|
Phần
3
Sóng Dữ Vỗ Bờ
1.
Cái
Vại
Tương,
Một
Biểu
Tượng
Của
Căn
Bệnh
Văn
Hóa
Trung
Quốc
Phàm
người
Trung
Quốc
nào
c̣n
quan
tâm
đến
tiền
đồ
tổ
quốc
đều
có
thể
nghĩ
đến
một
vấn
đề
căn
bản
sau
đây
:
tại
sao
Trung
Quốc
(từ
1842
đến
1949)
lại
yếu
thế
? Mỹ,
Nhật
tại
sao
lại
mạnh
thế
?
Diện
tích
của
Trung
Quốc
rất
lớn
(đứng
thứ
nh́
trên
thế
giới
chỉ
sau
Liên-xô),
người
lại
rất
đông
(vào
bậc
nhất
thế
giới),
tài
nguyên
tương
đối
phong
phú.
Thêm
vào
đó,
lại
có
một
nền
văn
hóa
mà
một
số
người
tự
hào
là
lâu
đời
tới
5.000
năm.
Đáng
lư
Trung
Quốc
phải
là
một
quốc
gia
vào
hạng
mạnh
nhất
thế
giới
mới
đúng.
Nhưng
sự
thực
lại
không
phải
như
vậy.
Từ
Chiến
tranh
Nha
phiến
(1840),
bị
các
cường
quốc
liên
tục
đến
xâu
xé,
Trung
Quốc
phải
cắt
đất
bồi
thường,
chỉ
tư
nữa
là
đă
bị
phân
chia.
Đối
với
câu
hỏi
trên,
chỉ
có
hai
cách
trả
lời
:
Thứ
nhất
:
Đầu
óc
và
sức
lực
của
người
Trung
Quốc
tồi
quá.
Thứ
hai
:
Cái
văn
hóa
truyền
thống
của
Trung
Quốc
có
vấn
đề.
Đối
với
cái
khả
năng
thứ
nhất,
có
hai
cách
giải
thích
không
giống
nhau.
Cách
thứ
nhất
là:
đầu
óc,
sức
lực
người
Trung
Quốc
tồi
quá.
Có
lẽ
họ
chỉ
khá
hơn
rợ
Hung-nô,
Đột-quyết
và
người
da
đen
ở
Phi
Châu
ngày
hôm
nay
(chứ
không
phải
ngày
mai),
nhưng
chắc
chắn
là
thua
người
Mỹ,
Anh,
Pháp,
Nga,
Nhật.
Cách
giải
thích
thứ
hai
:
trí
lực
của
tổ
tiên
người
Trung
Quốc
rất
khá,
ít
nhất
cũng
tài
giỏi
ở
mức
độ
huy
hoàng
của
những
đời
Hán,
Đường.
Nhưng
bất
hạnh
thay,
cái
trí
lực
ấy
càng
ngày
càng
kiệt
quệ,
đời
sau
không
bằng
đời
trước,
sau
vài
trăm
năm
đă
biến
thành
một
dân
tộc
của
những
thằng
ngu.
Giả
sử
đúng
là
trí
lực
của
chúng
ta
quá
tồi,
chúng
ta
phải
chấp
nhận
nó
như
thế
thôi.
Nhưng
ai
đă
dậy
chúng
ta
không
biết
tự
ḿnh
phấn
đấu
nhỉ
?
Căn
cứ
trên
"
Định
luật
sinh
tồn
-
mạnh
được
yếu
thua
"
th́
một
đất
nước
bị
biến
thành
cái
loại
"
thuộc
địa
hạng
bét
"
như
thế
bởi
v́
nó
xứng
đáng
như
thế.
Nếu
nói
ngược
lại,
giả
sử
không
phải
v́
trí
lực
của
chúng
ta
có
vấn
đề,
nhưng
v́
cái
văn
hóa
của
chúng
ta
có
vấn
đề,
th́
tiền
đồ
của
chúng
ta
c̣n
có
thể
khá
được,
nhưng
chúng
ta
phải
biết
tự
sửa
ḿnh,
can
đảm
vứt
cái
gánh
nặng
văn
hóa
ấy
đi
mới
được.
