2. Người
Trung
Quốc
Và
Cái
Vại
Tương
Bài
nói
tại
New
York
ngày
16-08-1981,
do
kư
giả
tờ
báo
tiếng
Hoa
"
Bắc
Mỹ
nhật
báo
"
ghi
lại.
Vừa
rồi
ông
Chủ
tịch
nói
cuộc
họp
mặt
hôm
nay
là
một
vinh
hạnh
của
Hội
"
Tùng
Xă
",
đúng
ra
vinh
hạnh
này
là
của
tôi.
Tôi
xin
cảm
tạ
quư
vị
đă
cho
tôi
dịp
được
gặp
mặt
các
vị ở
nơi
xa
quê
hương
này
để
xin
chỉ
giáo.
Thực
ra
Chủ
tịch
và
Chủ
báo
"
Tân
Sĩ
Tạp
Chí
",
ông
Trần
Tiến
Trung
nói
với
tôi
đây
là
một
cuộc
tọa
đàm,
nên
tôi
rất
vui
được
đến
dự.
Nhưng
hôm
qua
từ
Bo-xton
đến
tôi
mới
rơ
là
một
buổi
diễn
giảng,
việc
này
làm
cho
tôi
rất
lo
v́
New
York
là
một
đô
thị
lớn
bậc
nhất
thế
giới,
đầy
"
rồng
núp,
hổ
nằm
".
Cho
nên
tôi
chỉ
dám
nêu
lên
đây
một
ít
cảm
tưởng
tản
mạn
và
đó
hoàn
toàn
là ư
kiến
riêng
tư
chứ
không
dám
kết
luận
ǵ
cả.
Xin
các
vị
chỉ
giáo
và
chúng
ta
cùng
trao
đổi
với
nhau.
Chủ
đề
hôm
nay
ông
Chủ
tịch
giao
cho
tôi
là "
Người
Trung
Quốc
và
cái
vại
tương".
Nếu
buổi
hôm
nay
là
một
buổi
thảo
luận
về
học
thuật
th́
trước
tiên
chúng
ta
phải
định
nghĩa
người
Trung
Quốc
là
ǵ?
Cái
vại
tương
là
ǵ?
Tôi
nghĩ
tôi
không
phải
định
nghĩa
nữa,
sợ
thành
vẽ
rắn
thêm
chân.
Bởi
v́
có
một
hiện
tượng
trên
đời
là
cái
ǵ
mọi
người
đều
đă
biết
mà
lại
đi
thêm
cho
nó
một
định
nghĩa,
việc
này
vô
t́nh
có
thể
biến
nội
dung
và
h́nh
thức
của
nó
trở
thành
mơ
hồ,
biến
chân
tướng
của
nó
thành
khó
hiểu,
và
do
đó
c̣n
khó
bắt
đầu
thảo
luận
hơn.
Phật
giáo
vốn
cho
rằng
con
người
phải
qua
ṿng
luân
hồi.
Việc
này
làm
tôi
nhớ
đến
một
tích
xưa.
Có
người
đến
hỏi
một
vị
cao
tăng
đă
đạt
đạo
:
"
Đời
tôi
bây
giờ
là
do
tiền
kiếp
mà
tái
sinh,
thế
th́
kiếp
trước
tôi
là
người
thế
nào?Nếu
c̣n
phải
đầu
thai
một
lần
nữa,
ngài
có
thể
cho
tôi
biết
kiếp
sau
tôi
sẽ
trở
thành
người
ra
sao
không
? ".
Vị
cao
tăngtrả
lời
anh
nọ
bằng
bốn
câu
thơ
sau:
Dục
tri
tiền
thế
nhân
Kim
sinh
thụ
giả
thị
Dục
tri
hậu
thế
quả
Kim
sinh
tác
giả
thị
(Muốn
biết
cái
nguyên
nhân
của
kiếp
trước
Cứ
xem
những
ǵ
ḿnh
nhận
được
ở
kiếp
này
Muốn
biết
cái
hậu
quả
ở
kiếp
sau
Cứ
xem
những
ǵ
ḿnh
đang
làm
ở
kiếp
này)
(Tạm
dịch
thơ:
)
Muốn
biết
kiếp
trước
thế
nào
Cứ
xem
ḿnh
sống
ra
sao
kiếp
này
Đầu
thai
rồi
thế
nào
đây
Hăy
nh́n
vào
việc
hiện
nay
đang
làm
(NHT)
Giả
sử
kiếp
này
anh
được
sung
sướng,
kiếp
trước
nhất
định
anh
là
một
người
chính
trực,
độ
lượng.
Nếu
kiếp
này
anh
gặp
nhiều
khổ
nạn
th́
phải
suy
ra
rằng
kiếp
trước
anh
đă
làm
những
điều
ác.
Cái
tích
xưa
này
gợi
cho
chúng
ta
rất
nhiều
ư
nghĩa.
Các
vị ở
đây,
nếu
là
con
nhà
Phật
hẳn
cảm
thụ
dễ
dàng,
nếu
không
phải
là
người
theo
đạo
Phật
chắc
không
tin
vào
tiền
oan
nghiệp
chướng,
nhưng
có
thể
xin
các
vị
cứ
suy
nghĩ
về
cái
triết
lư
của
nó.
ư
tôi
muốn
nói
chuyện
này
làm
chúng
ta
liên
tuởng
đến
văn
hóa
Trung
Quốc.
Các
vị ở
đây,
bất
kể
quốc
tịch
ǵ,
đại
đa
số
đều
có
ḍng
máu
Trung
Quốc,
các
vị
thích
hay
không
thích
nó
vẫn
vậy,
chẳng
làm
sao
thay
đổi
được.
Tôi
nói
người
Trung
Quốc
là
theo
nghĩa
rộng,
theo
nghĩa
huyết
thống
chứ
không
phải
nghĩa
địa
lư.
Người
Trung
Quốc
từ
200
năm
gần
đây,
lúc
nào
cũng
có
một
ước
mong
cho
đất
nước
hùng
cường,
ước
mong
cho
dân
tộc
chúng
ta
trở
thành
một
dân
tộc
ưu
tú
trong
thế
giới.
Nhưng
đă
bao
nhiêu
năm
nay,
chúng
ta
luôn
luôn
yếu
kém,
măi
bị
ngoại
nhân
khinh
thị,
nguyên
nhân
tại
đâu
?
Đương
nhiên
trách
nhiệm
là
do
nơi
chúng
ta.
Nhưng
nh́n
dưới
góc
độ
văn
hóa
mà
đặt
câu
hỏi
đó
th́
có
thể
nghĩ
đến
cái
tích
xưa
vừa
kể
trên.
Tại
sao
có
ngày
hôm
nay
? V́
sao
nước
nhà
vẫn
chưa
lớn
mạnh?
Nhân
dân
vẫn
c̣n
biết
bao
khổ
nạn?
Từ
kẻ
cùng
đinh
không
quyền
thế
đến
kẻ
phú
quư
với
đặc
quyền
đặc
lợi
đều
có
một
nguyện
vọng
tha
thiết
như
nhau
cho
đất
nước,
cũng
như
đều
có
cùng
một
đau
buồn
sâu
sắc.
Tôi
nhớ
thuở
bé
thầy
học
bảo
chúng
tôi
: "
Hy
vọng
của
nước
nhà
đặt
nơi
các
em".
Nhưng
rồi
chúng
ta
bây
giờ
th́
sao
?
Lại
đến
lượt
chúng
ta
hướng
về
đám
thanh
niên
bảo
: "
Các
em
là
hy
vọng
của
tương
lai
Trung
Quốc
".
Cái
kiểu
cứ
đùn
đẩy
trách
nhiệm
từ
đời
này
xuống
đời
khác
sẽ
c̣n
kéo
dài
cho
đến
bao
giờ
?
Những
người
Trung
Quốc
ở
nước
ngoài
đối
với
vấn
đề
này
lại
càng
nhậy
cảm
và
kỳ
vọng
của
họ
lại
càng
sâu
nặng.
Ngoài
việc
tự
thân
chúng
ta
đă
không
thể
mang
hết
được
cái
trọng
trách
về
chuyện
nước
nhà
rơi
xuống
một
mức
độ
tồi
tệ
với
những
khổ
nạn
như
vậy,
chúng
ta
lại
c̣n
phải
è cổ
vác
cái
gánh
văn
hóa
truyền
thống
nặng
nề
kia.
Đấy
là
nghiệp
báo
như
đă
nói
ở
trên.
Hôm
trước,
lúc
đi
thăm
Viện
bảo
tàng
Boston,
tôi
thấy
bên
trong
có
bầy
đôi
giày
cho
phụ
nữ
bó
chân
của
thời
đại
các
bà
nội
chúng
ta.
Kinh
nghiệm
bản
thân
cho
tôi
biết
những
người
phụ
nữ
khoảng
tuổi
tôi
thời
ấy
đều
phải
bó
chân.
Ngày
nay
những
người
trẻ
tuổi
nghe
đến
chắc
không
thể
nào
tưởng
tượng
nổi.
Tại
sao
trong
văn
hóa
chúng
ta
lại
có
thể
sinh
ra
một
cái
tập
quán
tàn
khốc
thế
?
Lại
có
thể
áp
đặt
nó
lên
trên
một
nửa
dân
số
trong
hàng
ngh́n
năm,
làm
cho
những
người
bị
bức
hại
phải
tàn
phế
cả
hai
chân,
thậm
chí
có
khi
c̣n
găy
cả
xương,
thối
cả
thịt,
không
thể
đi
đứng
được.
Tại
sao
văn
hóa
Trung
Quốc
lại
có
thể
kéo
dài
cả
hàng
ngh́n
năm
trong
lịch
sử
một
yếu
tố
dă
man
như
vậy
?
