. Nếu tôi giết chết một người, có lẽ sẽ do trời thật, nhưng nếu hung thủ là một kẻ quyền thế th́ đă chắc ǵ ? V́ vậy c̣n phải xem vấn đề là dính dáng đến ai.


Có một nhân vật cổ quái c̣n nói một câu : " Dân vi quư, quân vi khinh " (Dân là quư, vua là thường). Đấy chỉ là một thứ lư tưởng mà Trung Quốc chưa bao giờ thực hiện. Thời phong kiến xưa, sau một triều vua lại đến một triều vua, chẳng có ǵ thay đổi. Lật đổ triều đại trước, thiết lập triều đại mới, cách biểu thị duy nhất về sự bất đồng của ḿnh với triều vua trước là đốt phá các cung vàng điện ngọc mà triều trước đă xây để làm cung điện mới của ḿnh.
 

Lư do viện dẫn để đốt phá vẫn được đưa ra là v́ triều trước chính sách bạo tàn, triều đại của ḿnh mới là nhân hậu. Nhân hậu nên mới phải làm cái việc đem chính sách nhân hậu của ḿnh để tàn phá nhà cửa của chính sách hung tàn.


Cứ đời này sang đời khác như thế, về mặt tư tưởng chính trị chẳng có xây dựng được ǵ, nhưng nhà cửa th́ cứ tiếp tục đốt phá để biểu lộ sự khác nhau. Chẳng trách ở một nước lâu đời như Trung Quốc sau mấy ngh́n năm các kiến trúc cổ chẳng c̣n được là bao !


Trong hệ tư tưởng chính trị Trung Quốc, có vài khái niệm lư tưởng gần với Tây phương như " Vua phạm pháp cũng bị tội như thứ dân " (Vương tử phạm pháp dữ thứ dân đồng tội). Nhưng điều này chẳng qua cũng chỉ là một hy vọng và ảo tưởng mà thôi. Sự thực cái điều vua và dân cùng tội này trên căn bản tuyệt đối không thể có.


Người Trung Quốc xưa nay có bao giờ biết dân chủ, tự do, pháp trị là ǵ. Tuy có người bảo chúng ta cũng có tự do, có thể chửi cả hoàng đế, song thật ra quyền tự do của chúng ta rất có hạn, bị kẻ thống trị khống chế trong phạm vi cho phép. Nhân dân nếu được phép chửi hoàng đế chắc cũng chỉ dám lén lút chửi sau lưng. Phạm vi của tự do rất hẹp ḥi. Đương nhiên có thể có cái tự do suy nghĩ vớ vẩn chứ các khái niệm dân chủ, pháp trị th́ hoàn toàn chẳng có.


Dân tộc chúng ta là một trong những dân tộc lớn, đương nhiên trong vấn đề t́nh cảm không nói thế th́ không xong. Nhưng trên thế giới này c̣n có một dân tộc vĩ đại khác là dân Anglosaxon (Ăng-glô-sắc-xân).


Dân tộc này đă thiết lập cho văn minh thế giới những khuôn khổ như chế độ quốc hội, tuyển cử, tư pháp độc lập, tư pháp bồi thẩm,v.v..., cống hiến cho cộng đồng nhân loại những cơ cấu văn minh tốt đẹp như vậy, và đó cũng là một nguyên nhân cho phép những xă hội Tây phương về mặt chính trị hướng đến công b́nh, hợp lư.


Cái việc tuyển cử dù lăng phí thế nào đi nữa so với việc giết người như núi, máu chảy thành sông vẫn c̣n tốt hơn. Đối với những thứ tốt đẹp này của Tây phương chúng ta phải có can đảm mà tiếp nhận.


Có người bảo tuyển cử kiểu Tây phương không phải tuyển cử nhân tài, chỉ bầu cử tiền, mà cái loại tiền này th́ không phải người b́nh thường nào cũng có thể bỏ ra được. Dù có thế chăng nữa, lăng phí tiền bạc vẫn tốt hơn lăng phí đầu người.


Hết thảy những điều tốt chúng ta phải tự đấu tranh mới có được, không giống trong vườn Eden (Ê-đen) của Thượng đế nơi cái ǵ cũng đă được an bài một cách tốt đẹp.


Người Trung Quốc sống trường kỳ trong cái hũ tương, lâu ngày quá tự nhiên sinh ra một tâm lư cẩu thả. Một mặt tự đại khoe khoang, c̣n mặt khác tự ti, ích kỷ.


Tôi nhớ có xem một bộ phim - mà đă quên mất tên - trong đó, một phụ nữ quư phái có hai nhân cách : một mặt đẹp đẽ, đáng quư làm cho người ta có thể sùng bái, mặt khác lại hoang dâm, vô liêm sỉ. Cô ta không làm sao hợp nhất được hai nhân cách này lại với nhau. Khi bị bác sĩ tâm thần bắt phải đối diện với thực tại, cô ta đă tự sát.


