|
Phần 1
3-
Đời
Sống,
Văn
Học
Và
Lịch
Sử
Diễn
văn
đọc
tại
Phân
khoa
Sử,
Đại
học
Stanford,
San
Francisco,
ngày
22-08-1981.
Cái
chủ
đề
tôi
được
giao
phó
hôm
nay
đối
với
tôi
quá
lớn,
tôi
cảm
thấy
hầu
như
không
đảm
đương
nổi
và
sợ
không
đủ
tư
cách
để
đề
cập
đến
một
chủ
đề
lớn
như
thế.
Tôi
chỉ
t́nh
nguyện
cố
gắng
đóng
góp
cảm
tưởng
riêng
tư
về
những
ǵ
mà
5.000
năm
lịch
sử
Trung
Quốc
gợi
ư
cho
tôi.
Trước
khi
bắt
đầu,
tôi
xin
nói
đến
một
cảm
tưởng
khác
về
người
da
đỏ
châu
Mỹ (chủ
nhân
nước
Mỹ,
cư
dân
nguyên
thủy
và
chân
chính
của
châu
Mỹ).
Tôi
đă
được
đi
tham
quan
những
vùng
đất
hoang
phế
của
dân
da
đỏ ở
Mỹ.
Tôi
cũng
đă
đến
thăm
những
khu
biệt
lập
dành
riêng
cho
người
da
đỏ
và
gặp
một
số
người
da
đỏ.
Thời
gian
tuy
rất
ngắn,
không
nói
được
nhiều
chuyện,
nhưng
ấn
tượng
đối
với
tôi
rất
sâu
sắc.
Tôi
khám
phá
ra
rằng
các
sản
phẩm
thủ
công
của
người
da
đỏ
ngày
nay
so
với
các
sản
phẩm
của
người
da
đỏ
sáu
trăm
năm
trước,
không
nói
về
h́nh
thức
và
hoa
văn,
chỉ
nói
về
những
thủ
pháp
đan
dệt
và
chất
liệu
sử
dụng
th́
không
có
ǵ
thay
đổi.
Chỉ
từ
cái
sự
kiện
nhỏ
đó,
tôi
suy
nghĩ
và
tự
hỏi
rồi
không
biết
số
mệnh
của
dân
tộc
này
sẽ
đi
về
đâu
?
Chúng
ta
không
thể
tưởng
tượng
được
một
dân
tộc
lớn
với
lịch
sử
lâu
đời
như
thế
lại
có
thể
đang
thoi
thóp,
ngắc
ngoải
trong
các
khu
biệt
lập
tại
Mỹ
hiện
nay.
Cảnh
ngộ
của
chính
những
người
da
đỏ
này
sau
khi
bị
lừa
gạt,
tàn
sát
và
sỉ
nhục,
so
với
cái
lịch
sử
bi
thương
của
người
Trung
Quốc
chúng
ta
th́
nên
nghĩ
thế
nào
cho
phải?
Riêng
tôi
có
một
ư
nghĩ
và
nó
làm
cho
tôi
rất
chán
nản.
Đó
là
vấn
đề
trước
mắt
của
người
da
đỏ
chẳng
phải
vấn
đề
đạo
đức
hoặc
kinh
tế
ǵ
cả
nhưng
đơn
thuần
là
một
đe
dọa
diệt
chủng.
Tôi
không
phải
là
một
nhà
tiên
tri
hoặc
tướng
số,
tôi
chỉ
dùng
sự
suy
đoán
riêng
tư
và
căn
cứ
trên
những
điều
bạn
bè
cho
tôi
biết.
Chúng
ta
có
thể
đoán
rằng
100,
500,
1.000
năm
sau,
có
thể
sớm
hơn
hoặc
chậm
hơn,
một
ngày
nào
đó
người
da
đỏ
có
thể
hoàn
toàn
bị
diệt
chủng.
Bởi
v́
họ
không
tiếp
thu
được
văn
minh
hiện
đại.
Đương
nhiên
trước
mắt,
họ
vẫn
có
những
khu
vực
riêng
họ
không
xâm
phạm
người
khác,
người
ngoài
cũng
không
xâm
phạm
họ.
Nhưng
những
khu
này
lại
là
đất
của
nước
Mỹ,
có
thể
nói
là
do
những
người
da
trắng
ban
phát
cho.
Dĩ
nhiên,
trên
vấn
đề
lư
luận
hoặc
t́nh
cảm
chúng
ta
có
thể
nói
không
phải
là
ban
phát
cho,
mà
do
họ
tự
tranh
đấu
mới
có
được
một
ít
đất
cũ
vốn
của
họ.
Nhưng
nếu
cái
t́nh
cảm
của
ta
không
dính
dáng
ǵ
đến
văn
học,
thơ
ca
nhưng
đơn
thuần
về
lư
tính
th́
chúng
ta
sẽ
thấy
rằng
vài
vùng
đất
riêng
này
là
do
ân
huệ
của
nước
Mỹ
da
trắng.
Cho
nên,
nếu
có
một
ngày
nào
đó,
nước
Mỹ
đông
dân
hơn
cần
lấy
lại
những
khu
vực
này
th́
cái
kết
cục
của
người
da
đỏ
sẽ
vô
cùng
thê
thảm.
Phải
chăng
chúng
ta
cần
phải
có
cách
nh́n
như
thế
này
: Sự
hủy
diệt
của
một
dân
tộc
là
một
điều
vô
cùng
lớn
lao,
nhưng
không
phải
không
có
thể
xảy
ra ?
Những
lúc
tôi
nh́n
thấy
những
khu
hoang
phế
của
dân
da
đỏ,
và
cái
sự
tŕ
trệ
về
văn
hóa
của
chúng
ta
là
trong
ḷng
tôi
như
dao
cắt;
không
thể
nào
không
nghĩ
rằng
một
ngày
nào
đó
dân
tộc
Trung
Quốc
cũng
chẳng
khác
ǵ
dân
tộc
da
đỏ.
Có
một
người
bạn
bảo
tôi
: "
Không
thể
thế
được,
dân
tộc
Trung
Quốc
có
một
lịch
sử
lâu
đời,
dân
lại
đông
như
thế
".
Tôi
nghĩ
đấy
chẳng
qua
chỉ
là
một
cách
an
ủi
về
mặt
tinh
thần.
V́
đem
5.000
năm
lịch
sử
ra
để
bảo
chứng
cho
sự
bất
diệt
của
một
dân
tộc
th́
không
hiểu
căn
cứ
trên
cơ
sở
nào
? Vũ
trụ
mênh
mông,
5.000
năm
chỉ
là
một
khoảnh
khắc,
nhân
loại
sẽ
c̣n
tồn
tại
đến
cả
5.000
ức
năm
nữa
là
ít.
So
với
5.000
ức
năm
th́
5.000
năm
có
là
bao
!
C̣n
nói
về
dân
số
nhiều
ít,
đó
là
một
điều
chẳng
quyết
định
ǵ
trong
vấn
đề
hưng
vong
của
một
dân
tộc.
Thời
đầu,
lúc
người
châu
Âu
đổ
bộ
lên
châu
Mỹ,
dân
số
người
da
đỏ
c̣n
rất
lớn,
lớn
hơn
nhiều
so
với
người
da
trắng.
Cái
ư
nghĩ
hồ
đồ
này
làm
tôi
rất
buồn
và
thấy
rằng
người
Trung
Quốc
chúng
ta
đang
gặp
rất
nhiều
vấn
đề.
Một
vấn
đề
nổi
bật
thật
khó
hiểu
là
tại
sao
đến
bây
giờ
người
Trung
Quốc
không
thể
hùng
mạnh
?
Trong
khi
chúng
ta
thật
ra
có
đủ
các
điều
kiện
để
trở
nên
hùng
mạnh.
Thế
th́
nhất
định
các
điều
kiện
cản
trở
sự
hùng
mạnh
của
ta
phải
vượt
xa
các
điều
kiện
giúp
chúng
ta
hùng
mạnh.
Tôi
xin
nói
trước
tôi
nghiên
cứu
lịch
sử
không
có
bài
bản
ǵ
cả,
cũng
giống
kiểu
luyện
thép
thô
sơ
mà
người
Trung
Quốc
làm
trong
"
Bước
nhảy
vọt
lớn
",
nhưng
luyện
rất
chuyên
cần
nên
bây
giờ
rất
tâm
đắc,
xin
đóng
góp
một
ít
suy
nghĩ
sau
đây
để
mọi
người
tham
khảo.
Tôi
bắt
đầu
bằng
một
câu
chuyện
thế
này
: ở
Mỹ
có
một
công
ty
phái
nhân
viên
của
ḿnh
đi
Âu
châu
khảo
sát.
Sau
mấy
tháng
người
ấy
trở
về
làm
báo
cáo
dầy
cả
200
trang
cho
công
ty,
nói
rằng
về
phương
diện
kỹ
thuật
cũng
như
quản
lư
châu
Âu
đều
lạc
hậu
kinh
khủng,
không
thể
nào
b́
được
với
Mỹ.
Khi
ban
giám
đốc
đọc
xong
bản
báo
cáo
liền
ra
lệnh
khai
trừ
nhân
viên
này.
Tổng
Giám
đốc
nói
: "
Chúng
tôi
gửi
anh
đi
châu
Âu
để
tận
mắt
khai
thác
những
sở
trường
của
họ
chứ
không
phải
t́m
những
sở
đoản
của
họ.
Chúng
tôi
không
cần
anh
phát
hiện
những
ǵ
ḿnh
đă
làm
tốt
rồi.
Chúng
tôi
cần
biết
những
điểm
họ
mạnh
hơn
ḿnh
và
thấy
được
những
khuyết
điểm
của
ḿnh
để
sửa
chữa.
Chúng
tôi
không
cần
nghe
những
lời
tự
ca
tụng,
cái
đó
nghe
nhiều
sẽ
bị
ru
ngủ,
làm
cho
phẩm
chất
sản
phẩm
của
chúng
ta
xuống
thấp,
công
ty
chẳng
mấy
lúc
mà
đóng
cửa
".
Câu
chuyện
này
có
thể
xem
là
một
chuyện
ngụ
ngôn
v́
từ
nó
chúng
ta
rút
ra
được
một
bài
học
lớn.
Cái
chúng
ta
cần
hôm
nay
không
phải
là
phát
hiện
những
thứ
hay
ho
của
ḿnh
mà
t́m
ra
những
cái
ngăn
chặn
sự
tiến
bộ
của
dân
tộc
Trung
Quốc,
cho
chúng
ta
thấy
được
nguyên
nhân
đang
cản
trở
sự
hùng
mạnh
của
đất
nước.
Lúc
năy
ăn
cơm
trưa,
có
vài
người
bạn
quan
tâm
đến
việc
học
tập
của
con
cháu
chúng
ta,
sự
tốn
kém
của
học
phí
đại
học.
Tôi
cũng
thấy
được
rằng
người
Trung
Quốc
dù
khổ
sở
nghèo
khó
thế
nào
đi
nữa
cũng
đều
cố
gắng
cho
con
cháu
ḿnh
được
học
hành.
Đó
là
một
điểm
mạnh,
một
ưu
điểm
của
dân
tộc
Trung
Quốc,
tôi
không
cần
các
bạn
nhắc
lại
quá
nhiều
nữa.
Cái
tôi
muốn
nói
hôm
nay
là
những
khuyết
điểm
của
dân
tộc
chúng
ta.
V́
chỉ
nói
ưu
điểm
th́
không
thể
tự
cứu
được
ḿnh,
muốn
tự
cứu
được
ḿnh
phải
biết
nói
lên
những
khuyết
điểm
của
ḿnh.
Điểm thứ nhất :
Trung
Quốc
có
lịch
sử
5.000
năm.
Trong
5.000
năm
ấy,
lực
lượng
phong
kiến
chà
đạp
lên
phẩm
giá,
nhân
tính
con
người
không
phải
ngày
càng
giảm
thiểu
mà
ngày
một
gia
tăng.