Tại
sao
lại
cho
phép
trường
tồn
qua
một
thời
gian
dài
như
thế
mà
không
có
một
người
nào
đứng
lên
bảo
nó
phản
tự
nhiên,
hại
sức
khỏe
?
Ngược
lại,
đại
đa
số
nam
nhi
c̣n
xem
bó
chân
là
hay
ho,
đẹp
đẽ.
C̣n
nói
đến
việc
bách
hại
nam
nhi
th́
thế
nào
? Đó
không
phải
chỉ
riêng
chuyện
các
hoạn
quan.
Theo
ghi
chép
của
lịch
sử,
từ
các
triều
vua
Tống
trở
về
trước,
các
nhà
có
quyền
và
có
tiền
đều
có
thể
tự
do
thiến
các
nô
bộc
của
ḿnh.
Sự
việc
kinh
rợn
này
kéo
dài
cho
đến
triều
Tống
-
thế
kỷ
XI -
mới
bị
cấm.
Chỉ
căn
cứ
vào
hai
việc
trong
biết
bao
nhiêu
việc
không
hợp
lư
và
vô
nhân
đạo
của
văn
hóa
Trung
Quốc
suốt
quá
tŕnh
lịch
sử
của
nước
này,
ta
cũng
có
thể
thấy
là
những
thành
phần
không
hợp
lư
của
nó
đă
lên
đến
một
mức
độ
không
thể
nào
khống
chế
được.
Bất
kỳ
văn
hóa
của
một
dân
tộc
nào
đều
như
một
ḍng
sông
lớn,
thao
thao
bất
tuyệt
trôi
đi.
Và
với
thời
gian
dần
dần
biết
bao
thứ
nhơ
nhớp
bẩn
thỉu
trong
ḍng
sông
lớn
ấy,
-
như
cá
chết,
mèo
chết,
chuột
chết
- sẽ
bắt
đầu
ch́m
lắng.
Lắng
đọng
quá
nhiều
sẽ
làm
ḍng
sông
không
thể
chảy
nữa,
biến
thành
một
cái
đầm
nước
chết,
càng
sâu
càng
nhiều,
càng
lâu
càng
thối,
lâu
dần
thành
một
cái
vại
tương,
một
cái
đầm
bùn
bẩn
phát
chua,
phát
thối.
Nói
đến
cái
hũ
tương
có
lẽ
những
bạn
trẻ
không
thể
hiểu,
tôi
vốn
sinh
ra ở
phương
Bắc,
nơi
quê
tôi
cái
thứ
này
rất
nhiều.
Tôi
không
thể
nói
chính
xác
cái
chất
tương
trong
vại
ấy
làm
bằng
những
chất
liệu
ǵ (chất
chính
là
đậu
tương
và
bột
ḿ),
nhưng
các
vị
nếu
đă
ăn
qua
vịt
quay
tại
các
tiệm
ăn
Trung
Quốc
th́
chính
là
loại
tương
đó.
Nó
là
một
chất
đặc
không
chảy
được,
không
giống
nước
sông
Hoàng
hà
từ
trên
trời
chảy
xuống
một
tư
nào.
(Hoàng
hà
chi
thủy
thiên
thượng
lai,
bôn
lưu
đáo
hải
bất
phục
hồi
-
thơ
Lư
Bạch).
Nó
là
một
thứ
nước
ao
tù,
lại
được
để
cho
bốc
hơi,
cho
lắng
đọng
nên
nồng
độ
càng
ngày
càng
đông
đặc.
Cái
văn
hóa
của
chúng
ta,
cái
tiền
oan
nghiệp
chướng
như
đă
nói
cũng
là
như
thế.
Trong
văn
hóa
Trung
Quốc,
cái
có
thể
gọi
là
điển
h́nh
nhất
cho
cái
đặc
sắc
này
là
chế
độ "
quan
trường
".
Thời
xưa
mục
đích
học
hành
của
các
phần
tử
trí
thức
là
làm
quan.
Cái
chữ
"
trường
"
nh́n
không
thấy,
sờ
không
đụng
này
được
h́nh
thành
qua
chế
độ
khoa
cử.
Một
khi
người
đọc
sách
đă
lọt
vào
được
chốn
quan
trường
liền
ở
vào
trạng
thái
đối
nghịch
với
người
thường,
với
nhân
gian.
Dưới
chế
độ
đó
người
đi
học
cốt
chỉ
được
làm
quan,
v́
có
câu
nói
rằng
trong
sách
có
nhà
vàng,
có
nhan
sắc
như
ngọc.
Đọc
sách
để
có
thể
làm
quan,
làm
quan
ắt
có
mỹ
nữ,
kim
tiền.
Thời
xưa
có
người
nói
: "
Hàng
hàng
xuất
trạng
nguyên
",
kỳ
thực
chỉ
trong
số
những
người
đi
học
mới
có
trạng
nguyên,
c̣n
những
người
khác
cũng
chỉ
là
thợ
thuyền
không
đáng
một
đồng
trinh.
Thời
đó
những
người
của
các
giai
tầng
khác
bị
rất
nhiều
giới
hạn,
nào
là
không
được
mặc
loại
áo
quần
nào
đó,
không
được
đi
thứ
xe
nào
đó,
ở
loại
nhà
nào
đó.
Xă
hội
phong
kiến
đặt
cái
lợi
ích
của
những
người
làm
quan
lên
trên
hết,
và
v́
nó
đă
khống
chế
Trung
Quốc
quá
lâu,
nên
tạo
thành
một
lực
lượng
và
một
ảnh
hưởng
vô
cùng
lớn.
Về
mặt
kinh
tế
không
có
ǵ
thay
đổi
đáng
kể,
nhưng
về
mặt
chính
trị
nó
đă
ḱm
hăm
chúng
ta
lâu
dài
trong
cái
hũ
tương
văn
hóa
đó.
Một
trong
những
cái
đặc
trưng
của
nó
là
đặt
tiêu
chuẩn
của
giới
quan
lại
thành
một
cái
chuẩn
cho
xă
hội,
biến
lợi
ích
các
quan
thành
cái
lợi
chung.
V́
vậy
nó
đẻ
ra
một
thứ
ngày
nay
gọi
là "
Chính
trị
thống
soái
"
theo
kiểu
nói
của
Mao,
làm
cho
cái
hũ
tương
văn
hóa
của
chúng
ta
càng
thêm
sâu
đậm,
càng
thêm
nồng
nặc.
Ch́m
đắm
lâu
dài
trong
cái
hũ
tương
đó,
người
Trung
Quốc
trở
thành
ích
kỷ,
nghi
kị.
Tôi
tuy
đến
Mỹ
chỉ
là
du
lịch
ngắn
ngày,
nhưng
nh́n
bề
ngoài
tôi
thấy
người
Mỹ
khá
thân
thiện,
hạnh
phúc,
lúc
nào
cũng
tươi
cười.
Tôi
cũng
đă
gặp
con
em
các
bạn
bè
người
Hoa
ở
đây,
trông
tuy
có
vẻ
sung
sướng,
nhưng
rất
ít
cười.
Có
phải
là
các
bắp
thịt
ở
mặt
của
người
Trung
Quốc
chúng
ta
cấu
tạo
không
giống
họ?
Hay
là
v́
dân
tộc
chúng
ta
mang
một
cái
ǵ
vốn
quá
u ám?
Chúng
ta
có
nghĩ
được
rằng
dân
tộc
chúng
ta
sở
dĩ
như
vậy
v́
thiếu
sức
sống
trẻ,
mà
điều
đó
lại
là
do
chính
trách
nhiệm
của
chúng
ta
không?
Giữa
chúng
ta,
chúng
ta
chèn
ép
lẫn
nhau,
không
hề
hợp
tác.
Tôi
nghĩ
đến
chuyện
một
người
cảnh
sát
trưởng
Nhật
Bản,
khi
huấn
luyện
các
học
viên
của
ḿnh,
bảo
thuộc
hạ
phải
nghi
ngờ
tất
cả
mọi
người,
v́
họ
đều
có
thể
là
đạo
tặc.
Cái
trạng
thái
tâm
lư
này
dùng
để
huấn
luyện
cảnh
sát
h́nh
sự
th́
được,
nhưng
tâm
lư
phổ
biến
của
người
Trung
Quốc
lúc
b́nh
thường
lại
cũng
như
thế,
lúc
nào
cũng
nghĩ
kẻ
khác
có
thể
làm
hại
ḿnh,
nó
h́nh
thành
một
nỗi
lo
sợ
về
bất
cứ
một
cái
ǵ.
Cái
nỗi
lo
sợ
này
làm
người
Trung
Quốc
biến
thành
"
một
đống
cát
rời
"
năm
bè,
bảy
mảng
(như
lời
của
Tôn
Dật
Tiên).
Một
nước
lớn
như
Trung
Quốc,
có
tài
nguyên,
có
nhân
khẩu
hơn
một
tỷ
người
nếu
đồng
tâm
hiệp
lực,
trong
á
châu
này
chẳng
lẽ
không
bằng
được
Nhật
bản
?
Ṃn
mỏi
dưới
chế
độ
xă
hội
phong
kiến
chuyên
chế
tự
bao
đời,
đắm
ch́m
ngụp
lặn
trong
cái
hũ
tương
đó,
óc
phán
đoán
cùng
tầm
nh́n
của
người
Trung
Quốc
đă
bị
tương
làm
ô
nhiễm
nặng,
không
vượt
ra
nổi
cái
phạm
vi
ảnh
hưởng
của
nó.