Chúng
ta
vừa
nói
qua
khả
năng
thứ
nhất
(trí
lực
có
vấn
đề),
đó
là
một
khả
năng
trên
mặt
lư
luận,
nhưng
không
tồn
tại
trong
thực
tế.
Bởi
v́
không
có
một
người
Trung
Quốc
nào
thừa
nhận
rằng
trí
lực
của
dân
tộc
Trung
Quốc
chúng
ta
lại
thấp
kém.
Đấy
không
phải
là
một
vấn
đề
cảm
tính
hoặc
v́
muốn
tự
thổi
phồng
ḿnh
lên,
nhưng
một
vấn
đề
trên
mặt
lư
luận
có
chứng
cớ,
không
thể
phủ
nhận.
Những
chứng
cớ
này
là
ǵ ?
Ta
có
thể
nh́n
thấy
trong
hai
sự
kiện
sau
:
1-
Phần
đóng
góp
của
người
Hoa
vào
công
cuộc
phát
triển
kinh
tế ở
Đông-Nam-á.
2-
Những
thành
tựu
về
học
thuật
của
người
Hoa
tại
Mỹ,
những
thành
quả
này
làm
cho
người
da
trắng
vốn
đầy
tự
tôn
mặc
cảm
cũng
phải
thừa
nhận
rằng
trí
tuệ
cá
nhân
người
Hoa
cao.
Nhưng
họ
cũng
biết
người
Hoa
không
đoàn
kết,
không
hợp
tác
với
nhau,
chống
đối
nhau
một
cách
kịch
liệt
và
không
phát
huy
được
sức
mạnh
tập
đoàn.
Ông
Bá
Dương
trong
tập
"
Đến
chết
không
nhận
lỗi
" đă
đưa
ra
một
cách
giải
thích
tuyệt
vời
về
vấn
đề
của
người
Hoa
chúng
ta :
Một
người
đến
thỉnh
giáo
một
vị
cao
tăng,
hỏi
về
kiếp
trước
và
kiếp
sau
của
ḿnh.
Vị
cao
tăng
đáp
bằng
mấy
câu
thơ
sau
:
Muốn
biết
kiếp
trước
thế
nào
Cứ
xem
ḿnh
sống
ra
sao
kiếp
này
Đầu
thai
rồi
thế
nào
đây
Hăy
nh́n
vào
việc
hiện
nay
đang
làm
Bá
Dương
lại
c̣n
than
rằng
: "
Mấy
câu
danh
ngôn
này
làm
cho
tôi
liên
tưởng
đến
cái
văn
hóa
5.000
năm
của
chúng
ta
".
Muốn
biết
cái
văn
hóa
này
tốt
hay
xấu,
không
phải
cứ
vùi
đầu
vào
nghiên
cứu
cái
đống
giấy
cũ,
mà
phải
mở
to
mắt
nh́n
những
tội
nợ
mà
chúng
ta
đang
phải
chịu
hôm
nay
th́
may
ra
mới
rơ
được.
Vấn
đề
th́
rơ
ràng
có
rồi,
mà
cũng
có
thể
nói
rằng
đó
là
vấn
đề
văn
hóa.
Vậy
phải
đi
thêm
một
bước
nữa
để
t́m
cách
phân
tích
nó.
Ông
Tôn
Quang
Hán,
một
người
rất
ngưỡng
mộ
ông
Bá
Dương,
trong
bài
"
Hoàn
cảnh
và
đất
đai
" có
viết:
"
Nguyên
nhân
tại
sao
Trung
Quốc
không
thể
xây
dựng
được
một
quốc
gia
cường
thịnh
? Đó
không
phải
vấn
đề
bẩm
sinh,
nhưng
một
vấn
đề
sau
khi
sinh.
Nếu
dùng
ngôn
ngữ
của
người
làm
ruộng
để
nói
th́
đó
không
phải
là
vấn
đề "
giống
" mà
là
vấn
đề "
đất
".