Thời
Xuân
Thu
Chiến
Quốc,
vua
và
quan
c̣n
gần
như
cùng
ngồi
ngang
hàng
nhau,
có
thể
nói
nằm
cùng
gường
ăn
cùng
mâm.
Đến
thời
Tây
Hán,
thế
kỷ
thứ
II
trước
Công
nguyên
(206
BC-AD
25),
Thúc
Tôn
Thông
đặt
ra
nghi
lễ
triều
đ́nh
dưới
triều
hoàng
đế
Lưu
Triệt
vào
lúc
học
phái
Nho
gia
đang
nắm
quyền.
Nghi
thức
này
biến
đế
vương
thành
một
thứ
quyền
uy,
không
những
rất
trang
nghiêm,
cung
kính
mà
c̣n
làm
cho
mọi
người
khiếp
sợ.
Khi
Đại
thần
vào
triều
kiến
Hoàng
đế
có
vệ
sĩ
kè
kè
bên
cạnh,
bất
kỳ
ai
có
thái
độ
không
hợp
quy
cách,
như
kiểu
vô
t́nh
ngẩng
đầu
lên
nh́n
một
cái
cũng
có
thể
bị
xử
phạt.
Những
thay
đổi
này
làm
cho
vua
chúa
xa
cách
nhân
dân,
lúc
nào
cũng
giữ
một
khoảng
cách,
nhưng
dưới
trướng
Hoàng
đế
các
Đại
thần
vẫn
c̣n
có
chỗ
ngồi.
Đến
thế
kỷ
thứ
X
dưới
triều
Tống
(960-
1279)
th́
cái
địa
vị
này
cũng
không
c̣n
nữa.
Việc
Tể
tướng
cùng
ngồi
với
Hoàng
đế
để
luận
đạo
đă
vĩnh
viễn
mất.
Cái
cải
cách
rất
nhỏ
này
nhưng
ư
nghĩa
rất
lớn.
Nghĩa
là
giữa
vua
tôi,
quan
dân
khoảng
cách
càng
ngày
càng
lớn.
Đến
thế
kỷ
XIV
dưới
triều
Minh
(1368
-
1644),
cái
nhân
phẩm
c̣n
bị
chà
đạp
đến
độ
không
tưởng
tượng
được.
Nhà
vua
đối
với
thần
dân
của
ḿnh
khinh
thị
như
cừu
thù.
Triều
Minh
này
lập
ra
cái
quan
niệm
"
vua
cha
".
Vua
là
cha,
Hoàng
đế
là
bố
của
tất
cả
mọi
người
trong
nước.
Cái
quan
niệm
này
khi
được
thiết
lập
rồi
lại
sinh
ra
các
hủ
tục
khác
không
kể
xiết.
Trong
những
thứ
ấy,
cái
đáng
sợ
nhất
là "
đ́nh
trượng
".
Từ
Tể
tướng
đến
tiểu
quan,
chỉ
cần
bị
xem
là
phạm
pháp
đều
có
thể
bị
nọc
ra
giữa
cung
điện,
giữa
công
đường,
hoặc
ngay
tại
một
chỗ
công
cộng,
dùng
gậy
đánh
cho
đến
thịt
rơi
máu
văi.
Cái
chế
độ "
đ́nh
trượng
"
kết
hợp
với
tư
tưởng
"
vua
cha
"
làm
cho
ḷng
tự
trọng
của
người
Trung
Quốc
gần
như
mất
hẳn,
làm
cho
nhân
cách
của
họ
hầu
như
không
c̣n
ǵ .
Cách
duy
nhất
để
giữ
được
ḷng
tự
trọng
là
cố
gắng
không
kêu
la
khi
bị
đánh.
Để
khỏi
kêu
la
thường
những
viên
quan
kiên
cường
đă
chà
xát
mặt
xuống
đất
mạnh
đến
nỗi
sau
đó
râu
rụng
không
c̣n
sợi
nào.
Thời
đó,
phản
ứng
duy
nhất
có
thể
làm
được
là
như
vậy,
không
có
cách
phản
kháng
nào
khác.
Chúng
ta
thường
bảo
rằng
dân
Trung
Quốc
là
một
dân
tộc
có
sức
đồng
hóa
phi
thường,
và
cho
đến
ngày
nay
vẫn
đúng
như
vậy.
Chúng
ta
có
thể
thấy
bao
lần
trong
lịch
sử,
sau
khi
chiếm
được
Trung
Quốc,
những
dân
tộc
ngoại
xâm
cuối
cùng
cũng
đều
bị
đồng
hóa.
Sớm
nhất
là
thời
Bắc
Ngụy
(368
-
534),
Hiếu
Văn
Đế
Thác
Bạt
Hoành
(Hoằng)
sau
khi
chiếm
được
Trung
Quốc
lại
sử
dụng
hệ
thống
chính
trị
của
Trung
Quốc
để
cải
cách,
canh
tân.
Triều
Măn
Thanh
cũng
thế.
Hai
lần
bị
xâm
lược
lớn
nhất
này
lại
là
hai
lần
thắng
lợi
lớn
nhất
của
văn
hóa
Trung
Quốc.
Nhưng
ta
phải
chú
ư
điều
này
:
Những
kẻ
xâm
lược
cố
nhiên
đều
hấp
thụ
và
kế
thừa
văn
hóa
Trung
Quốc,
nhưng
lại
tiếp
thu
cái
phần
kém
nhất
của
văn
hóa
Trung
Quốc,
nên
kết
cục
cũng
chẳng
ra
ǵ.
Thay
v́
trở
nên
hùng
mạnh
th́
cả
dân
tộc
họ
lẫn
dân
tộc
Trung
Quốc
lại
càng
suy
thoái.
Ví
dụ
như
hoàng
đế
Bắc
Ngụy
là
Thác
Bạt
Hoành
tuyên
bố
cấm
người
Tiên
Bi (Ty)
nói
tiếng
Tiên
Bi,
nhất
loạt
đều
dùng
tiếng
Trung
Quốc,
ngoài
ra
lại
đổi
tên
họ
ḿnh
thành
tên
họ
Trung
Quốc,
áp
dụng
chế
độ
cung
đ́nh
phong
kiến,
chế
độ
gia
thế,
quư
tộc
Trung
Quốc
mà
họ
không
hề
có.
Trước
kia
họ
là
dân
du
mục
trên
các
thảo
nguyên,
đầu
óc
khoáng
đạt.
Tôn
ty
trật
tự,
khoảng
cách
giữa
các
giai
tầng
xă
hội
không
lớn
lắm.
Những
thứ
tốt
đẹp
đó
đều
bị
phá
hoại
cả.
Thính
giả:
-
Xin
hỏi
"
đ́nh
trượng
" là
thế
nào?
"
Đ́nh
trượng
" là
"
đánh
đít
".
Người
bị
đánh
nằm
sấp,
bốn
hoạn
quan
giữ
tay
chân
buộc
chặt
vào
cọc,
sau
đó
dùng
bao
tải
trùm
đầu,
hai
hoạn
quan
đè
đùi
sát
xuống
đất.
Vua
ra
lệnh
đánh
100
trượng
là
đánh
100.
Thông
thường
không
đánh
quá
100
trượng,
v́
100
là
cũng
đủ
chết
rồi.
Bọn
tay
sai
chấp
hành
lệnh
quan
sát
sắc
mặt
vua.
Nếu
vua
chỉ
ghét
thôi
mà
không
muốn
giết,
th́
đánh
xong
100
trượng,
kẻ
bị
đánh
vẫn
c̣n
có
thể
sống
được.
Nhưng
nếu
ư
ông
con
trời
kia
lại
muốn
giết,
th́
chỉ
cần
ba
bốn
mươi
trượng
là
đủ
toi
mạng.
Nói
chung
các
quan
viên
hay
người
có
chức
phận
khi
bị
đánh
phải
đút
lót
cho
bọn
hoạn
quan,
bọn
này
sẽ
dùng
thủ
pháp
đánh
kêu
rất
to,
trông
rất
đau,
máu
thịt
tơi
bời,
nhưng
lại
không
phạm
vào
gân
cốt,
không
chết
người.
Bọn
này
đều
được
huấn
luyện
đến
độ
có
thể
dùng
giấy
bọc
một
bó
rơm,
đánh
cho
rơm
bên
trong
nát
mà
tờ
giấy
không
hề
rách.
Ngược
lại
họ
có
thể
đánh
làm
sao
không
để
lại
thương
tích
ǵ
trên
da
thịt
mà
bên
trong
gân
cốt
đều
nát
bấy.
Chế
độ
đánh
đ̣n
này
làm
nhân
phẩm
hoàn
toàn
bị
phá
sản.
Thế
kỷ
XIV,
XV
tại
châu
Âu
đă
là
thời
Phục
Hưng
nhưng
tại
Trung
Quốc,
hỡi
ôi !
vẫn
c̣n
là
thời
kỳ
đánh
đít.
Xin
quay
lại
vấn
đề.
Dân
Mông
Cổ
là
một
dân
tộc
rất
kỳ
quái,
sau
khi
đă
xâm
nhập
vào
Trung
Quốc
vẫn
giữ
một
thái
độ
chống
đối
văn
hóa
Trung
Quốc.
Trong
ṿng
180
năm,
lúc
đến
thế
nào
th́
ra
đi
thế
ấy,
không
hề
bị
nhiễm
văn
hóa
Trung
Quốc.
C̣n
nhà
Thanh,
sau
khi
được
thành
lập
lại
thừa
kế
cấu
trúc
xă
hội
và
hệ
thống
chính
trị
của
triều
Minh,
thời
kỳ
hắc
ám
nhất,
làm
cho
chính
quyền
mới
đă
có
mầm
mống
bị
đục
ruỗng
để
cuối
cùng
không
thể
nào
cứu
văn
được
nữa.
Nhân
quyền
bị
chế
độ
phong
kiến,
xă
hội
phong
kiến
chà
đạp
trong
một
thời
gian
lâu
dài
như
vậy
cơ
hồ
chẳng
c̣n
ǵ.
Cái
ảnh
hưởng
của
việc
này
rất
lớn
đối
với
người
Trung
Quốc,
nó
làm
người
Trung
Quốc
không
giữ
được
ḷng
tự
trọng
nữa.
Cái
tự
trọng
c̣n
lại
chẳng
qua
cũng
chỉ
là
cái
tinh
thần
tự
dối
ḿnh
như
A Q
trong
truyện
của
Lỗ
Tấn.
Cái
tinh
thần
đó
và
cái
ḷng
tự
trọng
chân
chính
khác
nhau
một
trời
một
vực.
Ví
dụ
tôi
đến
thăm
anh,
thấy
anh
nhà
cao
cửa
rộng,
học
vấn
uyên
bác,
trong
ḷng
tôi
kính
phục,
hâm
mộ
anh.
Trên
đường
về
đáng
lẽ
tôi
nghĩ
phải
cố
gắng
phấn
đấu,
làm
việc,
học
hành
để
có
thể
được
như
anh.
Đằng
này
lúc
ra
khỏi
nhà
anh
tôi
lại
bảo:
ở
nhà
đẹp
thế!
Không
biết
ăn
cắp
hay
ăn
cướp
ở
đâu
ra
lắm
tiền!
Cầu
trời
cho
ngày
mai
có
đám
cháy
thiêu
trụi
cái
nhà
nó
đi
cho
rồi
!
Tâm
lư
dân
tộc
ta
bị
ức
chế
lâu
ngày
chỉ
biết
dùng
cái
tinh
thần
đó
để
tự
thỏa
măn.
Điểm
thứ
hai
:
Trong
suốt
5.000
năm
lịch
sử,
Trung
Quốc
chỉ
có
ba
thời
đại
hoàng
kim.
Thời
đại
đầu
là
Xuân
Thu
Chiến
Quốc
(770
-
476
trước
Công
nguyên)
-
thời
này
có
rất
nhiều
trường
phái
tư
tưởng,
nhiều
lối
sống
khác
nhau
cùng
xuất
hiện.