Qua
bao
nhiêu
niên
đại,
đa
số
chúng
ta
mất
dần
năng
lực
phán
đoán
cái
ǵ
đúng
cái
ǵ
sai,
mất
khả
năng
phân
biệt
cái
ǵ
là
đạo
đức,
chỉ
phản
ứng
bằng
t́nh
cảm
và
trực
giác
mà
không
biết
suy
nghĩ.
Tất
cả
giá
trị
của
hành
động
rồi
đều
bị
cái
tiêu
chuẩn
chính
trị
và
đạo
đức
của
cái
hũ
tương
đó
chi
phối.
V́
vậy
thị
phi,
phải
trái,
đen
trắng
không
c̣n
có
vẻ
đối
nghịch
nữa.
Trong
hoàn
cảnh
này,
khi
t́m
hiểu
sự
vật,
chẳng
ai
c̣n
đi
đến
chỗ
phân
tích
cặn
kẽ.
Cứ
qua
loa
lấy
lệ
một
cách
lâu
dài
rốt
cuộc
sẽ
đưa
đến
cái
quả
báo
nhăn
tiền,
đó
là "
Chiến
tranh
Nha
phiến
"
(1840).
Chiến
tranh
Nha
phiến
là
sự
đột
nhập
của
văn
hóa
nước
ngoài
theo
chiều
ngang.
Đối
với
người
Trung
Quốc
nó
đánh
dấu
một
kỷ
niệm
"
quốc
sỉ "
(cái
nhục
của
một
nước),
nhưng
nh́n
từ
một
góc
độ
khác
nó
lại
là
một
lần
thức
tỉnh
lớn
không
thể
tránh
được.
Nhật
Bản
trên
mặt
này
đă
phản
ứng
hoàn
toàn
khác
chúng
ta.
ở
thế
kỷ
XVIII
khi
Mỹ
đánh
ch́m
hai
tàu
Nhật,
nước
Nhật
đă
mở
cửa.
Đối
với
người
Nhật
sự
kiện
này
mang
lại
một
cơ
hội
tốt,
họ
biết
biến
sự
sỉ
nhục
thành
một
sự
thức
tỉnh.
Thực
ra
chúng
ta
phải
cảm
ơn
Chiến
tranh
Nha
phiến,
nếu
không
có
nó
th́
t́nh
cảnh
hiện
tại
sẽ
như
thế
nào?
Có
lẽ
các
vị
ngồi
đây
không
chừng
trên
đầu
vẫn
c̣n
cái
đuôi
sam,
phụ
nữ
vẫn
c̣n
bó
chân,
c̣n
mặc
áo
dài,
áo
ngắn
(áo
kiểu
ngày
xưa
của
người
Trung
Quốc),
trên
bộ
c̣n
ngồi
kiệu
do
người
khiêng,
dưới
nước
c̣n
ngồi
thuyền
tam
bản.
Ví
thử
Chiến
tranh
Nha
phiến
xảy
ra
sớm
hơn
300
năm,
có
lẽ
Trung
Quốc
đă
biến
đổi
sớm
hơn
một
tư;
nếu
nó
xảy
ra
sớm
hơn
1.000
năm
th́
lịch
sử
đă
hoàn
toàn
chẳng
như
ngày
nay.
Tôi
cho
rằng
cái
" kỷ
niệm
quốc
sỉ "
này
là
một
cú
đập
mạnh
vào
cái
hũ
tương
văn
hóa
của
chúng
ta.
Không
có
nó
người
Trung
Quốc
vẫn
c̣n
ch́m
đắm
dưới
đáy,
có
khi
c̣n
ngạt
thở
mà
chết
rồi.
Sự
đột
nhập
của
văn
hóa
ngoại
lai
trong
Chiến
tranh
Nha
phiến
làm
cho
chúng
ta
có
thể
nghĩ
rằng
nhà
Thanh
là
một
thời
đại
quan
trọng
nhất
trong
lịch
sử
Trung
Quốc.
Nếu
chiến
tranh
này
xảy
ra
vào
thời
nhà
Minh
chưa
chắc
Trung
Quốc
chịu
nổi
cú
sốc
và
t́nh
h́nh
đă
khác.
Văn
minh
hiện
đại
phương
Tây
đối
với
nước
Trung
Quốc
già
nua
thật
ra
càng
đột
nhập
sớm
càng
tốt.
Cái
sự
xung
kích
lớn
lao
này
chắc
hẳn
là
một
sự
kiện
khiêu
chiến
nghiêm
trọng
đối
với
lịch
sử
và
văn
hóa,
nhưng
đem
lại
cho
chúng
ta
cái
văn
minh
vật
chất
và
văn
minh
tinh
thần
mới.
Cái
gọi
là
văn
minh
vật
chất
Tây
phương
như
máy
bay,
trọng
pháo,
xe
hỏa,
tàu
điện
ngầm,
v.v...làm
cho
chúng
ta
bỗng
nhiên
thấy
thế
giới
bên
ngoài
mới
mẻ
làm
sao,
có
biết
bao
nhiêu
thứ
không
giống
chúng
ta,
làm
cho
chúng
ta
có
một
nhận
thức
biết
coi
trọng
cái
mới,
cái
văn
minh
vật
chất.
C̣n
nói
đến
văn
minh
tinh
thần,
những
ư
thức
hệ
chính
trị
Tây
phương
cùng
các
tư
tưởng
học
thuật
cũng
cho
chúng
ta
bao
nhiêu
quan
niệm
và
gợi
ư
mới
mẻ.
Xưa
nay
chúng
ta
nào
biết
dân
chủ,
tự
do,
nhân
quyền,
pháp
trị
là
ǵ.
Tất
cả
những
thứ
này
đều
là
các
sản
phẩm
lấy
giống
từ
phương
Tây.
Trước
đây
người
Trung
Quốc
chỉ
biết
câu
: "
Nhân
mệnh
quan
thiên
" (số
mệnh
con
người
là
do
nơi
trời).
Thực
ra
số
mệnh
một
con
người
có
phải
là
do
trời
hay
không
cũng
c̣n
tùy.
Nếu
tôi
giết
chết
một
người,
có
lẽ
sẽ
do
trời
thật,
nhưng
nếu
hung
thủ
là
một
kẻ
quyền
thế
th́
đă
chắc
ǵ ?
V́
vậy
c̣n
phải
xem
vấn
đề
là
dính
dáng
đến
ai.
Có
một
nhân
vật
cổ
quái
c̣n
nói
một
câu
: "
Dân
vi
quư,
quân
vi
khinh
" (Dân
là
quư,
vua
là
thường).
Đấy
chỉ
là
một
thứ
lư
tưởng
mà
Trung
Quốc
chưa
bao
giờ
thực
hiện.
Thời
phong
kiến
xưa,
sau
một
triều
vua
lại
đến
một
triều
vua,
chẳng
có
ǵ
thay
đổi.
Lật
đổ
triều
đại
trước,
thiết
lập
triều
đại
mới,
cách
biểu
thị
duy
nhất
về
sự
bất
đồng
của
ḿnh
với
triều
vua
trước
là
đốt
phá
các
cung
vàng
điện
ngọc
mà
triều
trước
đă
xây
để
làm
cung
điện
mới
của
ḿnh.
Lư
do
viện
dẫn
để
đốt
phá
vẫn
được
đưa
ra
là
v́
triều
trước
chính
sách
bạo
tàn,
triều
đại
của
ḿnh
mới
là
nhân
hậu.
Nhân
hậu
nên
mới
phải
làm
cái
việc
đem
chính
sách
nhân
hậu
của
ḿnh
để
tàn
phá
nhà
cửa
của
chính
sách
hung
tàn.
Cứ
đời
này
sang
đời
khác
như
thế,
về
mặt
tư
tưởng
chính
trị
chẳng
có
xây
dựng
được
ǵ,
nhưng
nhà
cửa
th́
cứ
tiếp
tục
đốt
phá
để
biểu
lộ
sự
khác
nhau.
Chẳng
trách
ở
một
nước
lâu
đời
như
Trung
Quốc
sau
mấy
ngh́n
năm
các
kiến
trúc
cổ
chẳng
c̣n
được
là
bao
!
Trong
hệ
tư
tưởng
chính
trị
Trung
Quốc,
có
vài
khái
niệm
lư
tưởng
gần
với
Tây
phương
như
"
Vua
phạm
pháp
cũng
bị
tội
như
thứ
dân
" (Vương
tử
phạm
pháp
dữ
thứ
dân
đồng
tội).
Nhưng
điều
này
chẳng
qua
cũng
chỉ
là
một
hy
vọng
và
ảo
tưởng
mà
thôi.
Sự
thực
cái
điều
vua
và
dân
cùng
tội
này
trên
căn
bản
tuyệt
đối
không
thể
có.
Người
Trung
Quốc
xưa
nay
có
bao
giờ
biết
dân
chủ,
tự
do,
pháp
trị
là
ǵ.
Tuy
có
người
bảo
chúng
ta
cũng
có
tự
do,
có
thể
chửi
cả
hoàng
đế,
song
thật
ra
quyền
tự
do
của
chúng
ta
rất
có
hạn,
bị
kẻ
thống
trị
khống
chế
trong
phạm
vi
cho
phép.
Nhân
dân
nếu
được
phép
chửi
hoàng
đế
chắc
cũng
chỉ
dám
lén
lút
chửi
sau
lưng.
Phạm
vi
của
tự
do
rất
hẹp
ḥi.
Đương
nhiên
có
thể
có
cái
tự
do
suy
nghĩ
vớ
vẩn
chứ
các
khái
niệm
dân
chủ,
pháp
trị
th́
hoàn
toàn
chẳng
có.
Dân
tộc
chúng
ta
là
một
trong
những
dân
tộc
lớn,
đương
nhiên
trong
vấn
đề
t́nh
cảm
không
nói
thế
th́
không
xong.