Khi tự kiểm hồ sơ bệnh của ḿnh chúng ta có dám đối diện với thực tại không ? Có dám dùng cái tâm lư khỏe mạnh để xử lư bệnh t́nh của ḿnh một cách hợp lư không ?


Chúng ta cần học tự nhận xét ḿnh. Người Trung Quốc thường không có tập quán dùng lư trí để tự t́m hiểu ḿnh mà chỉ dùng cảm tính. Ví như vợ chồng căi nhau, chồng bảo vợ: " Bà đối với tôi không tốt ". Vợ bèn vứt thức ăn lên bàn căi: " Tôi đối với ông không tốt thế nào? Không tốt mà tôi c̣n nấu cơm cho ông ăn à? " Cái động tác này cũng đủ nói lên sự đối xử không tốt của bà ta rồi. Tự xét ḿnh như thế th́ thà không tự xét c̣n hơn.


Từ khi văn hóa Tây phương được du nhập vào (Trung Quốc) dĩ nhiên về mặt tư tưởng chính trị có thay đổi dần, mặt quan niệm đạo đức cũng vậy. Ngày trước chồng đánh vợ là chuyện cơm bữa. Bây giờ cứ thử đánh một tư xem sao !


Tuổi trẻ thời nay thật may mắn, rất nhiều thứ văn hóa hủ lậu đă bị đào thải. Không kể đến vấn đề chính trị và đạo đức, ngay cả trên các lĩnh vực nghệ thuật, thi ca, văn học, tuồng kịch, vũ điệu đều có ảnh hưởng của sự thay đổi này.


Hễ nói đến văn hóa, văn minh phương Tây, thế nào cũng có người chụp mũ, bảo tôi " sùng bái Tây phương, nịnh hót nước ngoài ".


Theo ư tôi tại sao không thể sùng bái Tây phương ? Cái lễ nghĩa của người ta đúng là hơn hẳn cái thô lậu của ḿnh. Súng ống của người ta đích thực là hơn hẳn cung tên của ḿnh. Nếu như giữa bạn bè với nhau có người đạo đức, học vấn hơn hẳn ḿnh tại sao lại không có thể không hâm mộ được ?


Người Trung Quốc không có cái can đảm dám khen người khác, chỉ có cái dũng khí dùng để đả kích kẻ khác. Cũng bởi cái " văn hóa hũ tương " của chúng ta quảng đại tinh thông quá mới làm cho người Trung Quốc thành " cây quưt bên sông Hoài " tất cả (tích án Tử và vua Sở). Cây quưt này vốn mọc ở một địa phương nọ th́ rất to và ngọt, đem trồng ở một nơi khác, không hợp thủy thổ, th́ vừa nhỏ vừa chua.


Ông Tôn Quan Hán, một người bạn đă t́m cách cứu tôi suốt trong thời gian 10 năm tôi ở tù, từng đem một thứ cải trắng gốc Sơn Đông trồng tại Pittsburg (Pít-xbơ), nhưng ở đây nó lại thành một thứ cải hoàn toàn khác.


Người Nhật có biệt tài bắt chước cái ǵ là giống cái đó, c̣n người Trung Quốc th́ học cái ǵ cũng chả giống cái ǵ. Cái tinh thần này ghê gớm lắm, nó cho phép người Nhật học được những ưu điểm mà học giống hệt. Người Trung Quốc thường chỉ giỏi t́m lối tránh né, viện cớ " không hợp với hoàn cảnh nước nhà " để bào chữa cho lư do tại sao ḿnh lại cự tuyệt nó.


Trước chiến tranh Giáp Ngọ (1895) người Nhật đến thăm hải quân Trung Quốc, thấy binh sĩ đem phơi quần áo la liệt trùm cả lên súng cà-nông, bèn xác định rằng cái loại quân đội này không thể tác chiến được. Chúng ta căn bản không tính đến chuyện xây dựng và làm mới các quan niệm, nên khi chúng ta không muốn làm một cái ǵ, ngay cả như chuyện đừng phơi quần áo trên trọng pháo, th́ chúng ta t́m cách thoái thác, bảo : " Cái đó không hợp với hoàn cảnh đất nước ".


Cũng như vấn đề giao thông ở Đài Bắc, có thể là một vấn đề rất đơn giản, thế mà bấy nhiêu năm nay vẫn không dứt điểm được. Theo tôi cứ phạt nặng những kẻ phạm luật là xong. Nhưng có người lại đề xuất nào là phải dậy dỗ sự " lịch thiệp " cho những kẻ phạm luật, bởi v́ như vậy mới hợp lẽ với Trung Quốc. Chúng ta đă lịch thiệp quá lâu rồi, bị giỡn mặt hoài không chịu nổi nữa, lại c̣n nhường nhịn đến bao giờ ? Chúng ta làm những chỗ qua đường cho người đi bộ để bảo vệ họ, nhưng kết quả là biết bao người đă bỏ mạng ở đó.