Thời
đại
thứ
hai
phải
là
đời
Đường
(618
-
907)
- từ
Đường
Thái
tông
Lư
Thế
Dân
đến
Đường
Minh
Hoàng
Lư
Long
Cơ
khoảng
100
năm
(650
-
756).
Thời
kỳ
thứ
ba
là
100
năm
đầu
của
nhà
Thanh
(1644
-
1911).
Trong
5.000
năm
lịch
sử
Trung
Quốc
chỉ
có
ba
thời
đại
hoàng
kim
này.
C̣n
hơn
4.000
năm
kia,
cơ
hồ
mỗi
năm,
thậm
chí
mỗi
ngày
đều
có
chiến
tranh.
Một
học
giả
Tây
phương
đă
làm
thống
kê
chứng
minh
rằng
từ
khi
nhân
loại
có
lịch
sử
đến
giờ,
không
năm
nào
không
có
chiến
tranh.
Hiện
tượng
này
đối
với
lịch
sử
Trung
Quốc
cũng
chẳng
khác.
Riêng
tôi
cũng
đă
làm
qua
thống
kê,
lại
c̣n
viết
thành
một
bộ
sơ
cảo
: "
Lịch
biên
niên
những
thời
đại
chiến
loạn
của
sử
Trung
Quốc
" (Trung
Quốc
sử
đại
chiến
loạn
biên
niên
lịch)
cho
thấy
ở
Trung
Quốc
năm
nào
cũng
có
chiến
tranh.
Nhưng
không
thể
đem
Trung
Quốc
so
sánh
với
thế
giới
được.
Thế
giới
là
một
đơn
vị
quá
lớn
so
với
Trung
Quốc,
nhất
là
vào
đời
nhà
Minh
th́
bản
đồ
Trung
Quốc
chỉ
bằng
thời
Tần
ở
thế
kỷ
thứ
II
trước
Tây
lịch,
nghĩa
là
bằng
khoảng
một
nửa
bản
đồ
hiện
nay.
Thế
mà
trong
một
bản
đồ
nhỏ
như
thế,
mỗi
năm
đều
có
chiến
tranh
!
Chỉ
căn
cứ
trên
những
chiến
tranh
lớn
được
ghi
chép
lại,
các
chiến
sự
nhỏ
không
thuộc
phạm
vi
thống
kê
này,
th́
cũng
có
thể
thấy
rằng
loạn
lạc,
chiến
tranh
ở
Trung
Quốc
đáng
sợ
vô
cùng.
Khi
một
triều
vua
này
thay
thế
một
triều
vua
khác,
cái
thời
kỳ
quá
độ
đầy
hỗn
loạn
có
thể
kéo
dài
từ
30
đến
50
năm.
Từ
lúc
đoạt
chính
quyền
đến
lúc
ổn
định,
lại
cần
khoảng
20
năm
nữa.
Rồi
tiếp
đó
là
cái
ṿng
luẩn
quẩn
bắt
đầu
bằng
sự
thối
nát
của
chính
quyền
vừa
đoạt
được,
các
lực
lượng
phản
kháng
lại
trỗi
dậy,
rồi
kéo
đến
những
hỗn
loạn
lớn.
Chiến
tranh
lại
bắt
đầu,
rồi
cái
ṿng
trị
loạn,
tranh
giành,
chém
giết
cứ
tiếp
diễn.
Có
thể
nói
rằng
người
Trung
Quốc
trường
kỳ,
thậm
chí
vĩnh
viễn,
sinh
ra
và
lớn
lên
trong
tham
ô,
hỗn
loạn,
chiến
tranh,
giết
chóc,
bần
cùng,
cho
nên
chẳng
bao
giờ
có
cảm
giác
được
an
toàn,
lúc
nào
cũng
hoảng
hốt,
lo
âu.
Chúng
ta
có
lịch
sử
lâu
đời,
lại
có
đất
nước
mênh
mông,
đầu
óc
tất
phải
khoáng
đạt,
lớn
lao,
cởi
mở,
tự
tin.
Thế
mà
ngược
lại
chỉ
v́
bần
cùng,
giết
chóc,
đố
kỵ
một
cách
lâu
dài
thành
ra
ḷng
dạ
chúng
ta
thành
hẹp
ḥi.
Chỉ
cần
ngày
hôm
nay
có
thể
qua
đi
là
được
rồi,
ngày
mai
thế
nào
không
cần
biết.
Chiến
tranh
sẽ
c̣n
kéo
dài
đến
mức
độ
nào,
ai
mà
thấy
trước
được
!
Chiến
tranh
ảnh
hưởng
đến
thủy
lợi,
thủy
lợi
bị
phá
hủy
rồi
th́
đến
hạn
hán
lớn,
sau
hạn
hán
là
đến
nạn
châu
chấu.
Những
tai
họa
này,
hạn
hán,
ngập
lụt,
châu
chấu,
rồi
đất
hoang
ngh́n
dặm.
Trong
lịch
sử,
cái
câu
"
Người
ăn
thịt
lẫn
nhau
"
không
biết
đă
xuất
hiện
đến
mấy
chục
lần
hay
mấy
trăm
lần.
Nếu
chúng
ta
nghĩ
rằng
chúng
ta
là
một
dân
tộc
có
văn
minh
cao,
sao
lại
có
thể
có
cái
hành
vi
dă
man
ấy ?
Cũng
chỉ
v́
những
tai
nạn
đối
với
chúng
ta
quá
nhiều,
lại
bị
tai
nạn
quá
lâu
!
Chẳng
cần
nói
quốc
gia
dân
tộc
ǵ
cả,
chỉ
nói
từng
cá
nhân,
một
con
người
nếu
bần
cùng
quá
lâu
ngày,
quá
ư
khổ
sở,
người
ấy
rồi
đối
với
bất
cứ
sự
việc
ǵ
cũng
đều
sinh
ra
cái
tâm
lư
nghi
ngờ.
Mấy
hôm
trước
khi
ra
tù,
một
quan
chức
kêu
tôi
ra
bảo
: "
Tôi
báo
cho
anh
một
tin
mừng,
anh
sắp
được
thả
rồi!
".
Tôi
nói:
"
Tôi
chán
thịt
thỏ
lắm
rồi!
".
Anh
ta
bảo:"
Anh
không
tin
tôi
à?
Tôi
nói
dối
anh
làm
ǵ?
".
Tôi
phải
yêu
cầu
anh
ta
đem
giấy
đến
cho
tôi
xem.
Bởi
v́
tôi
đă
từng
quá
tin,
từng
bị
gạt
quá
nhiều,
mỗi
lần
như
vậy
đều
thất
vọng.
Một
người
bị
nạn
quá
lâu
có
quyền
không
tin
vào
những
tin
tức
tốt.
Một
dân
tộc
cũng
vậy.
Bị
đày
đọa
lâu
ngày,
mọi
người
cho
rằng
sang
một
triều
đại
mới
có
thể
rồi
sẽ
như
thế
này,
thế
nọ.
Kết
quả
gần
như
không
có
một
lần
nào
là
không
hụt
hẫng.
Có
người
hỏi:
tại
sao
Trung
Quốc
không
có
kiến
trúc
lớn
mà
nước
ngoài
lại
có?
- ấy
là
v́
các
kiến
trúc
Trung
Quốc
thường
làm
bằng
gỗ,
dễ
bị
mục.
Tôi
cho
rằng
đó
không
phải
là
câu
trả
lời
đúng
mà
nguyên
nhân
là
v́
cứ
sau
mỗi
một
triều
đại
mới
lên
là
chúng
lại
bị
đem
đốt
đi.
Nhà
Tần
để
lại
những
cung
A
Pḥng
đẹp
như
thế,
nhưng
Hạng
Vũ
cho
rằng
đó
là
mồ
hôi
nước
mắt
của
dân,
do
chính
trị
bạo
ngược
làm
ra,
bèn
cho
một
mồi
lửa.
Chỉ
mấy
hôm
sau,
Hạng
Vũ
lại
cho
xây
một
cung
điện
khác.
Rồi
qua
mấy
hôm
nữa
sẽ
có
một
kẻ
khác
phê
b́nh
cho
rằng
đấy
là
bạo
chính,
là
mồ
hôi
nước
mắt
nhân
dân,
lại
thiêu
rụi
đi.
Cứ
như
thế
mà
đi
đến
chỗ
măi
măi
nghèo
xơ
xác,
không
có
cách
nào
mở
mang
được
đầu
óc,
xây
dựng
được
ḷng
tự
tôn.
Lại
có
câu
cách
ngôn
" Đa
nạn
hưng
bang
" (nhiều
nạn
th́
dựng
được
nước).
Trước
tiên
chúng
ta
cần
hiểu
rằng
cách
ngôn
thuộc
về
cảm
tính,
trong
một
điều
kiện
đặc
biệt
nào
đó,
nó
là
chân
lư,
nhưng
nó
không
hề
có
tính
khoa
học.
Nếu
"
nạn
" mà
quá
nhiều
th́
làm
cách
nào
"
hưng
bang
"
được
?
Đối
với
cách
ngôn
nhất
định
cần
có
nhận
thức.
Lại
lấy
một
ví
dụ
nói
" Ai
binh
tất
thắng
"
(Quân
lính
đau
buồn
th́
sẽ
thắng
trận),
điều
này
có
thể
không
có
ǵ
là
chắc
chắn.
Ai
binh
chẳng
đă
từng
thất
bại
đầy
rẫy!Một
đội
quân
dù
lớn
mà
rốt
cuộc
bị
tiêu
diệt,
lúc
đó
không
phải
thànhai
binh
th́
là
ǵ ?
Giống
như
khi
Carthage
(Các-ta-giơ
ở
Bắc
Phi)
chống
lại
La-Mă,
đến
lúc
cuối
cùng
cơ
hồ
cả
nước
đều
là
quân
binh,
có
thể
nói
"
vừa
khóc
vừa
đánh
",
kết
cục
vẫn
bị
La-Mă
tiêu
diệt.
" Ai
binh
"
chưa
chắc
đă
thắng.
"
Nạn
" mà
quá
nhiều
chắc
ǵ
đă
dựng
được
nước
?
Phải
nói
rằng
"
nạn
"
nhiều
đúng
mức,
đúng
thời
may
ra
mới
có
thể
"
hưng
bang
"
được.
C̣n
Trung
Quốc
th́
sao
?
Dường
như
cái
"
nạn
"
lại
quá
nhiều.
Cũng
may
là
cái
quá
nhiều
đó
chưa
đạt
đến
độ
tiêu
diệt
cả
chúng
ta,
nhưng
cũng
đă
đến
cái
chỗ
đủ
nhiều
để
làm
cho
chúng
ta
mất
cả
linh
tính.
Điểm
thứ
ba :
Chúng
ta
phát
hiện
được
trong
lịch
sử
Trung
Quốc
một
hiện
tượng
kỳ
quái
mà
các
nước
khác
không
có,
đó
là
chế
độ
khoa
cử,
hay
gọi
tắt
là "
Quan
trường
".
Nhật
Bản
hấp
thụ
văn
hóa
Trung
Quốc
một
cách
toàn
diện.
Không
cái
ǵ
Trung
Quốc
có
mà
họ
không
từng
tiếp
nhận,
từ
cái
nhỏ
như
manh
chiếu
(Tatami),
đôi
guốc
(Geta),
đến
cái
lớn
như
chế
độ,
tổ
chức
chính
trị,
v.v..,
nhưng
chỉ
có
một
điểm
mà
họ
không
tiếp
nhận,
mà
điểm
này
đă
giúp
họ
trở
thành
một
nước
hùng
cường
rất
nhanh
chóng
trong
thời
Minh
Trị
Duy
Tân,
đó
là
chế
độ
khoa
cử.