Nhưng
trên
thế
giới
này
c̣n
có
một
dân
tộc
vĩ
đại
khác
là
dân
Anglosaxon
(Ăng-glô-sắc-xân).
Dân
tộc
này
đă
thiết
lập
cho
văn
minh
thế
giới
những
khuôn
khổ
như
chế
độ
quốc
hội,
tuyển
cử,
tư
pháp
độc
lập,
tư
pháp
bồi
thẩm,v.v...,
cống
hiến
cho
cộng
đồng
nhân
loại
những
cơ
cấu
văn
minh
tốt
đẹp
như
vậy,
và
đó
cũng
là
một
nguyên
nhân
cho
phép
những
xă
hội
Tây
phương
về
mặt
chính
trị
hướng
đến
công
b́nh,
hợp
lư.
Cái
việc
tuyển
cử
dù
lăng
phí
thế
nào
đi
nữa
so
với
việc
giết
người
như
núi,
máu
chảy
thành
sông
vẫn
c̣n
tốt
hơn.
Đối
với
những
thứ
tốt
đẹp
này
của
Tây
phương
chúng
ta
phải
có
can
đảm
mà
tiếp
nhận.
Có
người
bảo
tuyển
cử
kiểu
Tây
phương
không
phải
tuyển
cử
nhân
tài,
chỉ
bầu
cử
tiền,
mà
cái
loại
tiền
này
th́
không
phải
người
b́nh
thường
nào
cũng
có
thể
bỏ
ra
được.
Dù
có
thế
chăng
nữa,
lăng
phí
tiền
bạc
vẫn
tốt
hơn
lăng
phí
đầu
người.
Hết
thảy
những
điều
tốt
chúng
ta
phải
tự
đấu
tranh
mới
có
được,
không
giống
trong
vườn
Eden
(Ê-đen)
của
Thượng
đế
nơi
cái
ǵ
cũng
đă
được
an
bài
một
cách
tốt
đẹp.
Người
Trung
Quốc
sống
trường
kỳ
trong
cái
hũ
tương,
lâu
ngày
quá
tự
nhiên
sinh
ra
một
tâm
lư
cẩu
thả.
Một
mặt
tự
đại
khoe
khoang,
c̣n
mặt
khác
tự
ti,
ích
kỷ.
Tôi
nhớ
có
xem
một
bộ
phim
- mà
đă
quên
mất
tên
-
trong
đó,
một
phụ
nữ
quư
phái
có
hai
nhân
cách
:
một
mặt
đẹp
đẽ,
đáng
quư
làm
cho
người
ta
có
thể
sùng
bái,
mặt
khác
lại
hoang
dâm,
vô
liêm
sỉ.
Cô
ta
không
làm
sao
hợp
nhất
được
hai
nhân
cách
này
lại
với
nhau.
Khi
bị
bác
sĩ
tâm
thần
bắt
phải
đối
diện
với
thực
tại,
cô
ta
đă
tự
sát.
Khi
tự
kiểm
hồ
sơ
bệnh
của
ḿnh
chúng
ta
có
dám
đối
diện
với
thực
tại
không
? Có
dám
dùng
cái
tâm
lư
khỏe
mạnh
để
xử
lư
bệnh
t́nh
của
ḿnh
một
cách
hợp
lư
không
?
Chúng
ta
cần
học
tự
nhận
xét
ḿnh.
Người
Trung
Quốc
thường
không
có
tập
quán
dùng
lư
trí
để
tự
t́m
hiểu
ḿnh
mà
chỉ
dùng
cảm
tính.
Ví
như
vợ
chồng
căi
nhau,
chồng
bảo
vợ:
" Bà
đối
với
tôi
không
tốt
".
Vợ
bèn
vứt
thức
ăn
lên
bàn
căi:
"
Tôi
đối
với
ông
không
tốt
thế
nào?
Không
tốt
mà
tôi
c̣n
nấu
cơm
cho
ông
ăn à?
"
Cái
động
tác
này
cũng
đủ
nói
lên
sự
đối
xử
không
tốt
của
bà
ta
rồi.
Tự
xét
ḿnh
như
thế
th́
thà
không
tự
xét
c̣n
hơn.
Từ
khi
văn
hóa
Tây
phương
được
du
nhập
vào
(Trung
Quốc)
dĩ
nhiên
về
mặt
tư
tưởng
chính
trị
có
thay
đổi
dần,
mặt
quan
niệm
đạo
đức
cũng
vậy.
Ngày
trước
chồng
đánh
vợ
là
chuyện
cơm
bữa.
Bây
giờ
cứ
thử
đánh
một
tư
xem
sao
!
Tuổi
trẻ
thời
nay
thật
may
mắn,
rất
nhiều
thứ
văn
hóa
hủ
lậu
đă
bị
đào
thải.
Không
kể
đến
vấn
đề
chính
trị
và
đạo
đức,
ngay
cả
trên
các
lĩnh
vực
nghệ
thuật,
thi
ca,
văn
học,
tuồng
kịch,
vũ
điệu
đều
có
ảnh
hưởng
của
sự
thay
đổi
này.
Hễ
nói
đến
văn
hóa,
văn
minh
phương
Tây,
thế
nào
cũng
có
người
chụp
mũ,
bảo
tôi
"
sùng
bái
Tây
phương,
nịnh
hót
nước
ngoài
".
Theo
ư
tôi
tại
sao
không
thể
sùng
bái
Tây
phương
?
Cái
lễ
nghĩa
của
người
ta
đúng
là
hơn
hẳn
cái
thô
lậu
của
ḿnh.
Súng
ống
của
người
ta
đích
thực
là
hơn
hẳn
cung
tên
của
ḿnh.
Nếu
như
giữa
bạn
bè
với
nhau
có
người
đạo
đức,
học
vấn
hơn
hẳn
ḿnh
tại
sao
lại
không
có
thể
không
hâm
mộ
được
?
Người
Trung
Quốc
không
có
cái
can
đảm
dám
khen
người
khác,
chỉ
có
cái
dũng
khí
dùng
để
đả
kích
kẻ
khác.
Cũng
bởi
cái
"
văn
hóa
hũ
tương
"
của
chúng
ta
quảng
đại
tinh
thông
quá
mới
làm
cho
người
Trung
Quốc
thành
"
cây
quưt
bên
sông
Hoài
"
tất
cả (tích
án
Tử
và
vua
Sở).
Cây
quưt
này
vốn
mọc
ở
một
địa
phương
nọ
th́
rất
to
và
ngọt,
đem
trồng
ở
một
nơi
khác,
không
hợp
thủy
thổ,
th́
vừa
nhỏ
vừa
chua.
Ông
Tôn
Quan
Hán,
một
người
bạn
đă
t́m
cách
cứu
tôi
suốt
trong
thời
gian
10
năm
tôi
ở tù,
từng
đem
một
thứ
cải
trắng
gốc
Sơn
Đông
trồng
tại
Pittsburg
(Pít-xbơ),
nhưng
ở
đây
nó
lại
thành
một
thứ
cải
hoàn
toàn
khác.
Người
Nhật
có
biệt
tài
bắt
chước
cái
ǵ
là
giống
cái
đó,
c̣n
người
Trung
Quốc
th́
học
cái
ǵ
cũng
chả
giống
cái
ǵ.
Cái
tinh
thần
này
ghê
gớm
lắm,
nó
cho
phép
người
Nhật
học
được
những
ưu
điểm
mà
học
giống
hệt.
Người
Trung
Quốc
thường
chỉ
giỏi
t́m
lối
tránh
né,
viện
cớ "
không
hợp
với
hoàn
cảnh
nước
nhà
" để
bào
chữa
cho
lư
do
tại
sao
ḿnh
lại
cự
tuyệt
nó.
Trước
chiến
tranh
Giáp
Ngọ
(1895)
người
Nhật
đến
thăm
hải
quân
Trung
Quốc,
thấy
binh
sĩ
đem
phơi
quần
áo
la
liệt
trùm
cả
lên
súng
cà-nông,
bèn
xác
định
rằng
cái
loại
quân
đội
này
không
thể
tác
chiến
được.
Chúng
ta
căn
bản
không
tính
đến
chuyện
xây
dựng
và
làm
mới
các
quan
niệm,
nên
khi
chúng
ta
không
muốn
làm
một
cái
ǵ,
ngay
cả
như
chuyện
đừng
phơi
quần
áo
trên
trọng
pháo,
th́
chúng
ta
t́m
cách
thoái
thác,
bảo
: "
Cái
đó
không
hợp
với
hoàn
cảnh
đất
nước
".
Cũng
như
vấn
đề
giao
thông
ở
Đài
Bắc,
có
thể
là
một
vấn
đề
rất
đơn
giản,
thế
mà
bấy
nhiêu
năm
nay
vẫn
không
dứt
điểm
được.
Theo
tôi
cứ
phạt
nặng
những
kẻ
phạm
luật
là
xong.
Nhưng
có
người
lại
đề
xuất
nào
là
phải
dậy
dỗ
sự "
lịch
thiệp
"
cho
những
kẻ
phạm
luật,
bởi
v́
như
vậy
mới
hợp
lẽ
với
Trung
Quốc.
Chúng
ta
đă
lịch
thiệp
quá
lâu
rồi,
bị
giỡn
mặt
hoài
không
chịu
nổi
nữa,
lại
c̣n
nhường
nhịn
đến
bao
giờ
?
Chúng
ta
làm
những
chỗ
qua
đường
cho
người
đi
bộ
để
bảo
vệ
họ,
nhưng
kết
quả
là
biết
bao
người
đă
bỏ
mạng
ở đó.