Đối
với
thực
vật,
đất
là
thổ
nhưỡng,
thủy
phân,
không
khí,
ánh
sáng
mặt
trời,
v.v...;
đối
với
một
dân
tộc,
đất
là
hoàn
cảnh,
tập
tục
của
nhân
tính
nói
chung.
Cho
đến
nay
thực
sự
chúng
ta
chưa
sinh
sản
được
những
loại
cây
tốt.
Nguyên
nhân,
nếu
không
do
hạt
giống,
th́
nhất
định
phải
v́
đất
đai,
hoàn
cảnh,
có
ǵ
đó
không
thích
hợp
cho
những
giống
cây
này
sinh
trưởng.
Trong
văn
hóa
và
tập
tục
5.000
năm
của
Trung
Quốc,
ngoài
phần
tốt
ra
cũng
có
phần
xấu.
Phần
xấu
này
là
mảnh
đất
nơi
hạt
giống
kia
không
thể
lớn
lên
được.
Cái
phần
văn
hóa,
tập
tục
rộng
lớn,
xấu
xa
này
đúng
như
ông
Bá
Dương
gọi
một
cách
đơn
giản
và
tóm
lược
là
cái
"
vại
tương
".
Tôi
thấy
Lỗ
Tấn
tiên
sinh
đă
sáng
tạo
ra
cái
" A
Q ",
Lư
Tông
Ngô
tiên
sinh
lại
sáng
tạo
ra
cái
"
Hậu
hắc
",
sau
đó
Bá
Dương
tiên
sinh
c̣n
sáng
tạo
ra
cái
" hũ
tương
",
ba
thứ
này
đều
chí
lư
cả,
chẳng
khác
nào
ba
chân
của
một
cái
đỉnh.
Nếu
nói
" A
Q "
đă
vạch
trần
"
nhân
tính
"
của
người
Trung
Quốc,
"
Hậu
hắc
" đă
tố
giác
cái
"
quan
tính
"
của
người
Trung
Quốc,
th́
" Hũ
tương
"
tựa
hồ
như
gốc
gác
của
hai
thứ
trên.
Tại
sao
có "
A Q
"?
Chính
do
cái
" Hũ
tương
" mà
ra!
Thế
th́
cái
" Hũ
tương
"
đây
là
ǵ,
và
có
ǵ ở
trong
đó ?
Định
nghĩa
của
ông
Bá
Dương
như
sau
:
"
Một
xă
hội
hỗn
độn
bị
sâu
ruỗng
và
tù
hăm,
lại
bị
loại
chính
trị
nô
tài
thao
túng,
đạo
đức
què
quặt,
nhân
sinh
quan
cá
nhân,
đồng
tiền
và
thế
lực
làm
vua.
Một
xă
hội
như
thế
làm
cho
linh
tính
con
người
chỉ
có
xơ
cứng
và
tiêu
tan
đi
thôi
".
Ông
Bá
Dương
c̣n
nói
tất
cả
các
thứ
trong
hũ
tương
ấy
lại
đẻ
ra
những
hiện
tượng
khác
như
: "
sự
sùng
bái
quyền
thế
một
cách
mù
quáng
", "
tính
ích
kỷ
chắc
như
gông
cùm
", "
ngôn
ngữ
bịp
bợm
", "
mê
đắm
những
xác
chết
", "
bất
hợp
tác
", "
tàn
nhẫn
và
đố
kỵ
một
cách
lạnh
lùng,
trắng
trợn
", "
làm
phách
và
ngớ
ngẩn
".
Trước
khi
nói
về
những
sản
phẩm
của
hũ
tương,
tôi
xin
được
nói
thêm
vài
câu,
v́
một
khi
tràng
giang
đại
hải
về
hũ
tương
rồi
sợ
không
thể
quay
trở
lại
được
nữa.
Một
số
người
yêu
nước
nghĩ
rằng
Trung
Quốc
phải
giầu
mạnh.
Không
ai
có
thể
phủ
nhận
điều
đó.
Nhưng
làm
thế
nào
để
giàu
mạnh
mới
là
vấn
đề.
Chẳng
lẽ
cứ
phô
trương
cái
sẹo
của
tổ
tiên
ra?