Chế
độ
khoa
cử
Trung
Quốc
cũng
có
những
tác
dụng
tốt,
nhưng
lại
đẻ
ra "
vấn
đề
quan
trường
".
Quan
trường
là
một
cái
mạng
nhện
kỳ
quái,
nh́n
th́
không
thấy,
sờ
không
đụng,
nhưng
lúc
bị
rơi
vào
rồi
mới
biết.
Ta
không
thể
dùng
chữ
Bureaucrats
tiếng
Anh
để
dịch
chữ
"
quan
liêu
"
trong
tiếng
Trung
Quốc
được,
bởi
chữ
này
không
lột
tả
hết
được
cái
đặc
trưng
của
nó.
Quan
liêu
chẳng
trung
thành
với
quốc
gia,
lănh
tụ
ǵ
cả,
chỉ
tận
tâm
tận
lực
với
kẻ
cất
nhắc
nó
lên
làm
quan.
Các
triều
đại
Trung
Quốc
có
thể
thay
đổi,
song
quan
trường
vẫn
thế.
Người
Măn
Thanh
sở
dĩ
thống
trị
được
người
Tây
Tạng,
người
Mông
Cổ,
người
Hán
v́
biết
nhắm
vào
nhược
điểm
của
các
dân
tộc
này.
Đối
với
người
Tây
Tạng
họ
dùng
đạo
Lạt-ma,
mời
những
tăng
lữ
lạt-ma
đến
Bắc
Kinh
và
đối
xử
với
họ
cực
kỳ
cung
kính.
Đối
với
người
Mông
Cổ
th́
họ
dùng
thủ
đoạn
hôn
nhân,
gả
những
công
chúa
cho
những
hoàng
tử
Mông
Cổ,
con
cái
lai
sinh
ra
thành
ra
con
cháu
của
ḿnh,
đem
chúng
nuôi
dưỡng
ở
cung
đ́nh
nhà
Thanh.
Các
vương
tử
đó
một
khi
lớn
lên
không
thể
nào
phản
lại
chú
bác
cô
d́
của
chúng.
Trong
khi
đó
công
chúa
Măn
Châu
không
bao
giờ
lấy
người
Hán.
Người
Măn
Châu
trị
người
Hán
bằng
phương
pháp
khoa
cử.
Họ
biết
người
Trung
Quốc
có
cái
khuyết
điểm
là
thích
làm
quan.
Nếu
tôi
cho
anh
cái
hy
vọng
được
làm
quan
th́
anh
có
thể
ngoan
ngoăn
đem
giao
ngay
hết
cả ư
thức
dân
tộc
lẫn
phẩm
giá
con
người.
Sở
dĩ "
Quan
trường
" có
cái
bộ
mặt
của
các
xă
hội
thần
bí
v́
nó
mang
những
tiêu
chuẩn
cư
xử
và
những
quan
niệm
về
giá
trị
rất
đặc
thù.
Nó
không
trung
thành
với
vua,
vua
thay
th́
nó
vẫn
làm
quan.
Nó
cũng
không
sợ
mất
nước,
nước
mất,
chỉ
cần
nó
vẫn
được
làm
quan
th́
nó
vẫn
làm.
Cái
xă
hội
ăn
chơi,
phù
hoa
là
nơi
các
quan
ra
oai,
tự
nhiên
h́nh
thành
một
hệ
thống
tương
hỗ
bao
che
giữa
các
quan
với
nhau
-
một
quan
hệ
vô
cùng
phức
tạp.
Quyển
sách
"
Quan
trường
hiện
h́nh
kư "
là
một
quyển
sách
phân
tích
cái
cấu
trúc
của
chế
độ
quan
trường
Trung
Quốc
dưới
cặp
mắt
nghiên
cứu
những
vấn
đề
xă
hội.
Bởi
v́
từ
khi
quan
trường
được
thiết
lập,
những
quan
hệ
giữa
người
với
người
tại
Trung
Quốc
càng
trở
nên
tinh
xảo.
Các
vị ở
Mỹ
lâu
năm
có
thấy
rằng
cái
quan
hệ
giữa
con
người
ở Mỹ
so
với
Trung
Quốc
th́
quá
đơn
thuần
không
?
ở
Trung
Quốc
có
một
câu
nói:
"
Làm
việc
th́
dễ,
làm
người
th́
khó!
".
Làm
người
là
thế
nào
nhỉ
?
Tức
là
làm
sao
cho
cái
quan
hệ
giữa
con
người
với
nhau
được
tốt
đẹp.
Có
một
vở
Kinh
kịch
(kịch
Bắc
Kinh)
nhan
đề "
Thẩm
đầu
thích
thang
" (khám
đầu
t́m
kẻ
giết
ông
Thang)
trong
đó
có
một
quan
ṭa,
một
vị
bồi
thẩm
và
một
góa
phụ
nhan
sắc
xinh
đẹp
mà
chồng
vừa
bị
mưu
sát.
Trong
phiên
ṭa
người
đàn
bà
góa
ôm
một
đầu
người
đứng
khóc.
Nhiệm
vụ
của
ṭa
là
phải
xác
minh
xem
đấy
là
đầu
của
ai.
Nếu
đúng
là
đầu
của
chồng
bà
ta
th́
vụ
án
xem
như
có
thể
kết
thúc.
Nhưng
nếu
là
đầu
của
một
người
khác
th́
vụ
án
này
c̣n
liên
quan
đến
rất
nhiều
người,
và
có
thể
sẽ
c̣n
nhiều
người
khác
sẽ
chết.
Ông
bồi
thẩm
có ư
thích
người
đàn
bà
góa
trẻ
đẹp
này,
và
bà
này
cũng
ra
ám
hiệu
cho
ông
ta
biết
là
bà
ta
sẽ
ưng
thuận
tái
giá
với
ông
ấy,
nên
ông
này
một
mực
rằng
đấy
là
đầu
của
chồng
bà
ta.
Nhưng
sau
khi
xem
chừng
vụ
án
có
vẻ
xong
xuôi,
bà
góa
bèn
tỏ ư
không
muốn
lấy
ông
bồi
thẩm
nữa.
Ông
này
cũng
lập
tức
quay
phắt
ra
nhất
quyết
bảo
cái
đầu
ấy
lại
không
phải
là
của
chồng
bà
ta
nữa.
Vở
kịch
này
tiêu
biểu
cho
cái
phản
phúc
trong
quan
hệ
quan
trường
của
người
Trung
Quốc
chúng
ta.
Đầu
thật,
đầu
giả
cho
đến
phút
cuối
cùng
cũng
không
ai
có
thể
biết
như
thế
nào.
Tôi
nghĩ
rằng
trong
chúng
ta
nhiều
người
đă
về
làm
việc
ở
Trung
Quốc
hoặc
sẽ
về
làm
việc
trong
tương
lai,
tôi
tin
chắc
khó
khăn
các
vị
gặp
phải
thường
không
dính
dáng
đến
bản
thân
công
việc,
mà
dính
đến
những
người
cùng
làm
việc
với
các
vị.
Nói
ví
dụ
anh
làm
việc
ở
một
ḷ
nguyên
tử.
Anh
có
biết
ǵ
về
nguyên
tử
hay
không,
đó
là
một
vấn
đề
thuộc
công
việc.
Nhưng
sẽ
rầy
rà
to
nếu
một
hôm
anh
cần
một
đinh
ốc
cho
ḷ
phản
ứng
mà
người
quản
lư
ốc
vít
lại
nghỉ
việc.
Anh
ta
bị
ốm,
đương
nhiên
xin
nghỉ,
anh
không
thể
cấm
người
ta
ốm
được.
Nhưng
sự
thật
anh
ta
lại
không
hề
cảm
cúm
ǵ
cả,
chỉ
nghỉ
để
đi
đánh
mạc
chược?
Tại
sao?
Bởi
v́
quan
hệ
giữa
anh
và
người
ấy
không
được
tốt
đẹp.
Cái
ḷ
nguyên
tử
của
anh
có
hoạt
động
được
hay
không,
thậm
chí
có
bị
nổ
tung
đi
nữa,
cái
việc
ấy
người
đó
cũng
cóc
cần.
Nếu
anh
bảo
nước
nhà
bị
thiệt
hại
th́
cũng
kệ,
tôi
cứ
việc
quan
tôi
làm.
Đó
là
cái
đầu
óc
quan
trường
tích
lũy
từ
mấy
ngh́n
năm,
một
chứng
bệnh
vẫn
c̣n
duy
tŕ
đến
cuộc
Bắc
Phạt
của
quân
Cách
mạng
Quốc
dân
năm
1928.
Về
mặt
quân
sự,
trong
khi
quân
đội
đánh
dẹp
các
sứ
quân
ở
miền
Bắc,
th́
về
mặt
chính
trị
cái
chất
độc
của
quan
trường
lại
tràn
xuống
miền
Nam.
Trước
kia
giữa
những
đồng
chí
cách
mạng
t́nh
cảm
rất
trong
sáng,
nhưng
khi
đă
bị
cuốn
hút
vào
giới
quan
trường
bỗng
trở
thành
phức
tạp
ghê
gớm,
phức
tạp
đến
độ
một
người
lành
mạnh
không
thể
nào
chịu
nổi.
Cái
quan
hệ
giữa
con
người
với
nhau
trở
thành
một
loại
keo
dính
đến
độ
hễ
dán
vào
rồi
là
không
thể
nào
gỡ
ra
được
nữa.
Có
ai
trong
các
vị
thấy
điều
đó
khi
về
nước
không?
Lấy
một
ví
dụ
khi
anh
về
nước,
bạn
bè
mời
anh
đi
ăn
cơm,
anh
dám
cả
gan
từ
chối
th́
t́nh
bạn
sẽ
từ
đó
bị
sổ
toẹt
ngay.
Đó
là
đặc
tính
của
quan
trường,
nó
làm
cho
quan
hệ
con
người
trở
nên
khúc
mắc
ghê
gớm.
Tại
sao
lại
như
thế
?
Tại
sao
anh
ta
phải
xử
sự
như
vậy
?
Bởi
v́
làm
như
thế
th́
cái
địa
vị
của
anh
ta
mới
càng
thêm
vững
chắc.
Tôi
có
một
người
bạn
về
Đài
Loan
được
một
người
chưa
hề
quen
mời
ăn
cơm.
Sau
khi
ăn
xong,
người
này
mới
nhờ
anh
đem
dùm
về
Mỹ
một
món
đồ.
Người
này
làm
ra
vẻ
nhờ
vả
rất
tự
nhiên,
như
thể
bạn
bè
vẫn
thường
giúp
đỡ
nhau
chứ
không
phải
đánh
đổi
một
bữa
cơm
để
lấy
chuyện
đưa
đồ.
Cái
hiện
tượng
quan
trường
là
như
vậy,
giống
kiểu
anh
làm
ḷ
nguyên
tử,
cái
ḷ
phản
ứng
hạt
nhân
này
rất
nguy
hiểm
không
phải
ai
cũng
mó
vào
được.
Nhưng
người
nọ
lại
cho
rằng
đă
là
bạn
bè
với
nhau
cho
anh
ta
sờ
đến
một
cái
th́
đă
sao.
Thường
thường
một
người
trước
khi
làm
quan
và
sau
khi
được
làm
quan
là
hai
loại
người
khác
nhau.
Thật
ra
nói
như
vậy
không
lô-gíc.
Chỉ
có
thể
nói
rằng
hễ
cái
"
quan
tính
"
của
một
người
càng
hưng
thịnh
th́
cái
nhân
tính
của
người
đó
càng
biến
mất
đi.
Không
c̣n
nhân
tính
nữa,
chỉ
c̣n
cái
quan
tính
lúc
làm
quan.
Cho
đến
một
ngày
tất
phải
về
hưu,
lúc
đó
cái
nhân
tính
may
ra
mới
hồi
phục.
Sự
tồn
tại
của
quan
trường
làm
cho
cách
làm
việc
tại
Trung
Quốc
trở
thành
rất
đặc
biệt,
khiến
cho
quỹ
đạo
của
sự
phát
triển
văn
hóa
đi
lệch
hướng.