Tôi
có
một
người
bạn
lúc
ở
Đài
Bắc
là
loại
hay
phóng
nhanh
vượt
ẩu,
đến
lúc
sang
Mỹ
bị
phạt
tơi
bời,
phạt
đến
đầu
tối
mắt
hoa,
cuối
cùng
không
thể
không
chú
ư
được.
Có
mỗi
luật
đi
đường,
một
việc
thật
đơn
giản
mà
tại
Trung
Quốc
vẫn
c̣n
là
một
vấn
đề.
Cứ
nói
đến
cái
hay
của
các
nước
khác
là
lại
bị
nghe
câu
"
Sùng
bái
Tây
phương,
nịnh
hót
nước
ngoài
" (
Sùng
dương,
mị
ngoại
).
Sự
thực
nếu
các
nước
Mỹ,
Pháp,
Anh,
Nhật
có
điều
ǵ
tốt
th́
chúng
ta
phải
học,
cái
xấu
th́
không
học,
chỉ
đơn
giản
thế
thôi
!
Có
một
người
Mỹ
viết
một
quyển
sách
: "
Người
Nhật
làm
được
tại
sao
chúng
ta
lại
không
thể
làm
được
? "
Thế
mà
chẳng
có
ai
bảo
ông
giáo
sư
này
là "
sùng
bái
Đông
phương,
nịnh
nọt
nước
ngoài
".
V́
vậy
mới
biết
cái
hũ
tương
văn
hóa
đă
sâu
đậm
làm
người
Trung
Quốc
mất
hết
khả
năng
hấp
thụ
và
tiêu
hóa,
chỉ
một
mực
trầm
luân
trong
cái
cảm
tính
của
ḿnh.
Một
anh
bạn
tôi
lúc
lái
xe
cứ
thỉnh
thoảng
lại
đột
nhiên
bóp
c̣i
một
cái.
Tôi
hỏi
tại
sao.
Anh
đùa
bảo:
" Để
cho
thấy
rằng
tôi
không
mất
gốc
đấy!
".
Chúng
ta
hy
vọng
chúng
ta
có
đầy
trí
tuệ
để
nhận
rơ
những
khuyết
điểm
của
ḿnh,
có
đủ
năng
lực
phán
đoán
phân
biệt
phải
trái,
làm
cho,
cái
hũ
tương
kia
nhạt
đi,
mỏng
đi,
thậm
chí
biến
thành
một
hũ
nước
trong,
hoặc
một
hồ
nước
mênh
mông.
Người
Trung
Quốc
bị
cảm
tính
chi
phối,
chủ
quan
thái
quá,
đối
với
việc
ǵ
cũng
chỉ
nhận
thức,
phán
đoán
bằng
các
tiêu
chuẩn
của
những
ǵ
ḿnh
vốn
thấy.
Chúng
ta
nên
nuôi
dưỡng
được
cái
con
mắt
nh́n
sự
vật
một
cách
toàn
diện,
toàn
thể.
Rất
nhiều
sự
t́nh
phát
sinh
từ
những
góc
độ
không
giống
nhau,
nên
từ
một
góc
độ
càng
phải
xem
xét
một
cách
toàn
diện.
Từ
hai
điểm,
đường
ngắn
nhất
là
một
đường
thẳng,
đó
là
theo
vật
lư.
Nhưng
trong
cuộc
đời,
cái
cự
ly
ngắn
nhất
thường
lại
là
cái
quanh
co
nhất.
Cho
nên
để
trở
thành
một
người
biết
thưởng
thức,
chúng
ta
phải
t́m
ṭi
được
mục
tiêu.
Xă
hội
có
tŕnh
độ
thưởng
thức
sẽ
đề
cao
được
tài
năng
và
phân
biệt
được
cái
tốt,
cái
xấu.
Trước
đây
tôi
từng
được
xem
Khương
Diệu
Hương
diễn
kịch,
lúc
ấy
bà
đă
ngoài
60,
mặt
đầy
vết
nhăn,
chẳng
c̣n
cái
đẹp
của
thủa
nào,
nhưng
việc
ấy
không
hề
ảnh
hưởng
đến
những
thành
tựu
của
bà.
Đương
lúc
bà
hát
khúc
" Em
bé
chăn
trâu
",
anh
có
thể
hoàn
toàn
quên
mất
cái
h́nh
tượng
già
nua
của
bà.
Một
khi
mọi
người
đều
có
tŕnh
độ
thưởng
thức
cao,
những
điều
ác
sẽ
tránh
xa.
Chẳng
khác
nào
tranh
tôi
vẽ
và
tranh
của
Van
Gogh
để
cùng
một
chỗ,
có
người
không
phân
biệt
được
lại
bảo
: "
Tranh
của
Bá
Dương
và
Van-Gogh
cũng
như
nhau
! "
Nếu
thế
th́
các
nhà
nghệ
thuật
chân
chính
phải
chết
hết
và
xă
hội
sẽ
vĩnh
viễn
chẳng
bao
giờ
có
được
những
tác
phẩm
nghệ
thuật
giá
trị
nữa.
Trung
Quốc
là
một
nước
lớn,
nhưng
người
Trung
Quốc
thật
nhỏ
mọn
và
hẹp
ḥi.
Hôm
kia
tôi
đáp
máy
bay
tại
phi
trường
Kennedy
ở
New
York,
lên
phi
cơ
ngồi
chợp
mắt
một
tiếng,
tỉnh
lại
vẫn
chưa
thấy
máy
bay
bay,
sau
khi
nghe
ngóng
mới
biết
họ
đang
đ́nh
công.
Tôi
rất
kinh
dị
khi
thấy
hành
khách
vẫn
trật
tự
b́nh
thường,
nói
năng
cười
đùa
như
không
có
ǵ
xảy
ra.
Nếu
sự
việc
này
mà
xảy
ra ở
đất
nước
chúng
ta
cục
diện
sẽ
hoàn
toàn
khác
hẳn.
Hành
khách
tất
nhao
nhao
nhảy
xổ
ra
ḥ
hét:
"
Tại
sao
vẫn
chưa
bay?
".
Nhưng
hành
khách
Mỹ
lại
nh́n
từ
một
góc
độ
khác;
v́
họ
nghĩ
:
Nếu
tôi
là
nhân
viên
hàng
không,
không
chừng
tôi
cũng
tham
gia
cuộc
đ́nh
công
này.
Nh́n
vào
đó
người
ta
có
thể
thấy
được
khí
độ
của
một
nước
lớn.
ở Mỹ
tính
khoan
dung
rất
lớn.
Không
những
nước
Mỹ
có
thể
khoan
dung
được
các
màu
da
và
chủng
tộc,
lại
c̣n
chứa
chấp
được
cả
những
ngôn
ngữ,
phong
tục,
tập
quán
khác
nhau;
thậm
chí
c̣n
chịu
đựng
được
cả
những
người
Trung
Quốc
thô
lỗ
như
chúng
ta.
Thái
độ
này
nói
lên
tính
bao
dung
của
một
nước
lớn.
Cứ
nh́n
lúc
Reagan
và
Carter
tranh
luận
trên
ti-vi,
bên
này
bên
kia
phát
biểu
chính
kiến
của
ḿnh,
nhưng
không
ai
dùng
những
lời
lẽ
thô
lỗ
để
công
kích
nhau.
Ri-gân
không
hề
nói
ông
làm
tổng
thống
mấy
năm
toàn
chỉ
dùng
những
người
thân
tín
của
ḿnh.
Các-tơ
cũng
không
hề
nói
từ
trước
đến
nay
ông
chưa
hề
có
kinh
nghiệm
chính
trị,
làm
sao
có
thể
lèo
lái
được
một
quốc
gia.
Hai
bên
đều
biểu
lộ
một
thái
độ
cực
tốt.
Đó
cũng
là
phẩm
chất
của
một
nền
dân
chủ
cao
độ.
Đối
với
chính
trị,
cá
nhân
tôi
không
mấy
quan
tâm.
Tôi
cũng
không
khích
lệ
mọi
người
làm
chính
trị.
Nhưng
nếu
ai
thích
thú
th́
phải
tham
dự,
bất
kể
đang
làm
nghề
ǵ,
bởi
v́
chính
trị
thật
quan
trọng.
Chỉ
cần
một
điều
luật
được
ban
hành,
có
thể
gia
sản,
tự
do
và
ngay
cả
sinh
mạng
anh
cũng
có
thể
bị
nó
làm
tiêu
tan.
Chúng
ta
không
nhất
thiết
ai
cũng
phải
làm
chính
trị,
nhưng
đều
phải
có
khả
năng
đánh
giá.
Việc
này
không
kém
tầm
quan
trọng.
Đánh
giá
không
phải
chỉ
trong
lĩnh
vực
chính
trị,
mà
cả
trong
văn
học
nghệ
thuật.
Chẳng
hạn
như
về
tranh
vẽ
th́
tŕnh
độ
thưởng
thức
cực
kỳ
quan
trọng.
Nó
sẽ
bắt
những
người
vẽ
tranh
như
Bá
Dương
tôi
phải
thu
ḿnh
vào
một
xó.
Bởi
nếu
bày
tranh
ḿnh
ra
người
ta
chỉ
nh́n
thoáng
một
cái
đă
biết
giá
trị,
có
thể
nói:
"
Anh
gọi
thế
này
là
vẽ à?
Thế
mà
c̣n
dám
đem
cho
người
ta
xem
ư ?
"
Một
xă
hội
có
tŕnh
độ
thưởng
thức
tức
biết
cái
hay
cái
dở,
tức
không
hồ
đồ
trước
bất
cứ
một
sự
việc
ǵ;
chứ
mọi
người
cứ ù
ù
cạc
cạc
như
ở
trong
hũ
tương,
bẩn
sạch,
cao
thấp
cũng
không
phân
biệt
th́
làm
sao
tiến
bộ
và
phát
triển
được
?