Tôi có một người bạn lúc ở Đài Bắc là loại hay phóng nhanh vượt ẩu, đến lúc sang Mỹ bị phạt tơi bời, phạt đến đầu tối mắt hoa, cuối cùng không thể không chú ư được. Có mỗi luật đi đường, một việc thật đơn giản mà tại Trung Quốc vẫn c̣n là một vấn đề.


Cứ nói đến cái hay của các nước khác là lại bị nghe câu " Sùng bái Tây phương, nịnh hót nước ngoài " ( Sùng dương, mị ngoại ). Sự thực nếu các nước Mỹ, Pháp, Anh, Nhật có điều ǵ tốt th́ chúng ta phải học, cái xấu th́ không học, chỉ đơn giản thế thôi !


Có một người Mỹ viết một quyển sách : " Người Nhật làm được tại sao chúng ta lại không thể làm được ? " Thế mà chẳng có ai bảo ông giáo sư này là " sùng bái Đông phương, nịnh nọt nước ngoài ". V́ vậy mới biết cái hũ tương văn hóa đă sâu đậm làm người Trung Quốc mất hết khả năng hấp thụ và tiêu hóa, chỉ một mực trầm luân trong cái cảm tính của ḿnh.


Một anh bạn tôi lúc lái xe cứ thỉnh thoảng lại đột nhiên bóp c̣i một cái. Tôi hỏi tại sao. Anh đùa bảo: " Để cho thấy rằng tôi không mất gốc đấy! ". Chúng ta hy vọng chúng ta có đầy trí tuệ để nhận rơ những khuyết điểm của ḿnh, có đủ năng lực phán đoán phân biệt phải trái, làm cho, cái hũ tương kia nhạt đi, mỏng đi, thậm chí biến thành một hũ nước trong, hoặc một hồ nước mênh mông.


Người Trung Quốc bị cảm tính chi phối, chủ quan thái quá, đối với việc ǵ cũng chỉ nhận thức, phán đoán bằng các tiêu chuẩn của những ǵ ḿnh vốn thấy. Chúng ta nên nuôi dưỡng được cái con mắt nh́n sự vật một cách toàn diện, toàn thể. Rất nhiều sự t́nh phát sinh từ những góc độ không giống nhau, nên từ một góc độ càng phải xem xét một cách toàn diện. Từ hai điểm, đường ngắn nhất là một đường thẳng, đó là theo vật lư. Nhưng trong cuộc đời, cái cự ly ngắn nhất thường lại là cái quanh co nhất.


Cho nên để trở thành một người biết thưởng thức, chúng ta phải t́m ṭi được mục tiêu. Xă hội có tŕnh độ thưởng thức sẽ đề cao được tài năng và phân biệt được cái tốt, cái xấu.


Trước đây tôi từng được xem Khương Diệu Hương diễn kịch, lúc ấy bà đă ngoài 60, mặt đầy vết nhăn, chẳng c̣n cái đẹp của thủa nào, nhưng việc ấy không hề ảnh hưởng đến những thành tựu của bà. Đương lúc bà hát khúc " Em bé chăn trâu ", anh có thể hoàn toàn quên mất cái h́nh tượng già nua của bà. Một khi mọi người đều có tŕnh độ thưởng thức cao, những điều ác sẽ tránh xa.


Chẳng khác nào tranh tôi vẽ và tranh của Van Gogh để cùng một chỗ, có người không phân biệt được lại bảo : " Tranh của Bá Dương và Van-Gogh cũng như nhau ! " Nếu thế th́ các nhà nghệ thuật chân chính phải chết hết và xă hội sẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ có được những tác phẩm nghệ thuật giá trị nữa.


Trung Quốc là một nước lớn, nhưng người Trung Quốc thật nhỏ mọn và hẹp ḥi.


Hôm kia tôi đáp máy bay tại phi trường Kennedy ở New York, lên phi cơ ngồi chợp mắt một tiếng, tỉnh lại vẫn chưa thấy máy bay bay, sau khi nghe ngóng mới biết họ đang đ́nh công. Tôi rất kinh dị khi thấy hành khách vẫn trật tự b́nh thường, nói năng cười đùa như không có ǵ xảy ra.


Nếu sự việc này mà xảy ra ở đất nước chúng ta cục diện sẽ hoàn toàn khác hẳn. Hành khách tất nhao nhao nhảy xổ ra ḥ hét: " Tại sao vẫn chưa bay? ". Nhưng hành khách Mỹ lại nh́n từ một góc độ khác; v́ họ nghĩ : Nếu tôi là nhân viên hàng không, không chừng tôi cũng tham gia cuộc đ́nh công này. Nh́n vào đó người ta có thể thấy được khí độ của một nước lớn.