Điểm
thứ
tư :
Tôi
cho
rằng
Khổng
Khâu
(Khổng
Tử)
là
một
nhân
vật
vĩ
đại,
tri
thức
uyên
bác,
lại
có
một
tấm
ḷng
nhân
hậu
và
những
cống
hiến
lớn
đối
với
xă
hội.
Cái
Nho
giáo
do
Khổng
Khâu
cùng
những
học
phái
Nho
gia
sau
này
lập
ra
đều
đă
ảnh
hưởng
đến
người
Trung
Quốc
một
cách
sâu
rộng,
và
c̣n
ảnh
hưởng
ngay
cả
đến
chúng
ta
ngày
nay.
Nhưng
tinh
thần
nhà
Nho
là
một
tinh
thần
bảo
thủ,
nói
một
cách
nghiêm
túc
hơn
th́
nhà
Nho
không
những
rất
bảo
thủ
mà
c̣n
phản
tiến
bộ.
Chữ
"
Nho
"
này
vào
thời
Xuân
Thu
Chiến
Quốc
chỉ
được
dùng
theo
nghĩa
sử
dụng
trong
nghi
lễ
cúng
tế.
Một
nhà
Nho
là
một
người
hiểu
biết
cái
tŕnh
tự
cúng
tế.
Gặp
lúc
quốc
gia
cần
các
nghi
lễ
mới
cần
loại
người
này
đóng
góp
ư
kiến.
Bản
chất
loại
người
này
vốn
nệ
cổ.
Thời
đó
chưa
có
lễ
nhạc
mới,
phải
dùng
lễ
nhạc
thời
cổ.
Để
có
miếng
cơm
nhà
Nho
phải
giữ
ǵn
sao
cho
nghề
nghiệp
của
họ
được
ổn
định
nên
sinh
ra
thói
nệ
cổ.
Nếu
chúng
ta
không
dùng
từ
nệ
cổ,
sùng
bái
những
cái
cũ,
v́
cho
rằng
nó
có
nghĩa
xấu
th́
cũng
phải
bảo
là
họ
rất
bảo
thủ.
Cái
tinh
thần
bảo
thủ
này
ở
Trung
Quốc
đă
trở
thành
một
ư
thức
bền
bỉ,
làm
cho
xă
hội
mất
hết
sức
sáng
tạo,
mất
tập
quán
tự
t́m
hiểu,
tự
phê
phán.
Bạn
bè
lúc
nói
chuyện
về
nước
Mỹ (xin
lỗi,
tôi
cứ
múa
búa
trước
cửa
Lỗ
Ban,
tôi
muốn
nói
chơi
thôi,
xin
quư
vị
cứ
nghe
chơi
chứ
đừng
tin
thật!
),
có
người
nói
về
việc
đàn
áp
chủng
tộc,
nào
tàn
sát
dân
da
đỏ,
ngược
đăi
da
đen,
kỳ
thị
da
vàng.
Tôi
đă
từng
đi
tham
quan
đảo
Angel
(En-giơn),
đă
được
nh́n
thấy
chữ
và
những
ḍng
thơ
người
Trung
Quốc
để
lại
nói
lên
những
sầu
thảm
và
đau
khổ
của
đời
họ.
Những
khuyết
điểm
này
của
nước
Mỹ
có
thật
không
? Dĩ
nhiên
là
có
thật,
thậm
chí
c̣n
hơn
sự
tưởng
tượng
của
chúng
ta
nữa.
Nhưng
chúng
ta
phải
lưu
ư
thêm
một
vấn
đề
khác,
đó
là
đối
với
các
khuyết
điểm
kia
họ
có
khả
năng
sửa
đổi
không?
Tự
họ
có ư
thức
được
vấn
đề
không
?
T́nh
h́nh
hiện
nay
so
với
trước
có
khá
hơn
không
?
Nếu
không
th́
tiền
đồ
của
nước
này
chắc
chắn
cũng
không
sáng
sủa
ǵ.
Nếu
có
th́
chúng
ta
phải
thấy
rằng
đấy
là
một
quốc
gia
vĩ
đại,
có
một
sức
sống
dồi
dào.
Trước
kia
nước
Mỹ
có "
cây
treo
cổ
người
",
bây
giờ
không
c̣n
nữa.
Xưa
kia
nước
Mỹ
đối
với
tù
nhân
có
dùng
"
nhà
lao
nước
".
Bây
giờ
khi
bắt
bớ
người,
họ
phải
đọc
điều
thứ
9
của
Hiến
pháp
cho
người
ấy.
Nước
Mỹ
đă
có
những
điều
sai
lạc,
nhưng
lại
có
năng
lực
sửa
sai.
Nhưng
dân
tộc
Trung
Quốc
chúng
ta
lại
hoàn
toàn
không
có
năng
lực
này.
T́nh
trạng
nệ
cổ
lâu
dài,
không
cầu
tiến,
bảo
thủ,
đă
làm
cho
cái
năng
lực
này
tiêu
tan.
Nh́n
lại
lịch
sử
chúng
ta
sẽ
thấy
Thương
Ưởng
-
một
nhà
tư
tưởng
đời
Tần
- đă
dùng
luật
pháp
biến
đổi
nước
Tần
như
thế
nào.
Trước
đó
dân
chúng
sinh
hoạt
trong
gia
đ́nh,
bố
mẹ,
con
cái,
anh
chị
em,
lớn
nhỏ
đều
nằm
chung
trên
một
giường
gạch
lớn
(
cái
kháng,
một
loại
giường
xây
bằng
gạch
hoặc
đất,
ở
dưới
có
bếp
lửa
vừa
để
nấu
ăn
vừa
sưởi
ấm
vào
mùa
đông).
Thương
Ưởng
dạy
họ
cách
sống
văn
minh
bằng
cách
bắt
bố
mẹ,
con
cái
không
được
ngủ
chung
pḥng,
anh
trai,
em
gái
cũng
vậy.
Điều
này
cho
thấy
vào
thời
đó
chúng
ta
là
một
quốc
gia
man
rợ
và
lạc
hậu
đến
dường
nào.
Thương
Ưởng
chẳng
phải
đă
phát
minh
ra
bom
nguyên
tử,
cũng
không
phải
đă
cải
cách
về
mặt
vật
chất,
nhưng
đă
dùng
pháp
chế
để
tạo
ra
một
chế
độ
mới,
một
xă
hội
mới,
giáo
dục
con
người
về
mặt
văn
hóa.
Và
cải
cách
đó
của
ông
cơ
bản
đă
thành
công.
Thương
Ưởng
là
người
của
thế
kỷ
thứ
IV
trước
Tây
lịch.
Hơn
2.000
năm
sau
đó
chưa
có
ai
đột
phá
thêm
một
lần
nữa,
làm
được
những
cải
cách
cơ
bản
như
vậy.
Cứ
mỗi
lần
có
người
muốn
đột
phá,
cuối
cùng
đều
thân
bại
danh
liệt,
cửa
nhà
tan
nát,
tính
mạng
không
c̣n.
Chính
số
phận
Thương
Ưởng
rồi
cuối
cùng
cũng
bị
ngũ
mă
phân
thây.
Nho
gia
học
phái
thường
thường
vẫn
lấy
cái
kết
cục
bi
thảm
của
Thương
Ưởng
để
răn
đe
những
kẻ
muốn
cải
cách
và
uy
hiếp
sự
tiến
bộ
của
người
Trung
Quốc.
Trong
lịch
sử
Trung
Quốc
c̣n
có
một
nhà
cải
cách
lớn
nữa
là
Vương
An
Thạch,
một
người
mà
đạo
đức,
học
lực
cùng
sức
làm
việc
đều
không
có
chỗ
nào
có
thể
chê
được.
Nhưng
những
cải
cách
của
ông
toàn
gặp
trắc
trở
lớn.
Trương
Cư
Chính
cũng
vậy,
ông
cũng
gặp
một
kết
cục
thê
thảm
như
Thương
Ưởng,
lúc
vừa
mất
th́
nhà
bị
niêm
phong,
con
bị
bỏ
đói
cho
chết.
Rồi
đến
cuộc
cải
cách
năm
Mậu
Tuất
(1898)
của
Khang
Hữu
Vi
cũng
chẳng
khác
ǵ,
tất
cả
đều
thất
bại
!
Nho
gia
học
phái
có
một
cách
nói
: "
Nếu
không
có
lợi
mười
phần
th́
không
cần
cải
cách
! "
(Lợi
bất
thập,
bất
biến
pháp).
Đại
ư
muốn
nói
rằng
nếu
lợi
ích
không
đạt
100
%
th́
không
nên
cải
cách.
Cái
quan
niệm
này
là
một
nguyên
nhân
lớn
nhất
làm
cho
dân
tộc
Trung
Quốc
chúng
ta
không
thể
tiến
bộ,
không
thể
hùng
mạnh
được.
V́
bất
cứ
một
cải
cách
nào
cũng
không
thể
đem
lại
mười
phần
mười
lợi
ích
cả.
Chỉ
cần
đạt
lợi
ích
lấy
năm
phần
rưỡi
của
mười
phần
cũng
là
lớn
lắm
rồi.
Tối
hôm
qua
có
vài
vị
nói
chuyện
về
vấn
đề
phiên
âm
tiếng
Hán,
có
người
đề
cập
đến
khuyết
điểm
này,
có
người
nói
đến
khuyết
điểm
khác,
nhưng
trên
đời
này
thử
hỏi
có
cái
cải
cách
nào
mà
không
có
khuyết
điểm
?
Cái
th́
có
vấn
đề
về
mặt
t́nh
cảm,
cái
th́
về
mặt
lư
luận.
Nếu
anh
muốn
100
%
không
có
vấn
đề
th́
trên
đời
này
làm
ǵ
có
được
cái
chuyện
quái
dị
đó.
V́
tinh
thần
nhà
Nho
vốn
bảo
thủ
nên
có
lần
một
vị
hoàng
đế
triều
Tống
hỏi
Tư
Mă
Quang:
" Có
nhất
định
cần
cải
cách
không?
Ví
như
cứ
giữ
được
luật
pháp
của
Tiêu
Hà
từ
triều
Tây
Hán
mà
không
thay
đổi
ǵ
có
được
không?
" Tư
Mă
Quang
đáp:
"
Đương
nhiên
là
được,
bởi
v́
có
quá
nhiều
kẻ
ngông
cuồng,
bọn
hiếu
sự
cứ
muốn
sửa
đổi
lăng
nhăng
chỉ
tổ
tạo
dịp
may
cho
đạo
tặc
hoành
hành.
Nếu
không
muốn
thay
đổi
ǵ
th́
những
phong
tục
tốt
đẹp
từ
thời
Nghiêu
Thuấn
cũng
có
thể
giữ
đến
ngày
nay
".
Tư
Mă
Quang
là
một
kiện
tướng
trong
giới
quan
trường
thời
bấy
giờ.
Cái
loại
sâu
mọt
hại
nước,
hại
dân
này
là
một
trở
lực
cực
lớn
cho
sự
tiến
bộ
của
Trung
Quốc.
Lúc
vừa
lên
Tể
tướng,
việc
đầu
tiên
Tư
Mă
Quang
làm
là
xóa
sạch
toàn
bộ
những
luật
pháp
mới
của
Vương
An
Thạch,
gồm
cả
đạo
luật
rơ
ràng
mười
phần
hiệu
quả
về
cách
tuyển
người
(Mộ
dịch
pháp).
Tô
Đông
Pha
và
con
của
Phạm
Trọng
Yêm
là
Phạm
Thuần
Nhân
đều
đứng
ra
phản
đối.
Tư
Mă
Quang
liền
trở
mặt
ngay
với
họ.