Tôi
chỉ
có
vài
ư
kiến
này
đưa
ra
xin
các
vị
thảo
luận
và
chỉ
giáo
cho.
Xin
đa
tạ !
Cái
vại
tương
-
Một
biểu
tượng
của
căn
bệnh
văn
hóa
Trung
Quốc
Phàm
người
Trung
Quốc
nào
c̣n
quan
tâm
đến
tiền
đồ
tổ
quốc
đều
có
thể
nghĩ
đến
một
vấn
đề
căn
bản
sau
đây
:
tại
sao
Trung
Quốc
(từ
1842
đến
1949)
lại
yếu
thế
? Mỹ,
Nhật
tại
sao
lại
mạnh
thế
?
Diện
tích
của
Trung
Quốc
rất
lớn
(đứng
thứ
nh́
trên
thế
giới
chỉ
sau
Liên-xô),
người
lại
rất
đông
(vào
bậc
nhất
thế
giới),
tài
nguyên
tương
đối
phong
phú.
Thêm
vào
đó,
lại
có
một
nền
văn
hóa
mà
một
số
người
tự
hào
là
lâu
đời
tới
5.000
năm.
Đáng
lư
Trung
Quốc
phải
là
một
quốc
gia
vào
hạng
mạnh
nhất
thế
giới
mới
đúng.
Nhưng
sự
thực
lại
không
phải
như
vậy.
Từ
Chiến
tranh
Nha
phiến
(1840),
bị
các
cường
quốc
liên
tục
đến
xâu
xé,
Trung
Quốc
phải
cắt
đất
bồi
thường,
chỉ
tư
nữa
là
đă
bị
phân
chia.
Đối
với
câu
hỏi
trên,
chỉ
có
hai
cách
trả
lời
:
Thứ
nhất
:
Đầu
óc
và
sức
lực
của
người
Trung
Quốc
tồi
quá.
Thứ
hai
:
Cái
văn
hóa
truyền
thống
của
Trung
Quốc
có
vấn
đề.
Đối
với
cái
khả
năng
thứ
nhất,
có
hai
cách
giải
thích
không
giống
nhau.
Cách
thứ
nhất
là:
đầu
óc,
sức
lực
người
Trung
Quốc
tồi
quá.
Có
lẽ
họ
chỉ
khá
hơn
rợ
Hung-nô,
Đột-quyết
và
người
da
đen
ở
Phi
Châu
ngày
hôm
nay
(chứ
không
phải
ngày
mai),
nhưng
chắc
chắn
là
thua
người
Mỹ,
Anh,
Pháp,
Nga,
Nhật.
Cách
giải
thích
thứ
hai
:
trí
lực
của
tổ
tiên
người
Trung
Quốc
rất
khá,
ít
nhất
cũng
tài
giỏi
ở
mức
độ
huy
hoàng
của
những
đời
Hán,
Đường.
Nhưng
bất
hạnh
thay,
cái
trí
lực
ấy
càng
ngày
càng
kiệt
quệ,
đời
sau
không
bằng
đời
trước,
sau
vài
trăm
năm
đă
biến
thành
một
dân
tộc
của
những
thằng
ngu.
Giả
sử
đúng
là
trí
lực
của
chúng
ta
quá
tồi,
chúng
ta
phải
chấp
nhận
nó
như
thế
thôi.
Nhưng
ai
đă
dậy
chúng
ta
không
biết
tự
ḿnh
phấn
đấu
nhỉ
?
Căn
cứ
trên
"
Định
luật
sinh
tồn
-
mạnh
được
yếu
thua
"
th́
một
đất
nước
bị
biến
thành
cái
loại
"
thuộc
địa
hạng
bét
"
như
thế
bởi
v́
nó
xứng
đáng
như
thế.
Nếu
nói
ngược
lại,
giả
sử
không
phải
v́
trí
lực
của
chúng
ta
có
vấn
đề,
nhưng
v́
cái
văn
hóa
của
chúng
ta
có
vấn
đề,
th́
tiền
đồ
của
chúng
ta
c̣n
có
thể
khá
được,
nhưng
chúng
ta
phải
biết
tự
sửa
ḿnh,
can
đảm
vứt
cái
gánh
nặng
văn
hóa
ấy
đi
mới
được.
Chúng
ta
vừa
nói
qua
khả
năng
thứ
nhất
(trí
lực
có
vấn
đề),
đó
là
một
khả
năng
trên
mặt
lư
luận,
nhưng
không
tồn
tại
trong
thực
tế.
Bởi
v́
không
có
một
người
Trung
Quốc
nào
thừa
nhận
rằng
trí
lực
của
dân
tộc
Trung
Quốc
chúng
ta
lại
thấp
kém.
Đấy
không
phải
là
một
vấn
đề
cảm
tính
hoặc
v́
muốn
tự
thổi
phồng
ḿnh
lên,
nhưng
một
vấn
đề
trên
mặt
lư
luận
có
chứng
cớ,
không
thể
phủ
nhận.
Những
chứng
cớ
này
là
ǵ ?
Ta
có
thể
nh́n
thấy
trong
hai
sự
kiện
sau
:
1-
Phần
đóng
góp
của
người
Hoa
vào
công
cuộc
phát
triển
kinh
tế ở
Đông-Nam-á.
2-
Những
thành
tựu
về
học
thuật
của
người
Hoa
tại
Mỹ,
những
thành
quả
này
làm
cho
người
da
trắng
vốn
đầy
tự
tôn
mặc
cảm
cũng
phải
thừa
nhận
rằng
trí
tuệ
cá
nhân
người
Hoa
cao.
Nhưng
họ
cũng
biết
người
Hoa
không
đoàn
kết,
không
hợp
tác
với
nhau,
chống
đối
nhau
một
cách
kịch
liệt
và
không
phát
huy
được
sức
mạnh
tập
đoàn.
Ông
Bá
Dương
trong
tập
"
Đến
chết
không
nhận
lỗi
" đă
đưa
ra
một
cách
giải
thích
tuyệt
vời
về
vấn
đề
của
người
Hoa
chúng
ta :
Một
người
đến
thỉnh
giáo
một
vị
cao
tăng,
hỏi
về
kiếp
trước
và
kiếp
sau
của
ḿnh.
Vị
cao
tăng
đáp
bằng
mấy
câu
thơ
sau
:
Muốn
biết
kiếp
trước
thế
nào
Cứ
xem
ḿnh
sống
ra
sao
kiếp
này
Đầu
thai
rồi
thế
nào
đây
Hăy
nh́n
vào
việc
hiện
nay
đang
làm
[Dục
tri
tiền
thế
nhân
Kim
sinh
thụ
giả
thị
Dục
tri
hậu
thế
quả
Kim
sinh
tác
giả
thị
]
Bá
Dương
lại
c̣n
than
rằng
: "
Mấy
câu
danh
ngôn
này
làm
cho
tôi
liên
tưởng
đến
cái
văn
hóa
5.000
năm
của
chúng
ta
".
Muốn
biết
cái
văn
hóa
này
tốt
hay
xấu,
không
phải
cứ
vùi
đầu
vào
nghiên
cứu
cái
đống
giấy
cũ,
mà
phải
mở
to
mắt
nh́n
những
tội
nợ
mà
chúng
ta
đang
phải
chịu
hôm
nay
th́
may
ra
mới
rơ
được.
Vấn
đề
th́
rơ
ràng
có
rồi,
mà
cũng
có
thể
nói
rằng
đó
là
vấn
đề
văn
hóa.
Vậy
phải
đi
thêm
một
bước
nữa
để
t́m
cách
phân
tích
nó.
Ông
Tôn
Quang
Hán,
một
người
rất
ngưỡng
mộ
ông
Bá
Dương,
trong
bài
"
Hoàn
cảnh
và
đất
đai
" có
viết:
"
Nguyên
nhân
tại
sao
Trung
Quốc
không
thể
xây
dựng
được
một
quốc
gia
cường
thịnh
? Đó
không
phải
vấn
đề
bẩm
sinh,
nhưng
một
vấn
đề
sau
khi
sinh.
Nếu
dùng
ngôn
ngữ
của
người
làm
ruộng
để
nói
th́
đó
không
phải
là
vấn
đề "
giống
" mà
là
vấn
đề "
đất
".
Đối
với
thực
vật,
đất
là
thổ
nhưỡng,
thủy
phân,
không
khí,
ánh
sáng
mặt
trời,
v.v...;
đối
với
một
dân
tộc,
đất
là
hoàn
cảnh,
tập
tục
của
nhân
tính
nói
chung.
Cho
đến
nay
thực
sự
chúng
ta
chưa
sinh
sản
được
những
loại
cây
tốt.
Nguyên
nhân,
nếu
không
do
hạt
giống,
th́
nhất
định
phải
v́
đất
đai,
hoàn
cảnh,
có
ǵ
đó
không
thích
hợp
cho
những
giống
cây
này
sinh
trưởng.
Trong
văn
hóa
và
tập
tục
5.000
năm
của
Trung
Quốc,
ngoài
phần
tốt
ra
cũng
có
phần
xấu.
Phần
xấu
này
là
mảnh
đất
nơi
hạt
giống
kia
không
thể
lớn
lên
được.
Cái
phần
văn
hóa,
tập
tục
rộng
lớn,
xấu
xa
này
đúng
như
ông
Bá
Dương
gọi
một
cách
đơn
giản
và
tóm
lược
là
cái
"
vại
tương
".