ở Mỹ tính khoan dung rất lớn. Không những nước Mỹ có thể khoan dung được các màu da và chủng tộc, lại c̣n chứa chấp được cả những ngôn ngữ, phong tục, tập quán khác nhau; thậm chí c̣n chịu đựng được cả những người Trung Quốc thô lỗ như chúng ta. Thái độ này nói lên tính bao dung của một nước lớn.


Cứ nh́n lúc Reagan và Carter tranh luận trên ti-vi, bên này bên kia phát biểu chính kiến của ḿnh, nhưng không ai dùng những lời lẽ thô lỗ để công kích nhau. Ri-gân không hề nói ông làm tổng thống mấy năm toàn chỉ dùng những người thân tín của ḿnh. Các-tơ cũng không hề nói từ trước đến nay ông chưa hề có kinh nghiệm chính trị, làm sao có thể lèo lái được một quốc gia. Hai bên đều biểu lộ một thái độ cực tốt. Đó cũng là phẩm chất của một nền dân chủ cao độ.


Đối với chính trị, cá nhân tôi không mấy quan tâm. Tôi cũng không khích lệ mọi người làm chính trị. Nhưng nếu ai thích thú th́ phải tham dự, bất kể đang làm nghề ǵ, bởi v́ chính trị thật quan trọng. Chỉ cần một điều luật được ban hành, có thể gia sản, tự do và ngay cả sinh mạng anh cũng có thể bị nó làm tiêu tan.


Chúng ta không nhất thiết ai cũng phải làm chính trị, nhưng đều phải có khả năng đánh giá. Việc này không kém tầm quan trọng. Đánh giá không phải chỉ trong lĩnh vực chính trị, mà cả trong văn học nghệ thuật. Chẳng hạn như về tranh vẽ th́ tŕnh độ thưởng thức cực kỳ quan trọng. Nó sẽ bắt những người vẽ tranh như Bá Dương tôi phải thu ḿnh vào một xó. Bởi nếu bày tranh ḿnh ra người ta chỉ nh́n thoáng một cái đă biết giá trị, có thể nói: " Anh gọi thế này là vẽ à? Thế mà c̣n dám đem cho người ta xem ư ? "


Một xă hội có tŕnh độ thưởng thức tức biết cái hay cái dở, tức không hồ đồ trước bất cứ một sự việc ǵ; chứ mọi người cứ ù ù cạc cạc như ở trong hũ tương, bẩn sạch, cao thấp cũng không phân biệt th́ làm sao tiến bộ và phát triển được ?


Tôi chỉ có vài ư kiến này đưa ra xin các vị thảo luận và chỉ giáo cho.


Xin đa tạ !

 


Cái vại tương - Một biểu tượng của căn bệnh văn hóa Trung Quốc

Phàm người Trung Quốc nào c̣n quan tâm đến tiền đồ tổ quốc đều có thể nghĩ đến một vấn đề căn bản sau đây : tại sao Trung Quốc (từ 1842 đến 1949) lại yếu thế ? Mỹ, Nhật tại sao lại mạnh thế ?


Diện tích của Trung Quốc rất lớn (đứng thứ nh́ trên thế giới chỉ sau Liên-xô), người lại rất đông (vào bậc nhất thế giới), tài nguyên tương đối phong phú. Thêm vào đó, lại có một nền văn hóa mà một số người tự hào là lâu đời tới 5.000 năm. Đáng lư Trung Quốc phải là một quốc gia vào hạng mạnh nhất thế giới mới đúng. Nhưng sự thực lại không phải như vậy. Từ Chiến tranh Nha phiến (1840), bị các cường quốc liên tục đến xâu xé, Trung Quốc phải cắt đất bồi thường, chỉ tư nữa là đă bị phân chia.


Đối với câu hỏi trên, chỉ có hai cách trả lời :


Thứ nhất : Đầu óc và sức lực của người Trung Quốc tồi quá.


Thứ hai : Cái văn hóa truyền thống của Trung Quốc có vấn đề.


Đối với cái khả năng thứ nhất, có hai cách giải thích không giống nhau. Cách thứ nhất là: đầu óc, sức lực người Trung Quốc tồi quá. Có lẽ họ chỉ khá hơn rợ Hung-nô, Đột-quyết và người da đen ở Phi Châu ngày hôm nay (chứ không phải ngày mai), nhưng chắc chắn là thua người Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Nhật.


Cách giải thích thứ hai : trí lực của tổ tiên người Trung Quốc rất khá, ít nhất cũng tài giỏi ở mức độ huy hoàng của những đời Hán, Đường. Nhưng bất hạnh thay, cái trí lực ấy càng ngày càng kiệt quệ, đời sau không bằng đời trước, sau vài trăm năm đă biến thành một dân tộc của những thằng ngu.