Cứ
trách
cứ
tổ
tiên
phỏng
có
ích
ǵ?
Chẳng
lẽ
cứ
trách
cứ
tổ
tiên
cho
đă
đời,
rồi
th́
quốc
gia
sẽ
giầu
mạnh
lên
chăng
?
Tôi
cho
rằng
làm
như
thế
không
phải
là
thượng
sách.
Dân
tộc
Trung
Quốc
là
một
dân
tộc
bị "
bệnh
",
năm
tháng
càng
dài
th́
bệnh
càng
nặng.
Cái
bệnh
này
bắt
nguồn
từ
thời
Hán
Vũ
Đế
sùng
đạo
Nho,
lại
càng
bị
nặng
thêm
với
những
thứ
kỳ
quặc
như
khoa
cử,
như
Lư
học
thời
Minh,
Tống,
làm
cho
dân
tộc
Trung
Quốc
hầu
như
bị
tiêu
tan
hết
linh
tính,
chỉ
c̣n
thoi
thóp
sống
mà
thôi.
Những
đối
thủ
ngày
trước
như
Hung
- Nô,
Đột
-
Quyết,
Khiết
-
Đan,
Tây
- Hạ
thực
ra
có
một
nền
tảng
văn
hóa
quá
thấp,
nên
không
tránh
khỏi
bị
Hán
hóa.
Ngay
cả
sau
này
Mông
Cổ
và
Măn
Thanh
chỉ
chinh
phục
được
chúng
ta
trên
mặt
vơ
lực,
c̣n
trên
mặt
văn
hóa
lại
bị
chúng
ta
chinh
phục
lại.
Những
chiến
thắng
về
văn
hóa
này
làm
cho
chúng
ta
vốn
mắc
bệnh
mà
không
hề
biết.
Cho
đến
khi
nhà
Thanh
bị
ép
buộc
phải
mở
cửa
cho
Tây
phương
chúng
ta
mới
gặp
phải
đối
thủ
lợi
hại
mà
chúng
ta
chưa
bao
giờ
gặp
trước
kia.
Lúc
đó,
cái
trạng
thái
bệnh
tật
nọ
mới
bị
lộ
tẩy
ra
ngoài.
Một
dân
tộc
mắc
"
bệnh
"
cũng
giống
như
một
cá
nhân,
nếu
không
chữa
cho
hết
bệnh
th́
không
có
cách
nào
khá
lên
được.
Dù
dân
chủ,
dù
khoa
học,
mà
ngay
cả
đến
những
thứ
thuốc
bổ
nhất
thiên
hạ
cũng
chẳng
có
ích
ǵ
cho
một
người
bị
bệnh
đường
ruột
và
dạ
dày
quá
nặng.
Muốn
chữa
được
bệnh
trước
hết
phải
t́m
cho
ra "
căn
bệnh
".
Không
thể
v́
sợ
thuốc
hoặc
sợ
đau
mà
giấu
bệnh
được.
Nếu
cần,
dẫu
phải
cưa
tay
cưa
chân
cũng
kiên
quyết
làm,
dù
phải
cắt
bỏ
dạ
dày,
thay
thận
cũng
không
tiếc.
Cần
phải
có
cái
dũng
khí
như
thế
mới
có
khả
năng
cải
tử
hoàn
sinh
được.
Vấn
đề
cốt
lơi
ở
đây
là
phải
khiêm
tốn
kiểm
thảo
căn
bệnh
văn
hóa
lâu
đời
này.
"
Căn
bệnh
"
này
của
dân
tộc
Trung
Quốc
xét
cho
cùng
là
ǵ ?
Lỗ
Tấn,
Lư
Tông
Ngô,
Bá
Dương,...
trước
sau
đều
đă
chỉ
rơ.
Nhưng
"
thuốc
thang
"
thế
nào
cho
khỏi
?
Vấn
đề
trị
bệnh
này
c̣n
lớn
hơn
việc
nêu
rơ
tên
bệnh,
song
cơ
hồ
các
vị
đó
chưa
thấy
ai
đề
cập
đến
cho
chúng
ta.