Tôi
thấy
Lỗ
Tấn
tiên
sinh
đă
sáng
tạo
ra
cái
" A
Q ",
Lư
Tông
Ngô
tiên
sinh
lại
sáng
tạo
ra
cái
"
Hậu
hắc
",
sau
đó
Bá
Dương
tiên
sinh
c̣n
sáng
tạo
ra
cái
" hũ
tương
",
ba
thứ
này
đều
chí
lư
cả,
chẳng
khác
nào
ba
chân
của
một
cái
đỉnh.
Nếu
nói
" A
Q "
đă
vạch
trần
"
nhân
tính
"
của
người
Trung
Quốc,
"
Hậu
hắc
" đă
tố
giác
cái
"
quan
tính
"
của
người
Trung
Quốc,
th́
" Hũ
tương
"
tựa
hồ
như
gốc
gác
của
hai
thứ
trên.
Tại
sao
có "
A Q
"?
Chính
do
cái
" Hũ
tương
" mà
ra!
Thế
th́
cái
" Hũ
tương
"
đây
là
ǵ,
và
có
ǵ ở
trong
đó ?
Định
nghĩa
của
ông
Bá
Dương
như
sau
:
"
Một
xă
hội
hỗn
độn
bị
sâu
ruỗng
và
tù
hăm,
lại
bị
loại
chính
trị
nô
tài
thao
túng,
đạo
đức
què
quặt,
nhân
sinh
quan
cá
nhân,
đồng
tiền
và
thế
lực
làm
vua.
Một
xă
hội
như
thế
làm
cho
linh
tính
con
người
chỉ
có
xơ
cứng
và
tiêu
tan
đi
thôi
".
Ông
Bá
Dương
c̣n
nói
tất
cả
các
thứ
trong
hũ
tương
ấy
lại
đẻ
ra
những
hiện
tượng
khác
như
: "
sự
sùng
bái
quyền
thế
một
cách
mù
quáng
", "
tính
ích
kỷ
chắc
như
gông
cùm
", "
ngôn
ngữ
bịp
bợm
", "
mê
đắm
những
xác
chết
", "
bất
hợp
tác
", "
tàn
nhẫn
và
đố
kỵ
một
cách
lạnh
lùng,
trắng
trợn
", "
làm
phách
và
ngớ
ngẩn
".
Trước
khi
nói
về
những
sản
phẩm
của
hũ
tương,
tôi
xin
được
nói
thêm
vài
câu,
v́
một
khi
tràng
giang
đại
hải
về
hũ
tương
rồi
sợ
không
thể
quay
trở
lại
được
nữa.
Một
số
người
yêu
nước
nghĩ
rằng
Trung
Quốc
phải
giầu
mạnh.
Không
ai
có
thể
phủ
nhận
điều
đó.
Nhưng
làm
thế
nào
để
giàu
mạnh
mới
là
vấn
đề.
Chẳng
lẽ
cứ
phô
trương
cái
sẹo
của
tổ
tiên
ra?
Cứ
trách
cứ
tổ
tiên
phỏng
có
ích
ǵ?
Chẳng
lẽ
cứ
trách
cứ
tổ
tiên
cho
đă
đời,
rồi
th́
quốc
gia
sẽ
giầu
mạnh
lên
chăng
?
Tôi
cho
rằng
làm
như
thế
không
phải
là
thượng
sách.
Dân
tộc
Trung
Quốc
là
một
dân
tộc
bị "
bệnh
",
năm
tháng
càng
dài
th́
bệnh
càng
nặng.
Cái
bệnh
này
bắt
nguồn
từ
thời
Hán
Vũ
Đế
sùng
đạo
Nho,
lại
càng
bị
nặng
thêm
với
những
thứ
kỳ
quặc
như
khoa
cử,
như
Lư
học
thời
Minh,
Tống,
làm
cho
dân
tộc
Trung
Quốc
hầu
như
bị
tiêu
tan
hết
linh
tính,
chỉ
c̣n
thoi
thóp
sống
mà
thôi.
Những
đối
thủ
ngày
trước
như
Hung
- Nô,
Đột
-
Quyết,
Khiết
-
Đan,
Tây
- Hạ
thực
ra
có
một
nền
tảng
văn
hóa
quá
thấp,
nên
không
tránh
khỏi
bị
Hán
hóa.
Ngay
cả
sau
này
Mông
Cổ
và
Măn
Thanh
chỉ
chinh
phục
được
chúng
ta
trên
mặt
vơ
lực,
c̣n
trên
mặt
văn
hóa
lại
bị
chúng
ta
chinh
phục
lại.
Những
chiến
thắng
về
văn
hóa
này
làm
cho
chúng
ta
vốn
mắc
bệnh
mà
không
hề
biết.
Cho
đến
khi
nhà
Thanh
bị
ép
buộc
phải
mở
cửa
cho
Tây
phương
chúng
ta
mới
gặp
phải
đối
thủ
lợi
hại
mà
chúng
ta
chưa
bao
giờ
gặp
trước
kia.
Lúc
đó,
cái
trạng
thái
bệnh
tật
nọ
mới
bị
lộ
tẩy
ra
ngoài.
Một
dân
tộc
mắc
"
bệnh
"
cũng
giống
như
một
cá
nhân,
nếu
không
chữa
cho
hết
bệnh
th́
không
có
cách
nào
khá
lên
được.
Dù
dân
chủ,
dù
khoa
học,
mà
ngay
cả
đến
những
thứ
thuốc
bổ
nhất
thiên
hạ
cũng
chẳng
có
ích
ǵ
cho
một
người
bị
bệnh
đường
ruột
và
dạ
dày
quá
nặng.
Muốn
chữa
được
bệnh
trước
hết
phải
t́m
cho
ra "
căn
bệnh
".
Không
thể
v́
sợ
thuốc
hoặc
sợ
đau
mà
giấu
bệnh
được.
Nếu
cần,
dẫu
phải
cưa
tay
cưa
chân
cũng
kiên
quyết
làm,
dù
phải
cắt
bỏ
dạ
dày,
thay
thận
cũng
không
tiếc.
Cần
phải
có
cái
dũng
khí
như
thế
mới
có
khả
năng
cải
tử
hoàn
sinh
được.
Vấn
đề
cốt
lơi
ở
đây
là
phải
khiêm
tốn
kiểm
thảo
căn
bệnh
văn
hóa
lâu
đời
này.
"
Căn
bệnh
"
này
của
dân
tộc
Trung
Quốc
xét
cho
cùng
là
ǵ ?
Lỗ
Tấn,
Lư
Tông
Ngô,
Bá
Dương,...
trước
sau
đều
đă
chỉ
rơ.
Nhưng
"
thuốc
thang
"
thế
nào
cho
khỏi
?
Vấn
đề
trị
bệnh
này
c̣n
lớn
hơn
việc
nêu
rơ
tên
bệnh,
song
cơ
hồ
các
vị
đó
chưa
thấy
ai
đề
cập
đến
cho
chúng
ta.
Nhưng
nếu
suy
nghĩ
kỹ
ta
có
thể
thấy
cái
" ư
tại
ngôn
ngoại
"
của
họ.
Dường
như
trước
tiên
họ
muốn
chúng
ta
cùng
tham
khảo
để
thấy
rơ
từng
chứng
bệnh
một,
liệt
kê
ra
từng
nguyên
nhân
của
căn
bệnh.
Để
rồi
sau
đó
người
Trung
Quốc
-
những
ai
c̣n
biết
suy
nghĩ
-
từng
người
một
nh́n
vào
những
bệnh
chứng
này
mà
suy
xét,
cái
nào
xấu
th́
bỏ
đi,
cái
nào
không
xấu
th́
giữ
lại.
Nếu
những
người
có
ḷng
này
càng
ngày
nhiều,
"
cái
bỏ
đi "
và "
cái
giữ
lại
"
càng
ngày
càng
lớn.
Như
thế,
tất
chẳng
mấy
chốc
cái
bệnh
lâu
đời
đó
của
dân
tộc
Trung
Quốc
sẽ
không
thuốc
mà
tự
lành.
Cái
này
có
lẽ
sẽ
dính
dáng
đến
vấn
đề "
biết
dễ,
làm
khó
"
hoặc
"
biết
khó,
làm
dễ "
mà ở
đây
chúng
ta
không
bàn
đến.
Trong
bài
"
Đến
chết
không
nhận
lỗi
" (ở
tập
"
Đập
vỡ
hũ
tương
")
có
đoạn
như
sau:
" Có
kẻ
cho
rằng
người
Trung
Quốc
bản
thân
không
xứng
đáng,
cho
nên
mới
để
cho
nước
nhà
ra
nông
nỗi
này.
Không
những
không
biết
tự
trách
móc
ḿnh,
mà
trái
lại,
họ
c̣n
tức
tối,
đi
trách
cứ
tổ
tiên
cái
này
không
đúng,
cái
nọ
không
đúng,
làm
họ
phải
chịu
hậu
quả.
Thay
v́
xây
dựng
một
giang
sơn
tốt
đẹp
để
họ
được
hưởng
phúc
lộc
th́
tổ
tiên
để
lại
cho
họ
một
đất
nước
như
thế
".
Đối
với
cách
nói
ấy,
ông
Bá
Dương
đă
trả
lời
:
"
Điều
này
chả
khác
chuyện
cha
với
con.
Nếu
con
khá
giả,
thông
minh
linh
lợi,học
qua
được
đại
học,
thế
mà
đời
lại
hỏng
th́
đương
nhiên
không
thể
trách
cứ
được
bố
nó ;
mà
nó
chỉ
có
thể
tự
trách
ḿnh
không
xứng
đáng.