Giả sử đúng là trí lực của chúng ta quá tồi, chúng ta phải chấp nhận nó như thế thôi. Nhưng ai đă dậy chúng ta không biết tự ḿnh phấn đấu nhỉ ? Căn cứ trên " Định luật sinh tồn - mạnh được yếu thua " th́ một đất nước bị biến thành cái loại " thuộc địa hạng bét " như thế bởi v́ nó xứng đáng như thế. Nếu nói ngược lại, giả sử không phải v́ trí lực của chúng ta có vấn đề, nhưng v́ cái văn hóa của chúng ta có vấn đề, th́ tiền đồ của chúng ta c̣n có thể khá được, nhưng chúng ta phải biết tự sửa ḿnh, can đảm vứt cái gánh nặng văn hóa ấy đi mới được.
Chúng ta vừa nói qua khả năng thứ nhất (trí lực có vấn đề), đó là một khả năng trên mặt lư luận, nhưng không tồn tại trong thực tế. Bởi v́ không có một người Trung Quốc nào thừa nhận rằng trí lực của dân tộc Trung Quốc chúng ta lại thấp kém. Đấy không phải là một vấn đề cảm tính hoặc v́ muốn tự thổi phồng ḿnh lên, nhưng một vấn đề trên mặt lư luận có chứng cớ, không thể phủ nhận.


Những chứng cớ này là ǵ ?


Ta có thể nh́n thấy trong hai sự kiện sau :


1- Phần đóng góp của người Hoa vào công cuộc phát triển kinh tế ở Đông-Nam-á.


2- Những thành tựu về học thuật của người Hoa tại Mỹ, những thành quả này làm cho người da trắng vốn đầy tự tôn mặc cảm cũng phải thừa nhận rằng trí tuệ cá nhân người Hoa cao. Nhưng họ cũng biết người Hoa không đoàn kết, không hợp tác với nhau, chống đối nhau một cách kịch liệt và không phát huy được sức mạnh tập đoàn.


Ông Bá Dương trong tập " Đến chết không nhận lỗi " đă đưa ra một cách giải thích tuyệt vời về vấn đề của người Hoa chúng ta :


Một người đến thỉnh giáo một vị cao tăng, hỏi về kiếp trước và kiếp sau của ḿnh. Vị cao tăng đáp bằng mấy câu thơ sau :


Muốn biết kiếp trước thế nào
Cứ xem ḿnh sống ra sao kiếp này
Đầu thai rồi thế nào đây
Hăy nh́n vào việc hiện nay đang làm
[Dục tri tiền thế nhân
Kim sinh thụ giả thị
Dục tri hậu thế quả
Kim sinh tác giả thị ]


Bá Dương lại c̣n than rằng : " Mấy câu danh ngôn này làm cho tôi liên tưởng đến cái văn hóa 5.000 năm của chúng ta ". Muốn biết cái văn hóa này tốt hay xấu, không phải cứ vùi đầu vào nghiên cứu cái đống giấy cũ, mà phải mở to mắt nh́n những tội nợ mà chúng ta đang phải chịu hôm nay th́ may ra mới rơ được.


Vấn đề th́ rơ ràng có rồi, mà cũng có thể nói rằng đó là vấn đề văn hóa. Vậy phải đi thêm một bước nữa để t́m cách phân tích nó.


Ông Tôn Quang Hán, một người rất ngưỡng mộ ông Bá Dương, trong bài " Hoàn cảnh và đất đai " có viết:


" Nguyên nhân tại sao Trung Quốc không thể xây dựng được một quốc gia cường thịnh ? Đó không phải vấn đề bẩm sinh, nhưng một vấn đề sau khi sinh. Nếu dùng ngôn ngữ của người làm ruộng để nói th́ đó không phải là vấn đề " giống " mà là vấn đề " đất ".


Đối với thực vật, đất là thổ nhưỡng, thủy phân, không khí, ánh sáng mặt trời, v.v...; đối với một dân tộc, đất là hoàn cảnh, tập tục của nhân tính nói chung.


Cho đến nay thực sự chúng ta chưa sinh sản được những loại cây tốt. Nguyên nhân, nếu không do hạt giống, th́ nhất định phải v́ đất đai, hoàn cảnh, có ǵ đó không thích hợp cho những giống cây này sinh trưởng.


Trong văn hóa và tập tục 5.000 năm của Trung Quốc, ngoài phần tốt ra cũng có phần xấu. Phần xấu này là mảnh đất nơi hạt giống kia không thể lớn lên được. Cái phần văn hóa, tập tục rộng lớn, xấu xa này đúng như ông Bá Dương gọi một cách đơn giản và tóm lược là cái " vại tương ".
Tôi thấy Lỗ Tấn tiên sinh đă sáng tạo ra cái " A Q ", Lư Tông Ngô tiên sinh lại sáng tạo ra cái " Hậu hắc ", sau đó Bá Dương tiên sinh c̣n sáng tạo ra cái " hũ tương ", ba thứ này đều chí lư cả, chẳng khác nào ba chân của một cái đỉnh.