Điều
này
cho
thấy
ở
thời
đại
Bạn
Cước
Thạch
bọn
quan
trường
chẳng
kể
thị
phi,
chẳng
nghĩ
đến
lợi
ích
nhân
dân,
chẳng
trung
thành
ǵ
với
nguyên
thủ
quốc
gia,
mà
chỉ
trung
thành
với
lợi
ích
bản
thân.
Tư
Mă
Quang
thật
ra
cũng
chẳng
phải
là
một
nhà
chính
trị
ǵ
cả,
bất
quá
chỉ
là
một
tên
quan
trường
dơ
bẩn
thế
thôi.
Điểm
thứ
năm
:
Vấn
đề
cuối
cùng
tôi
muốn
nói
là
cái
tác
hại
của
nạn
dân
số
quá
đông.
Cứ
sau
các
cuộc
nội
chiến,
thay
đổi
triều
đại
là
dân
số
nổ
bùng.
Thế
rồi
cái
ṿng
luẩn
quẩn
bi
thảm
lại
bắt
đầu
:
chiến
tranh,
tàn
sát,
tử
vong.
Có
người
bảo
cái
đất
Mỹ
sướng
quá,
mức
sống
cao
thế
!
Không
biết
các
vị
có
chú
ư
một
điều
là
dân
số
Mỹ
chỉ
có
260
triệu
người.
Giả
sử
dân
số
Mỹ
tăng
lên
một
tỷ
người
hoặc
tất
cả
dân
Trung
Quốc
lại
dọn
sang
Mỹ ở
th́
t́nh
h́nh
sẽ
ra
sao
?
Vấn
đề
dân
số
là
một
vấn
đề
nguy
ngập.
Nếu
Trung
Quốc
muốn
trở
nên
giàu
mạnh
tất
phải
liều
mạng
giảm
dân
số.
Có
câu
nói
"
Nhiều
người
th́
làm
băng
băng,
ít
người
th́
ăn
bánh
ḿ
hấp
" (một
loại
bánh
rẻ
nhất).
Thời
xưa
th́
có
thể
như
thế
thật
nhưng
thời
nay
th́
không.
Người
nhiều
quá
chỉ
tổ
thất
nghiệp.
Một
trăm
người
làm
chẳng
bằng
một
cái
điện
năo
(máy
vi
tính).
Câu
" ít
người
th́
ăn
bánh
ḿ
hấp
" là
một
chân
lư
đă
lỗi
thời.
Thu
nhập
gia
đ́nh
nuôi
hai,
ba
đứa
con
th́
c̣n
đủ
để
duy
tŕ
một
mức
sống
tương
đối
khá.
Nhưng
nếu
chẳng
may
không
để ư
mà
có
200
đứa,
th́
lấy
ǵ
mà
nuôi
chúng
nó ?
Tiền
ăn,
ở,
tiền
học,
tiền
quần
áo,...
lấy
đâu
ra ?
Trung
Quốc
người
quá
đông,
nghèo
khổ
quá
lớn,
quan
trường
quá
mạnh,
cạnh
tranh
quá
khắc
nghiệt,
những
lư
do
này
sinh
ra
nơi
người
Trung
Quốc
cái
hiện
tượng
bẩn,
loạn
, ồn,
xâu
xé
lẫn
nhau.
Người
Trung
Quốc
có
câu
"
Khí
thế
hung
hăng
" (lai
thế
hung
hung)
để
nói
việc
chúng
ta
không
biết
đối
xử
với
nhau
một
cách
có
lễ
độ.
Lúc
tôi
ở
Los
Angeles
(Los
Angeles)
có
người
hỏi
tôi
cảm
tưởng
về
nước
Mỹ.
Tôi
bảo
nước
Mỹ
là
một
nước
trọng
lễ
nghĩa.
Lại
hỏi
thế
Trung
Quốc
có
phải
là
một
nước
trọng
lễ
nghĩa
không
?
Tôi
cho
là
Trung
Quốc
là
một
nước
tuyệt
đối
không
trọng
lễ
nghĩa.
Người
Trung
Quốc
thật
thô
lỗ,
hầu
như
lúc
nào
cũng
chuẩn
bị
sẵn
một
đ̣n
để
đánh
phủ
đầu
đối
phương.
Các
vị
chắc
chắn
có
thể
thấy
người
Trung
Quốc
rất
ít
cười.
Phải
chăng
v́
quá
nhiều
hoạn
nạn,
đau
khổ,
sầu
năo
quá
lâu
làm
cho
họ
không
thể
cười
nổi
nữa
?
Cho
nên
tôi
mới
thấy
dân
Mỹ
thật
là
rất
vui
sướng,
ít
nhất
đó
là
nước
Mỹ
mà
tôi
gặp,
tôi
tiếp
xúc.
Một
nước
rất
hạnh
phúc,
lương
thiện,
hay
giúp
đỡ
người
khác.
So
sánh
với
người
Mỹ
th́
người
Trung
Quốc
lúc
nào
cũng
lo
âu,
ḷng
đầy
những
ư
tưởng
hận
thù,
chỉ
sợ
người
khác
làm
cho
ḿnh
thiệt
hại.
Trong
cuộc
sống
lúc
nào
cũng
lo
ngay
ngáy,
đôi
mắt
để
tự
vệ
lúc
nào
cũng
sẵn
sàng
long
lên
ṣng
sọc.
Có
người
nói
ở Mỹ
người
ta
kỳ
thị
chủng
tộc.
Dĩ
nhiên
là
có,
nhưng
sự
thật
là
không
phải
chỉ
riêng
ở Mỹ.
ở
nước
nào
mà
không
có
kỳ
thị
chủng
tộc
?
Nhưng
ít
nhất
nước
Mỹ
cũng
c̣n
bao
dung
chúng
ta,
không
những
bao
dung
con
người
mà
c̣n
dung
túng
cả
những
cái
bất
lịch
sự,
dơ
bẩn,
hỗn
loạn,
ồn
ào
và
sự
xâu
xé
lẫn
nhau
của
chúng
ta
nữa.
Đấy
là
những
điều
tôi
đă "
khảo
sát
"
được
khi
đến
Mỹ.
Tôi
rất
tâm
đắc
và
nói
ra
thành
thực
không
dấu
diếm.
C̣n
những
ưu
điểm
của
chúng
ta,
không
cần
nhắc
lại
làm
ǵ,
v́
có
nói
đi
nói
lại
nó
vẫn
c̣n
đó,
không
nói
nó
cũng
chẳng
đi
đâu
mất.
Tôi
chỉ
nhắc
đến
khuyết
điểm
để
chúng
ta
có
thể
tự
phản
tỉnh.
Những
khuyết
điểm
này
vô
cùng
nghiêm
trọng.
Cái
hũ
tương
văn
hóa
của
chúng
ta
chứa
đựng
biết
bao
vấn
đề
phức
tạp.
Phải
làm
sao
bây
giờ
?
Tôi
xin
có
vài
ư
kiến
sau
đây
:
Những
vấn
đề
này
-
nếu
là
vấn
đề -
th́
đối
với
chúng
ta
cái
phản
ứng
đầu
tiên
như
một
con
người
là
phải
tự
ḿnh
t́m
ṭi,
suy
nghĩ.
Từ
mấy
ngh́n
năm
nay,
toàn
những
người
khác
-
thánh
nhân,
các
quan
lớn
hoặc
những
loại
người
như
thế
- đă
thay
chúng
ta
suy
nghĩ.
Tự
ḿnh,
chúng
ta
thấy
không
cần
suy
nghĩ
hoặc
không
dám
suy
nghĩ
xem
nên
làm
thế
nào
mới
đúng.
Người
Trung
Quốc
tựa
hồ
cứ
như
kẻ
có
nhu
cầu
luyện
tập
cho
ḿnh
thành
người
ngốc
đi.
Sau
khi
báo
chí
Đài
Bắc
đăng
tin
con
trai
tỷ
phú
Rockefeller
(Rốc-cơ-phê-lơ)
đi
thám
hiểm
New
Guinea
(Tân
Ghi-ne)
bị
thổ
dân
ăn
thịt,
tức
th́
có
nhiều
người
bảo
: "
Có
phúc
mà
không
biết
hưởng,
ḿnh
mà
như
nó
th́
đi
Ghi-nê
làm
khỉ
ǵ !
"
Khi
ở
Phoenix
(Phê-nic)
tôi
trú
chân
lại
nhà
một
gia
đ́nh
Mỹ
khoảng
năm,
sáu
ngày.
Con
gái
chủ
nhà
tên
là
Margaret
(Ma-ga-rét),
16
tuổi
đă
đi
Honduras
(Ôn-đu-rát)
để
dậy
cho
người
bản
xứ
hiểu
được
cách
giữ
ǵn
đôi
mắt.
Tŕnh
độ
vệ
sinh
ở
nước
này
c̣n
tệ
hơn
ở
Trung
Quốc
nữa,
nghĩa
là
một
nơi
rất
bẩn.
Thế
mà
đúng
lúc
tôi
ở đó
th́
cô
ta
về
nhà,
kể
chuyện
cho
mẹ
nghe,
mặt
mày
hớn
hở
bảo
rằng
sang
năm
cô
sẽ
lại
đi
nữa,
v́
cô
thấy
cần
giúp
đỡ
những
người
nghèo
và
lạc
hậu
ở
nơi
đó.
Mẹ
cô
không
những
đồng
ư mà
c̣n
khích
lệ
cô.
Người
Trung
Quốc
chúng
ta
có
lẽ
sẽ
nghĩ
rằng
nếu
là
ḿnh
chắc
chẳng
cần
đi
đến
cái
nơi
khỉ
ho
c̣
gáy
đó
làm
ǵ.
Nhưng
người
mẹ ở
nước
Mỹ
kia
lại
ca
ngợi
con
gái
ḿnh,
cho
rằng
con
gái
ḿnh
có ư
thức,
có
ḷng
tốt,
biết
tỏ
ra
có
thể
xả
thân
v́
người
khác,
và
v́
vậy
rất
lấy
làm
hănh
diện.
Thật
ra
đối
với
tôi
bà
ta
cũng
chẳng
có
nhu
cầu
khoe
khoang
cái
ḷng
tốt
của
cô
con
gái
làm
ǵ.
Mà
tôi
cũng
không
thể
cho
cô
ta
làm
quan
hay
tiền
bạc
ǵ
cả.
Dưới
mắt
của
bà
ta
chẳng
qua
tôi
cũng
chỉ
là
thành
viên
của
một
dân
tộc
lạc
hậu
mà
thôi.
Cái
động
cơ
trong
thâm
tâm
người
mẹ
ấy
chỉ
là
ḷng
chân
thành.
Trong
những
hoàn
cảnh
tương
tự
người
Trung
Quốc
lúc
nào
cũng
sẽ
quá
thông
minh.
Bởi
tôi
nghĩ
rằng
trên
thế
giới
này
không
dân
tộc
nào,
kể
cả
dân
tộc
Do
Thái,
có
thể
thông
minh
như
kiểu
người
Trung
Quốc
được.
Nếu
một
đối
một,
người
Trung
Quốc
tất
phải
thắng.
Nhưng
nếu
từ
hai
trở
đi,
người
Trung
Quốc
không
thể
nào
không
thua,
bởi
tựa
hồ
như
thiên
tính
của
người
Trung
Quốc
là
không
đoàn
kết
được
với
nhau.
ư
nghĩa
của
đoàn
kết
là
mỗi
người
đều
phải
hy
sinh
một
phần
quyền
và
lợi
của
ḿnh.
Ví
dụ,
có
hai
vật
h́nh
tṛn
muốn
dính
sát
lại
với
nhau
th́
phải
gọt
ra
thành
hai
h́nh
vuông
bé
hơn
một
tư.
Nhưng
chả
ai
muốn
ḿnh
bị
gọt
cả,
chỉ
muốn
người
khác
bị
gọt
thôi,
kết
cục
làm
sao
đoàn
kết
được
?
Người
Trung
Quốc
thông
minh
đến
mức
nào
?