Nhưng
nếu
như
đứa
con
từ
khi
sinh
ra
đă
bị
vi
trùng
lậu
làm
cho
hỏng
mắt,
lại
bị
di
truyền
làm
cho
dở
điên
dở
khùng,
ngớ
ngớ
ngẩn
ngẩn,
lang
thang
đầu
đường
xó
chợ
xin
ăn
kiếm
sống
th́
cái
trách
nhiệm
của
nó
quá
nhỏ.
Nếu
nó
có
mở
mồm
trách
bố
nó
tại
sao
lại
mắc
bệnh
phong
t́nh,
trách
mẹ
nó
v́
sao
không
chữa
khỏi
bệnh
đi,
th́
chúng
ta
cũng
không
thể
nhẫn
tâm
bắt
nó
im
mồm
được
".
Các
sản
phẩm
của
cái
hũ
tương
mà
ông
Bá
Dương
đă
nói
đương
nhiên
không
nhất
thiết
cái
nào
cũng
hoàn
toàn
đúng,
nhưng
ít
nhất
cũng
có
một
phần
không
sai.
Văn
chương
ông
Bá
Dương
xưa
nay
vốn
mạch
lạc
phân
minh,
chỉ
tiếc
lúc
nói
về
những
sản
phẩm
hũ
tương,
hành
văn
lại
hơi
lộn
xộn,
có
lúc
lung
tung
lạc
đề.
Lúc
th́
vụt
một
cái
lộn
trở
lại,
lúc
vụt
một
cái
lại
phóng
đi.
Chúng
tôi
xin
trích
một
phần
giới
thiệu
nhỏ
dưới
đây
- đă
qua
một
lần
chỉnh
lại
theo
nguyên
tắc
giữ
đúng
nguyên
ư
tác
giả
- để
người
đọc
đối
chiếu
với
nguyên
văn
làm
bằng
chứng
:
Sản
phẩm
đầu
tiên
của
hũ
tương
là
sự
sùng
bái
quyền
thế
một
cách
điên
cuồng.
ở
Trung
Quốc
thời
cổ,
người
có
quyền
thế
tối
cao
là
Hoàng
đế.
Đối
với
ông
ta
những
nguyên
tắc
luân
lư
đều
vô
nghĩa.
Thân
thuộc
nhánh
bên
(không
phải
trực
hệ)
ở
trước
mặt
Hoàng
đế
bất
quá
chỉ
là "
thần
",
là "
nô
tài
", (Ví
phỏng
Hoàng
đế
đă
được
tấn
phong,
cho
dù
là
bố
mẹ
cũng
không
được
là
ngoại
lệ).
Đối
với
cái
thứ
tính
cách
oái
oăm
trái
với
luân
lư
này
(quan
tính
lớn
hơn
nhân
tính),
một
loại
đạo
đức
dị
h́nh,
không
những
không
ai
phản
đối
mà
c̣n
cho
là ư
trời,
nghĩa
đất.
Về
mặt
hoang
dâm
trong
đời
sống
cung
đ́nh
th́
những
Hoàng
đế
Tây
phương
c̣n
phải
kém
xa.
Chưa
cần
bàn
đến
cái
" Ba
ngh́n
người
đẹp
trong
hậu
cung
"
của
thời
Đường,
ngay
thời
Chu
vương
triều,
thiên
tử
có
thể
có
tới
121
bà
vợ
một
cách
hợp
pháp.
Theo
"
Nội
tắc
"
trong
" Lễ
kư "
chỉ
để
sắp
xếp
cho
chu
tất
chương
tŕnh
hàng
ngày
của
cái
việc
"
điên
loan
đảo
phụng
",
sao
cho
cả
hơn
trăm
bà
đều
được
thấm
đượm
ơn
mưa
móc
của
nhà
vua
cũng
đă
là
một
điều
khổ
tâm
rồi;
chưa
kể
những
chuyện
ghen
tuông
tranh
giành
giữa
các
bà.
Tất
cả
các
ông
thánh
đối
với
mấy
việc
này
không
những
không
phản
đối,
mà
họ
c̣n
biến
các
loại
"
dâm
đồ "
này
thành
thiên
tử
thánh
thần,
biến
cái
kiểu
"
chơi
loạn
chơi
tạp
"
này
thành
ra
phép
tắc
chính
thức
của
quốc
gia,
xă
hội.
V́
vậy
Bá
Dương
cho
rằng
:
Thánh
nhân
không
những
chỉ
hùa
theo
mà
c̣n
là
đầu
sỏ,
cùng
phạm
tội
với
những
kẻ
có
quyền
và
bọn
dâm
đồ.
Quyền
lực
nào
khác
xăng
dầu,
thánh
nhân
không
những
không
t́m
cách
đề
pḥng
sự
dễ
cháy
của
nó
mà
lại
c̣n
châm
lửa
th́
khi
nó
bốc
lên
làm
sao
mà
dập
được
?
Bá
Dương
cho
là
quyền
lực
của
Hoàng
đế
Tây
phương
luôn
luôn
bị
thành
phần
trí
thức
giới
hạn,
giám
sát.
Nhưng
ở
Trung
Quốc
th́
các
ông
thánh
lại
v́
phe
nắm
quyền
mà
phát
minh
ra
thứ
triết
học
kỳ
quặc
kiểu
như
sau
:
"
Khắp
dưới
gầm
trời
không
có
chỗ
nào
không
là
đất
của
nhà
vua.
Tất
cả
các
kẻ
sĩ
trong
thiên
hạ
có
kẻ
nào
mà
không
phải
là
tôi
của
nhà
vua
".
Th́
ra,
sinh
mạng
tài
sản
của
nhân
dân
đều
do
cái
tên
"
đại
dâm
đồ "
đó
ban
cho.
Chẳng
trách
cái
thằng
chơi
gái
thứ
dữ
đó
cứ
muốn
làm
ǵ
th́
làm.
Khi
sự
tôn
sùng
quyền
thế
là
nền
tảng
của
5.000
năm
văn
hóa
truyền
thống
th́
cái
quan
hệ
giữa
người
và
người
chỉ
có
sự "
kính
và
sợ
",
c̣n
sự "
thương
yêu
"
th́
không
đáng
kể.
Cái
gọi
là "
nhân
"
chỉ
là
thứ
t́m
thấy
trong
sách
vở,
khó
mà
gặp
được
trong
hành
động.
Vả
lại,
chữ
"
nhân
"
này
tựa
hồ
không
có
tính
cách
b́nh
đẳng
của
hai
bên
cùng
được
lợi.
Sùng
bái
quyền
thế
một
cách
tuyệt
đối
đưa
đến
một
nền
chính
trị
nô
tài
và
cái
đạo
đức
dị
h́nh,
không
c̣n
tiêu
chuẩn
về
thị
phi,
chỉ
c̣n
cái
tiêu
chuẩn
vụ
lợi
bất
kể
phải
trái.
Chỉ
c̣n
một
con
đường
là
tiền
tài,
phú
quư,
công
danh.
Mọi
người
đều
phải
gọt
đầu
cho
nhọn
để
liều
mạng
chui
vào
chỗ
quan
trường.
Chỉ
cần
tôi
có
thể
làm
quan
th́
bắt
tôi
làm
ǵ
tôi
cũng
làm.
Như
Đào
Uyên
Minh
-
không
v́
năm
hộc
thóc
mà
uốn
cong
lưng
-
th́
có
được
mấy
người
?
"
Mười
năm
tân
khổ
"
chẳng
v́
nghiên
cứu
phát
minh,
chẳng
v́
viết
sách
lập
thuyết,
chẳng
v́
bôn
ba
cách
mạng,
mà
chỉ
v́ "
một
ngày
thành
danh
". "
Thành
danh
" ở
đây
có
nghĩa
là
làm
quan
vậy.
Xưa
nay,
việc
làm
quan
hấp
dẫn
người
ta
như
điên
cuồng
cũng
bởi
v́:
1-
Có
quyền
trong
tay,
dù ở
cấp
bực
nào
(tùy
quan
lớn
nhỏ)
cũng
muốn
ǵ
được
nấy.
2-
Được
mọi
người
sùng
bái.
3-
Học
vấn
trở
thành
uyên
bác
(Đối
với
người
Tây
phương
:
tri
thức
là
quyền
lực.
Đối
với
người
Trung
Quốc
:
quyền
lực
là
tri
thức).
4-
Tài
sản
được
gia
tăng
(Người
Tây
phương
lấy
buôn
bán
làm
nguồn
gốc
của
sự
giàu
sang.
Người
Trung
Quốc
trọng
sĩ,
khinh
thương;
lại
bị
ảnh
hưởng
của
cái
" Hà
tất
viết
lợi
"
của
Mạnh
Tử).
Sở
dĩ
mồm
không
nói
đến
lợi,
nhưng
trong
bụng
lại
nghĩ
đến
lợi
một
cách
sống
chết,
v́
thế
mới
làm
quan
để
vơ
vét.
Chuyện
tên
đạo
tặc
khét
tiếng
Trịnh
Chúng
đời
Nam
Tống,
sau
khi
quy
hàng
được
bổ
làm
quan,
bị
đồng
liêu
coi
rẻ,
y
tức
ḿnh
bèn
có
thơ
rằng
:
"
Các
vị
làm
quan
để
ăn
trộm,
Trịnh
Chúng
ăn
trộm
mới
làm
quan
! "
(Các
vị
tố
quan
hựu
tố
tặc,
Trịnh
Chúng
tố
tặc
tài
tố
quan)
Đúng
là
một
câu
nói
toạc
móng
heo
cái
việc
làm
quan
!
Tôn
thờ
quyền
thế
quá
độ -
không
cần
nói
đến
trường
hợp
chính
trị,
học
thuật
-
ngay
cả
đến
t́nh
hữu
nghị
giữa
người
với
người
cũng
biến
chất,
biến
thành
thiển
cận,
thành
thế
lợi.