Nếu nói " A Q " đă vạch trần " nhân tính " của người Trung Quốc, " Hậu hắc " đă tố giác cái " quan tính " của người Trung Quốc, th́ " Hũ tương " tựa hồ như gốc gác của hai thứ trên. Tại sao có " A Q "? Chính do cái " Hũ tương " mà ra!


Thế th́ cái " Hũ tương " đây là ǵ, và có ǵ ở trong đó ? Định nghĩa của ông Bá Dương như sau :
" Một xă hội hỗn độn bị sâu ruỗng và tù hăm, lại bị loại chính trị nô tài thao túng, đạo đức què quặt, nhân sinh quan cá nhân, đồng tiền và thế lực làm vua. Một xă hội như thế làm cho linh tính con người chỉ có xơ cứng và tiêu tan đi thôi ".


Ông Bá Dương c̣n nói tất cả các thứ trong hũ tương ấy lại đẻ ra những hiện tượng khác như : " sự sùng bái quyền thế một cách mù quáng ", " tính ích kỷ chắc như gông cùm ", " ngôn ngữ bịp bợm ", " mê đắm những xác chết ", " bất hợp tác ", " tàn nhẫn và đố kỵ một cách lạnh lùng, trắng trợn ", " làm phách và ngớ ngẩn ".


Trước khi nói về những sản phẩm của hũ tương, tôi xin được nói thêm vài câu, v́ một khi tràng giang đại hải về hũ tương rồi sợ không thể quay trở lại được nữa.


Một số người yêu nước nghĩ rằng Trung Quốc phải giầu mạnh. Không ai có thể phủ nhận điều đó. Nhưng làm thế nào để giàu mạnh mới là vấn đề. Chẳng lẽ cứ phô trương cái sẹo của tổ tiên ra? Cứ trách cứ tổ tiên phỏng có ích ǵ? Chẳng lẽ cứ trách cứ tổ tiên cho đă đời, rồi th́ quốc gia sẽ giầu mạnh lên chăng ?
Tôi cho rằng làm như thế không phải là thượng sách. Dân tộc Trung Quốc là một dân tộc bị " bệnh ", năm tháng càng dài th́ bệnh càng nặng.
Cái bệnh này bắt nguồn từ thời Hán Vũ Đế sùng đạo Nho, lại càng bị nặng thêm với những thứ kỳ quặc như khoa cử, như Lư học thời Minh, Tống, làm cho dân tộc Trung Quốc hầu như bị tiêu tan hết linh tính, chỉ c̣n thoi thóp sống mà thôi.
Những đối thủ ngày trước như Hung - Nô, Đột - Quyết, Khiết - Đan, Tây - Hạ thực ra có một nền tảng văn hóa quá thấp, nên không tránh khỏi bị Hán hóa. Ngay cả sau này Mông Cổ và Măn Thanh chỉ chinh phục được chúng ta trên mặt vơ lực, c̣n trên mặt văn hóa lại bị chúng ta chinh phục lại. Những chiến thắng về văn hóa này làm cho chúng ta vốn mắc bệnh mà không hề biết.
Cho đến khi nhà Thanh bị ép buộc phải mở cửa cho Tây phương chúng ta mới gặp phải đối thủ lợi hại mà chúng ta chưa bao giờ gặp trước kia. Lúc đó, cái trạng thái bệnh tật nọ mới bị lộ tẩy ra ngoài.
 