Đến
độ
khi
bị
đem
đến
ḷ
sát
sinh,
c̣n
cố
c̣
kè
về
giá
cả
của
ḿnh,
nếu
kiếm
thêm
được
vài
đồng
th́
chết
rất
hả
hê.
Cái
kiểu
thông
minh
quá
cỡ
này
nhất
định
sẽ
thành
kiểu
ích
kỷ
quá
cỡ.
ở
Trung
Quốc
người
nào
mà
không
suy
nghĩ
một
cách
ích
kỷ,
cư
xử
một
cách
ích
kỷ
đều
bị
chế
diễu
là
ngu
ngốc.
Người
Trung
Quốc
không
khoan
dung,
hễ
ai
có
tâm
địa
tốt,
rộng
lượng
với
người
khác,
tán
dương
người
khác
đều
bị
chửi
là
đồ
ngốc.
Có
người
tát
anh
mà
anh
lại
phản
kháng,
có
người
phạm
pháp
mà
anh
lại
can
ngăn
th́
anh
đúng
là
ngốc.
Hễ
cứ
làm
một
việc
mạo
hiểm
để
sau
đó
không
thể
làm
quan,
hoặc
không
thể
phát
tài,
là
mọi
người
đương
nhiên
cho
anh
là
thằng
ngốc.
Tôi
cho
rằng
để
cứu
dân
tộc
ḿnh,
mỗi
người
Trung
Quốc
cần
có
ít
nhiều
cái
ngốc
đó,
nếu
không
rồi
cũng
sẽ
dần
ṃn
suy
đồi
như
dân
da
đỏ.
Tục
ngữ
có
câu
: "
Người
không
ích
kỷ
th́
trời
tru
đất
diệt
" (nhân
bất
tự
tư,
thiên
tru
địa
diệt),
nghĩa
là
ai
mà
không
ích
kỷ
th́
bị
người
khác
xem
là
không
có
cách
ǵ
cứu
chữa
được.
Chúng
ta
không
thể
nào
tự
ḿnh
bắt
đầu,
không
cần
dựa
vào
chính
phủ
hoặc
người
khác
mà
vào
chính
bản
thân
ḿnh
để
làm
một
vài
điều
mà
mọi
người
cho
là
ngốc
nghếch
chăng
?
Để
kết
luận,
tôi
cho
rằng
chúng
ta
đừng
nên
làm
cho
cái
quan
hệ
con
người
trở
thành
phức
tạp.
Phải
bắt
đầu
bằng
sự
rèn
luyện
bản
thân
ḿnh,
con
cái
ḿnh.
Ví
dụ
trẻ
con
ở Mỹ
được
mẹ
chúng
dạy
cách
thu
dọn,
lau
chùi
bàn
ăn,
vứt
rác
vào
thùng
sau
khi
ăn
xong.
Những
thứ
giáo
dục
đó
phải
bắt
đầu
từ
bản
thân,
bắt
đầu
từ
tấm
bé.
Sự
huấn
luyện
này
phải
bắt
đầu
như
một
khởi
điểm
cũng
như
một
lịch
tŕnh.
Người
Trung
Quốc
có
rất
nhiều
đức
tính,
nhưng
đáng
tiếc
chúng
chỉ
ở
trên
sách
vở.
Bây
giờ
chúng
ta
mong
rằng
chúng
sẽ
xuất
hiện
trên
hành
động.
Hăy
thử
xem
chúng
ta
có
làm
nổi
hay
không
?
Tôi
xin
dứt
lời
v́
đă
lạm
dụng
quá
nhiều
th́
giờ
của
quư
vị,
xin
thứ
lỗi
và
xin
chỉ
giáo.
Phần
thảo
luận:
Thính
giả
:
Ông
vừa
nói
đến
chế
độ
phong
kiến
dày
xéo
nhân
quyền,
cụ
thể
trong
thời
nhà
Minh.
Thực
ra
t́nh
h́nh
phương
Tây
th́
có
khác
ǵ ?
Tôi
nghĩ
văn
hóa
hóa
Tây
phương
cũng
trải
qua
những
thử
thách
của
thời
đại
quân
chủ
chuyên
chế
như
vậy,
nhưng
tại
sao
họ
lại
có
thể
đẻ
ra
được
quan
niệm
nhân
quyền
và
chủ
nghĩa
tự
do
mà
Trung
Quốc
cho
đến
ngày
nay
vẫn
không
làm
được
?
Bá
Dương
:
Rất
tiếc
tôi
không
thể
trả
lời
vấn
đề
này.
Cứ
cho
rằng
chúng
ta
không
thể
hiểu
được
v́
sao
người
phương
Tây
lại
ăn
bằng
dao
nĩa
mà
người
Trung
Quốc
lại
ăn
bằng
đũa.
Văn
hóa
phát
triển
dần
từng
bước,
hai
nền
văn
hóa
này
từ
thuở
xa
xưa
không
có
ǵ
dính
dáng
với
nhau,
không
có
khả
năng
ảnh
hưởng
lẫn
nhau,
mỗi
cái
phát
triển
theo
mô
h́nh
riêng
của
nó.
Sinh
hoạt
của
từng
cá
nhân
và
vận
mệnh
của
mỗi
dân
tộc
thường
bị
những
yếu
tố
rất
lớn
hoặc
đôi
khi
rất
nhỏ
làm
chuyển
đổi
phương
hướng.
Nhưng
chúng
ta
lại
không
hiểu
cái
nhân
tố
lớn,
nhỏ
ấy
là
cái
ǵ
và ở
đâu.
Thính
giả
:
Những
điều
ông
vừa
nói
làm
chúng
tôi
cảm
thấy
buồn
về
cái
thời
trẻ
tuổi
lạc
quan
của
chúng
tôi.
Tôi
thuộc
vào
thế
hệ
những
người
lớn
lên
sau
chiến
tranh,
và
từ
trước
đến
giờ
tôi
vẫn
cho
rằng
thế
hệ
chúng
tôi
từ
cách
suy
nghĩ
cho
đến
nếp
sống
xă
hội
đều
nhất
nhất
không
giống
thế
hệ
đàn
anh.
Nói
ví
dụ,
hiện
giờ
tôi
không
làm
quan
chức
ǵ,
nhưng
biết
đâu
có
một
ngày
nào
đó
tôi
lại
chẳng
có
một
chức
vị,
để
rồi
chỉ
có
quan
tính
mà
mất
nhân
tính.
Nhưng
dù
có
rơi
vào
trường
hợp
đó,
tôi
tin
rằng
cái
quan
tính
của
tôi
so
sánh
với
quá
khứ
vẫn
ít
hơn
một
tư,
mà
nhân
tính
nhiều
hơn
một
tư.
Tuy
nhiên
hôm
nay
ông
nói
vậy,
tôi
lại
thấy
không
giống
cách
nghĩ
của
tôi.
Bá
Dương
:
Tôi
nghĩ
tôi
chỉ
nói
lên
sự
thực
lịch
sử.
Nhưng
v́
thời
đại
và
hoàn
cảnh
vẫn
đổi
thay,
giáo
dục
tiến
triển,
có
thể
ngày
nay
rồi
sẽ
không
như
thế
nữa.
Vả
lại
tôi
tin
tưởng
vào
sự
thành
tâm
của
anh
và
tin
rằng
anh
sẽ
làm
được
chuyện
ấy.
Thính
giả
:
Tôi
vẫn
thấy
cách
giải
thích
của
ông
khác
tôi.
Bá
Dương
:
Tôi
cần
nhấn
mạnh
thêm
rằng
cái
chuyên
chế
chính
trị
ở
Trung
Quốc
với
cái
chuyên
chế
chính
trị
của
Tây
phương
về
nồng
độ
và
kích
thước
hoàn
toàn
không
giống
nhau.
Tôi
học
sử
phương
Tây
không
nhiều,
nhưng
nếu
đem
so
sánh
th́
chuyên
chế
Trung
Quốc
rất
cực
đoan.
Ở
cung
đ́nh
phương
Tây
chỉ
quỳ
một
gối,
trừ
phi
đối
với
thượng
đế
th́
mới
quỳ
hai
gối.
ở
Trung
Quốc
không
những
phải
quỳ
cả
hai
gối
mà
c̣n
phải
khấu
đầu,
thậm
chí
đập
đầu
xuống
đất
cho
kêu
thành
tiếng
(Khải
hưởng
đầu).
Cuối
đời
nhà
Thanh
có
câu
: "
Đập
đầu
nhiều,
nói
ít "
(Đa
khải
đầu,
thiểu
thuyết
thoại).
Cái
khái
niệm
nội
tại
cùng
tŕnh
độ
của
chuyên
chế
Trung
Quốc
e
rằng
Tây
phương
không
thể
so
sánh
nổi.
Tôi
được
thấy
một
bức
tranh
sơn
dầu
vẽ
Louis
XIV
(Lu-is
XIV)
của
Pháp.
Ông
này
ngồi
giữa,
các
đại
thần
và
hoàng
hậu
ngồi
chung
quanh.
Cái
cảnh
này
không
thể
nào
có ở
Trung
Quốc
được,
các
đại
thần
ở
Trung
Quốc
nhất
định
phải
nơm
nớp
lo
sợ,
lấm
la
lấm
lét
quỳ
mọp
chung
quanh.
Thính
giả
:
Xin
ông
cho
biết
ư
kiến
về
chữ
giản
thể
(chữ
Hán
đơn
giản
hóa,
dùng
ở
lục
địa,
so
với
chữ
cũ
nhiều
nét
vẫn
dùng
ở
Đài
Loan).
Bá
Dương
:
Tôi
tán
thành
chữ
giản
thể,
lại
càng
tán
thành
việc
phải
phiên
âm
tiếng
Trung
Quốc.
Tối
hôm
qua
nhiều
bạn
tụ
tập
nói
chuyện
về
vấn
đề
này,
đại
khái
không
ai
nhất
trí.
Cái
tâm
lư
bị
bế
tắc
của
những
người
phản
đối
chữ
phiên
âm
cần
phải
được
giải
tỏa.
Lấy
ví
dụ,
lúc
gọi
điện
tôi
hỏi
anh
họ
ǵ?
-
Tôi
họ
Lưu!
Chữ
Lưu
này
viết
thế
nào
có
lẽ
trên
điện
thoại
khó
mà
giải
thích
cho
rơ
ràng
được.
Nếu
tôi
bảo
anh
đi
tra
từ
điển,
dĩ
nhiên
không
phải
tra
được
ngay,
tra
đến
lần
thứ
hai,
thứ
ba
vẫn
không
thấy
chắc
phải
nổi
điên
lên.
Ngày
xưa
chúng
ta
trách
cứ
cổ
văn
không
có
dấu
chấm
câu,
không
biết
ngắt
câu
thế
nào
và
hiểu
làm
sao.
Có
ai
đọc
qua
" Sử
đời
Nguyên
"
chưa
?
Tên
Mông
Cổ
như
mớ
ḅng
bong,
dài
ḷng
tḥng
không
biết
là
mấy
người.
Ngày
nay
tuy
đă
có
dấu
chấm
câu,
nhưng
những
khuyết
điểm
lớn
của
cái
loại
chữ
vuông
này
lại
càng
lộ
rơ.
Vấn
đề
đầu
tiên
là
tách
chữ.
V́
tiếng
Trung
Quốc
có
nhiều
từ
ghép,
dù
biết
hết
các
chữ
đơn
ở
trong
câu
cũng
chưa
chắc
đă
hiểu.
Sau
đó
là
không
thể
phiên
âm.
Loại
chữ
vuông
này
thông
thường
chữ
nào
đọc
riêng
chữ
đó,
không
thể
dính
liền
âm
tiết
lại
với
nhau,
nên
phải
phí
rất
nhiều
sức
lực
để
tập
trung
mới
hiểu
được
ư từ
những
âm
tiết
rời
rạc
đó.