Một dân tộc mắc " bệnh " cũng giống như một cá nhân, nếu không chữa cho hết bệnh th́ không có cách nào khá lên được. Dù dân chủ, dù khoa học, mà ngay cả đến những thứ thuốc bổ nhất thiên hạ cũng chẳng có ích ǵ cho một người bị bệnh đường ruột và dạ dày quá nặng.
Muốn chữa được bệnh trước hết phải t́m cho ra " căn bệnh ". Không thể v́ sợ thuốc hoặc sợ đau mà giấu bệnh được. Nếu cần, dẫu phải cưa tay cưa chân cũng kiên quyết làm, dù phải cắt bỏ dạ dày, thay thận cũng không tiếc. Cần phải có cái dũng khí như thế mới có khả năng cải tử hoàn sinh được. Vấn đề cốt lơi ở đây là phải khiêm tốn kiểm thảo căn bệnh văn hóa lâu đời này.
" Căn bệnh " này của dân tộc Trung Quốc xét cho cùng là ǵ ? Lỗ Tấn, Lư Tông Ngô, Bá Dương,... trước sau đều đă chỉ rơ. Nhưng " thuốc thang " thế nào cho khỏi ? Vấn đề trị bệnh này c̣n lớn hơn việc nêu rơ tên bệnh, song cơ hồ các vị đó chưa thấy ai đề cập đến cho chúng ta. Nhưng nếu suy nghĩ kỹ ta có thể thấy cái " ư tại ngôn ngoại " của họ. Dường như trước tiên họ muốn chúng ta cùng tham khảo để thấy rơ từng chứng bệnh một, liệt kê ra từng nguyên nhân của căn bệnh. Để rồi sau đó người Trung Quốc - những ai c̣n biết suy nghĩ - từng người một nh́n vào những bệnh chứng này mà suy xét, cái nào xấu th́ bỏ đi, cái nào không xấu th́ giữ lại.
Nếu những người có ḷng này càng ngày nhiều, " cái bỏ đi " và " cái giữ lại " càng ngày càng lớn. Như thế, tất chẳng mấy chốc cái bệnh lâu đời đó của dân tộc Trung Quốc sẽ không thuốc mà tự lành. Cái này có lẽ sẽ dính dáng đến vấn đề " biết dễ, làm khó " hoặc " biết khó, làm dễ " mà ở đây chúng ta không bàn đến.


Trong bài " Đến chết không nhận lỗi " (ở tập " Đập vỡ hũ tương ") có đoạn như sau:


" Có kẻ cho rằng người Trung Quốc bản thân không xứng đáng, cho nên mới để cho nước nhà ra nông nỗi này. Không những không biết tự trách móc ḿnh, mà trái lại, họ c̣n tức tối, đi trách cứ tổ tiên cái này không đúng, cái nọ không đúng, làm họ phải chịu hậu quả. Thay v́ xây dựng một giang sơn tốt đẹp để họ được hưởng phúc lộc th́ tổ tiên để lại cho họ một đất nước như thế ".
Đối với cách nói ấy, ông Bá Dương đă trả lời :


" Điều này chả khác chuyện cha với con. Nếu con khá giả, thông minh linh lợi,học qua được đại học, thế mà đời lại hỏng th́ đương nhiên không thể trách cứ được bố nó ; mà nó chỉ có thể tự trách ḿnh không xứng đáng. Nhưng nếu như đứa con từ khi sinh ra đă bị vi trùng lậu làm cho hỏng mắt, lại bị di truyền làm cho dở điên dở khùng, ngớ ngớ ngẩn ngẩn, lang thang đầu đường xó chợ xin ăn kiếm sống th́ cái trách nhiệm của nó quá nhỏ. Nếu nó có mở mồm trách bố nó tại sao lại mắc bệnh phong t́nh, trách mẹ nó v́ sao không chữa khỏi bệnh đi, th́ chúng ta cũng không thể nhẫn tâm bắt nó im mồm được ".


Các sản phẩm của cái hũ tương mà ông Bá Dương đă nói đương nhiên không nhất thiết cái nào cũng hoàn toàn đúng, nhưng ít nhất cũng có một phần không sai. Văn chương ông Bá Dương xưa nay vốn mạch lạc phân minh, chỉ tiếc lúc nói về những sản phẩm hũ tương, hành văn lại hơi lộn xộn, có lúc lung tung lạc đề. Lúc th́ vụt một cái lộn trở lại, lúc vụt một cái lại phóng đi.


Chúng tôi xin trích một phần giới thiệu nhỏ dưới đây - đă qua một lần chỉnh lại theo nguyên tắc giữ đúng nguyên ư tác giả - để người đọc đối chiếu với nguyên văn làm bằng chứng :


Sản phẩm đầu tiên của hũ tương là sự sùng bái quyền thế một cách điên cuồng. ở Trung Quốc thời cổ, người có quyền thế tối cao là Hoàng đế. Đối với ông ta những nguyên tắc luân lư đều vô nghĩa. Thân thuộc nhánh bên (không phải trực hệ) ở trước mặt Hoàng đế bất quá chỉ là " thần ", là " nô tài ", (Ví phỏng Hoàng đế đă được tấn phong, cho dù là bố mẹ cũng không được là ngoại lệ). Đối với cái thứ tính cách oái oăm trái với luân lư này (quan tính lớn hơn nhân tính), một loại đạo đức dị h́nh, không những không ai phản đối mà c̣n cho là ư trời, nghĩa đất.


Về mặt hoang dâm trong đời sống cung đ́nh th́ những Hoàng đế Tây phương c̣n phải kém xa. Chưa cần bàn đến cái " Ba ngh́n người đẹp trong hậu cung " của thời Đường, ngay thời Chu vương triều, thiên tử có thể có tới 121 bà vợ một cách hợp pháp.


Theo " Nội tắc " trong " Lễ kư " chỉ để sắp xếp cho chu tất chương tŕnh hàng ngày của cái việc " điên loan đảo phụng ", sao cho cả hơn trăm bà đều được thấm đượm ơn mưa móc của nhà vua cũng đă là một điều khổ tâm rồi; chưa kể những chuyện ghen tuông tranh giành giữa các bà.


Tất cả các ông thánh đối với mấy việc này không những không phản đối, mà họ c̣n biến các loại " dâm đồ " này thành thiên tử thánh thần, biến cái kiểu " chơi loạn chơi tạp " này thành ra phép tắc chính thức của quốc gia, xă hội. V́ vậy Bá Dương cho rằng :


Thánh nhân không những chỉ hùa theo mà c̣n là đầu sỏ, cùng phạm tội với những kẻ có quyền và bọn dâm đồ. Quyền lực nào khác xăng dầu, thánh nhân không những không t́m cách đề pḥng sự dễ cháy của nó mà lại c̣n châm lửa th́ khi nó bốc lên làm sao mà dập được ?


Bá Dương cho là quyền lực của Hoàng đế Tây phương luôn luôn bị thành phần trí thức giới hạn, giám sát. Nhưng ở Trung Quốc th́ các ông thánh lại v́ phe nắm quyền mà phát minh ra thứ triết học kỳ quặc kiểu như sau :


" Khắp dưới gầm trời không có chỗ nào không là đất của nhà vua. Tất cả các kẻ sĩ trong thiên hạ có kẻ nào mà không phải là tôi của nhà vua ". Th́ ra, sinh mạng tài sản của nhân dân đều do cái tên " đại dâm đồ " đó ban cho. Chẳng trách cái thằng chơi gái thứ dữ đó cứ muốn làm ǵ th́ làm.
Khi sự tôn sùng quyền thế là nền tảng của 5.000 năm văn hóa truyền thống th́ cái quan hệ giữa người và người chỉ có sự " kính và sợ ", c̣n sự " thương yêu " th́ không đáng kể. Cái gọi là " nhân " chỉ là thứ t́m thấy trong sách vở, khó mà gặp được trong hành động. Vả lại, chữ " nhân " này tựa hồ không có tính cách b́nh đẳng của hai bên cùng được lợi.


Sùng bái quyền thế một cách tuyệt đối đưa đến một nền chính trị nô tài và cái đạo đức dị h́nh, không c̣n tiêu chuẩn về thị phi, chỉ c̣n cái tiêu chuẩn vụ lợi bất kể phải trái. Chỉ c̣n một con đường là tiền tài, phú quư, công danh. Mọi người đều phải gọt đầu cho nhọn để liều mạng chui vào chỗ quan trường. Chỉ cần tôi có thể làm quan th́ bắt tôi làm ǵ tôi cũng làm.


Như Đào Uyên Minh - không v́ năm hộc thóc mà uốn cong lưng - th́ có được mấy người ?


" Mười năm tân khổ " chẳng v́ nghiên cứu phát minh, chẳng v́ viết sách lập thuyết, chẳng v́ bôn ba cách mạng, mà chỉ v́ " một ngày thành danh ". " Thành danh " ở đây có nghĩa là làm quan vậy.


Xưa nay, việc làm quan hấp dẫn người ta như điên cuồng cũng bởi v́:


1- Có quyền trong tay, dù ở cấp bực nào (tùy quan lớn nhỏ) cũng muốn ǵ được nấy.
2- Được mọi người sùng bái.
3- Học vấn trở thành uyên bác (Đối với người Tây phương : tri thức là quyền lực. Đối với người Trung Quốc : quyền lực là tri thức).
4- Tài sản được gia tăng (Người Tây phương lấy buôn bán làm nguồn gốc của sự giàu sang. Người Trung Quốc trọng sĩ, khinh thương; lại bị ảnh hưởng của cái " Hà tất viết lợi " của Mạnh Tử).


Sở dĩ mồm không nói đến lợi, nhưng trong bụng lại nghĩ đến lợi một cách sống chết, v́ thế mới làm quan để vơ vét. Chuyện tên đạo tặc khét tiếng Trịnh Chúng đời Nam Tống, sau khi quy hàng được bổ làm quan, bị đồng liêu coi rẻ, y tức ḿnh bèn có thơ rằng :


" Các vị làm quan để ăn trộm,
Trịnh Chúng ăn trộm mới làm quan ! "
(Các vị tố quan hựu tố tặc,
Trịnh Chúng tố tặc tài tố quan)


Đúng là một câu nói toạc móng heo cái việc làm quan !


Tôn thờ quyền thế quá độ - không cần nói đến trường hợp chính trị, học thuật - ngay cả đến t́nh hữu nghị giữa người với người cũng biến chất, biến thành thiển cận, thành thế lợi.


 

Người TQ Xấu Xí