Ví
dụ
tôi
nói
"
Tôi
từ
Mă-lai-xi-a
đến
" (Ngă
ṭng
mă
lai
tây
á
lai),
ở
đây
chữ
Malaisia
phải
liên
âm
và
cách
âm
với
chữ
lai
sau
đó.
Nếu
không
" Mă
lai
" (ngựa
đến),
"
Tây
á
lai
" (Tây
á
đến),
và
nếu
có
em
bé
nào
lại
lấy
tên
là
Tây
á
th́
câu
nói
này
lại
thành
vấn
đề
lớn.
Ngày
nay
máy
chữ,
điện
năo
(máy
tính
điện
tử)
đánh
nhanh
biết
bao,
tôi
chỉ
sợ
rằng
cái
thứ
chữ
vuông
này
không
thể
nào
bắt
kịp
bước
tiến.
Tôi
chỉ
mơ
ước
có
được
một
cái
máy
đánh
chữ
tiếng
Trung
Quốc
để
khỏi
phải
ngày
ngày
làm
cái
loại
động
vật
ḅ
lên
trang
giấy.
Nhưng
phiên
âm
tiếng
Trung
Quốc
không
phải
dễ,
chủ
yếu
v́
cái
trở
ngại
tâm
lư
nơi
chúng
ta,
v́
chúng
ta
cho
rằng
dùng
ABCD
là
dùng
mẫu
tự
tiếng
Anh,
chữ
phiên
ra
là
tiếng
Anh.
Kỳ
thực
không
phải
như
vậy.
Chúng
ta
phải
hiểu
là
chữ
ABCD
này
là
mẫu
tự
Trung
văn.
Chữ
phiên
ra
là
chữ
Hoa,
không
đến
nỗi
có
cảm
giác
nhục
nhă
v́
bị
đồng
hóa.
Đúng
vậy,
nó
là
tiếng
Trung
Quốc,
tiếng
Hoa
chứ
không
phải
tiếng
Anh,
tiếng
Đức.
Nếu
dùng
ABCD
mà
lại
thành
tiếng
Anh
th́
người
Đức,
người
Pháp
có
thể
tức
chết
được.
Văn
tự
hoàn
toàn
là
công
cụ,
giống
như
cái
xe,
anh
mua
nó
th́
nó
là
của
anh,
ai
mua
nó
th́
nó
là
của
người
đó.
Kỳ
thực
nếu
chúng
ta
dùng
văn
tự
phiên
âm
ngay
hôm
nay,
người
chết
đói
đầu
tiên
sẽ
là
tôi
v́
tôi
đang
dùng
cái
loại
chữ
vuông
này
để
kiếm
cơm.
Nhưng
tôi
cảm
thấy
sinh
mệnh
của
riêng
ḿnh
rất
ngắn
ngủi,
những
lư
do
chính
trị
cũng
rất
ngắn
ngủi,
chỉ
có
văn
hóa
dân
tộc
là
quan
trọng,
rất
quan
trọng.
Nhất
là
các
vị
tại
Mỹ,
các
vị
có
thể
thấy
con
cháu
đời
thứ
hai
nói
được
tiếng
Trung
Quốc
mà
không
viết
được.
Khó
như
thế
th́
làm
sao
mà
dậy
chúng
?
Cứ
như
chữ
Quốc
( )
[
nước
]
viết
thế
nào
?
Muốn
biết
nó
chỉ
có
cách
học
thuộc
ḷng,
không
có
phương
pháp
nào
khác.
Ngay
cả
lúc
trẻ
con
gào
lên
: "
Tôi
ghét
tiếng
Trung
Quốc!
" mà
chúng
ta
vẫn
c̣n
chưa
thức
tỉnh
sao?
Chúng
ta
không
thể
làm
cho
những
khó
khăn
trên
đường
tiến
bước
của
Trung
Quốc
tăng
thêm,
không
thể
tự
xích
tay,
cùm
chân
được.
Tại
sao
lại
phải
sống
cho
quá
khứ,
cho
tổ
tiên
thay
v́
sống
cho
con
cháu
ḿnh?Nếu
chỉ
v́
phiên
âm
mà
rồi
không
đọc
được
sách
cổ
nữa
th́
cũng
chả
sao.
Hiện
giờ
chưa
phiên
âm
mà
anh
đọc
cũng
đă
chẳng
hiểu
rồi
c̣n
ǵ !
Việc
quá
khứ,
việc
tổ
tiên,
chúng
ta
có
thể
nhờ
một
số
người
để
chuyên
đi
quét
dọn
miếu
đường.
Chúng
ta
phải
v́
con
cháu,
v́
thế
hệ
sau
này,
v́
tương
lai
của
nước
nhà
và
dân
tộc.
Một
ngày
nào
đó,
nếu
tiếng
Trung
Quốc
bỗng
nhiên
trở
thành
tiếng
quốc
tế,
chắc
chắn
nó
không
thể
phổ
cập
được
trừ
phi
dùng
phiên
âm.
Hôm
nay
tôi
nhai
đi
nhai
lại
những
khuyết
điểm
của
Trung
Quốc
chắc
có
người
nghe
bị
mất
tinh
thần.
Nhưng
tôi
thấy
rằng
cần
như
vậy,
v́
nếu
cứ
lải
nhải
khoe
khoang
những
ưu
điểm,
đức
hạnh,
sự
thông
minh
của
ḿnh,
rồi
sẽ
chẳng
c̣n
ai
tôn
trọng
ḿnh
nữa,
v́
chính
ḿnh
đă
không
tôn
trọng
ḿnh
ǵ
cả.
Các
bạn
nên
biết,
những
hoạn
nạn
của
người
Trung
Quốc,
không
phải
là
chỉ
của
riêng
người
Trung
Quốc
mà
c̣n
là
của
cả
thế
giới.
Một
chiếc
thuyền
nhỏ
ch́m
th́
không
sao,
một
chiếc
tầu
lớn
bị
ch́m
có
thể
cuốn
theo
vào
ṿng
xoáy
nước
của
nó
những
chiếc
thuyền
nhỏ
xung
quanh.
Tại
sao
Nhật
Bản
lại
đến
xâm
lược
chúng
ta ?
Chính
v́
sự
yếu
đuối
của
chúng
ta
đă
dụ
dỗ
họ
ra
tay.
Chúng
ta
phải
tự
cứu
lấy
ḿnh.
Điều
đầu
tiên
để
tự
cứu
là
phải
biết
được
những
khuyết
điểm
của
ḿnh.
Nếu
không
tự
biết
những
khuyết
điểm
của
ḿnh
th́
chẳng
khác
ǵ
suốt
ngày
chỉ
nghĩ
đến
những
chuyện
đắc
ư,
chỉ
sợ
rồi
cũng
như
Giả
Bảo
Ngọc
(một
nhân
vật
trong
Hồng
Lâu
Mộng)
suốt
ngày
luẩn
quẩn
với
những
ư
tưởng
dâm
dật.
Thính
giả
:
Tôi
thường
nghe
được
hai
câu
này
- "
Dĩ
bất
biến
ứng
vạn
biến
"
(Lấy
sự
không
thay
đổi
để
ứng
phó
với
mọi
thay
đổi),
và
câu
"
Báo
thiện
bất
báo
ưu "
(Đáp
lại
bằng
điều
thiện,
không
đáp
lại
bằng
sự
lo
buồn).
Bá
Dương
:
Đối
với
câu
" Dĩ
bất
biến
ứng
vạn
biến
"
th́
tôi
không
dám
có ư
kiến
ǵ,
c̣n
câu
"
Báo
thiện
bất
báo
ưu "
tôi
cho
rằng
đấy
chỉ
là
một
đặc
trưng
của
giới
quan
trường.
Thính
giả
(người
Mỹ)
:
Hôm
nay
h́nh
như
ông
chỉ
nói
về
khuyết
điểm
của
người
Trung
Quốc,
tôi
muốn
xin
ông
cũng
nói
về
những
cái
xấu
của
người
Mỹ.
Qua
những
sách
ông
đọc,
những
việc
ông
nh́n,
ông
thấy
được
những
điều
ǵ
nước
Mỹ
cần
phải
học
hỏi
ở
năm
ngh́n
năm
lịch
sử
Trung
Quốc
?
Bá
Dương
: Về
những
điều
xấu
của
nước
Mỹ,
chính
người
Mỹ
đă
nói
lên
nhiều
rồi,
đó
là
chỗ
tôi
rất
khâm
phục.
V́
nước
Mỹ
có
cái
khả
năng
tự
cân
đối,
tự
phản
tỉnh
và
tự
điều
chỉnh.
Tự
ḿnh
có
chỗ
sai
trái
đều
dám
tự
nói
ra,
tự
ḿnh
có
thể
tiếp
thu,
đánh
giá.
Đấy
là
những
điểm
mà
người
Trung
Quốc
chúng
tôi
không
có
được.
Dĩ
nhiên
nước
Mỹ
không
phải
mười
phần
toàn
mỹ,
v́
trên
thế
giới
này
chưa
có
ǵ
như
vậy,
mà
nước
Mỹ
nếu
như
vậy
chỉ
sợ
rồi
nó
sẽ
xơ
cứng
mất.
Thính
giả
:
Lúc
ở
đại
học
tôi
có
đọc
qua
vài
tác
phẩm
của
ông,
tôi
rất
thích
cái
ng̣i
bút
châm
chọc,
cay
chua,
mỉa
mai
những
điều
không
hợp
lư
trong
xă
hội.
Hôm
nay,
được
nghe
ông
nói
về
những
khuyết
điểm
của
người
Trung
Quốc,
tôi
rất
cảm
động
mà
cũng
rất
khổ
tâm,
chán
nản,
buồn
rầu.
Nhưng
tôi
cho
rằng
cũng
giống
như
một
con
bệnh,
nếu
đă
biết
ḿnh
bị
bệnh
tất
phải
t́m
cách
cứu
chữa,
thuốc
thang.
Tôi
không
biết
trong
các
tác
phẩm
của
ông
có
những
ǵ
mách
bảo
chúng
tôi
làm
chuyện
đó ?
Ngoài
ra
tôi
muốn
ông
nói
một
tư
về
t́nh
h́nh
trên
văn
đàn
Đài
Loan,
giới
thiệu
cho
chúng
tôi
những
tác
giả
và
những
tác
phẩm
hay.
Bá
Dương
:
Tôi
xin
nói
về
vấn
đề
thứ
hai
trước.
Trần
ánh
Chân,
Vương
Tháp,
Tam
Mao,
Ai
Quỳnh
Quỳnh,
Trần
Minh
Bàn,
Dương
Thanh
toàn
là
những
nhà
văn
hạng
nhất.
Tôi
không
đọc
được
nhiều
v́
ngồi
tù
mắt
bị
yếu
đi,
đọc
chữ
bé
quá
không
được,
mà
sách
báo
Đài
Loan
chữ
quá
bé.
Vấn
đề
này
có
lẽ
phải
xin
nhà
tôi
đáp
hộ.
Nói
đến
khuyết
điểm,
đến
bệnh
t́nh
của
người
Trung
Quốc,
tôi
biết
các
bạn
rất
buồn
và
tôi
cũng
rất
buồn.
Bởi
v́
trước
kia
tôi
toàn
nghe
nói
đến
những
vinh
quang
của
Trung
Quốc,
như
kiểu
Chu
Nguyên
Chương
là
một
vị
anh
hùng
dân
tộc.
Sau
này
tôi
mới
khám
phá
ra
rằng
không
phải
vậy.
Trong
lúc
những
người
khác
chiến
đấu
với
quân
Mông
Cổ,
th́
y ở
tại
hậu
phương
mở
rộng
địa
bàn
của
ḿnh,
đánh
triệt
hậu
những
người
khác
để
chiếm
đất,
cuối
cùng
cướp
chính
quyền,
hoàn
toàn
tính
toán
cho
ư đồ
riêng
tư,
chờ
cho
mọi
người
khác
đánh
xong
quân
Mông
Cổ.
Người TQ Xấu Xí
|