Nhưng
nếu
suy
nghĩ
kỹ
ta
có
thể
thấy
cái
" ư
tại
ngôn
ngoại
"
của
họ.
Dường
như
trước
tiên
họ
muốn
chúng
ta
cùng
tham
khảo
để
thấy
rơ
từng
chứng
bệnh
một,
liệt
kê
ra
từng
nguyên
nhân
của
căn
bệnh.
Để
rồi
sau
đó
người
Trung
Quốc
-
những
ai
c̣n
biết
suy
nghĩ
-
từng
người
một
nh́n
vào
những
bệnh
chứng
này
mà
suy
xét,
cái
nào
xấu
th́
bỏ
đi,
cái
nào
không
xấu
th́
giữ
lại.
Nếu
những
người
có
ḷng
này
càng
ngày
nhiều,
"
cái
bỏ
đi "
và "
cái
giữ
lại
"
càng
ngày
càng
lớn.
Như
thế,
tất
chẳng
mấy
chốc
cái
bệnh
lâu
đời
đó
của
dân
tộc
Trung
Quốc
sẽ
không
thuốc
mà
tự
lành.
Cái
này
có
lẽ
sẽ
dính
dáng
đến
vấn
đề "
biết
dễ,
làm
khó
"
hoặc
"
biết
khó,
làm
dễ "
mà ở
đây
chúng
ta
không
bàn
đến.
Trong
bài
"
Đến
chết
không
nhận
lỗi
" (ở
tập
"
Đập
vỡ
hũ
tương
")
có
đoạn
như
sau:
" Có
kẻ
cho
rằng
người
Trung
Quốc
bản
thân
không
xứng
đáng,
cho
nên
mới
để
cho
nước
nhà
ra
nông
nỗi
này.
Không
những
không
biết
tự
trách
móc
ḿnh,
mà
trái
lại,
họ
c̣n
tức
tối,
đi
trách
cứ
tổ
tiên
cái
này
không
đúng,
cái
nọ
không
đúng,
làm
họ
phải
chịu
hậu
quả.
Thay
v́
xây
dựng
một
giang
sơn
tốt
đẹp
để
họ
được
hưởng
phúc
lộc
th́
tổ
tiên
để
lại
cho
họ
một
đất
nước
như
thế
".
Đối
với
cách
nói
ấy,
ông
Bá
Dương
đă
trả
lời
:
"
Điều
này
chả
khác
chuyện
cha
với
con.
Nếu
con
khá
giả,
thông
minh
linh
lợi,học
qua
được
đại
học,
thế
mà
đời
lại
hỏng
th́
đương
nhiên
không
thể
trách
cứ
được
bố
nó ;
mà
nó
chỉ
có
thể
tự
trách
ḿnh
không
xứng
đáng.
Nhưng
nếu
như
đứa
con
từ
khi
sinh
ra
đă
bị
vi
trùng
lậu
làm
cho
hỏng
mắt,
lại
bị
di
truyền
làm
cho
dở
điên
dở
khùng,
ngớ
ngớ
ngẩn
ngẩn,
lang
thang
đầu
đường
xó
chợ
xin
ăn
kiếm
sống
th́
cái
trách
nhiệm
của
nó
quá
nhỏ.
Nếu
nó
có
mở
mồm
trách
bố
nó
tại
sao
lại
mắc
bệnh
phong
t́nh,
trách
mẹ
nó
v́
sao
không
chữa
khỏi
bệnh
đi,
th́
chúng
ta
cũng
không
thể
nhẫn
tâm
bắt
nó
im
mồm
được
".
Các
sản
phẩm
của
cái
hũ
tương
mà
ông
Bá
Dương
đă
nói
đương
nhiên
không
nhất
thiết
cái
nào
cũng
hoàn
toàn
đúng,
nhưng
ít
nhất
cũng
có
một
phần
không
sai.
Văn
chương
ông
Bá
Dương
xưa
nay
vốn
mạch
lạc
phân
minh,
chỉ
tiếc
lúc
nói
về
những
sản
phẩm
hũ
tương,
hành
văn
lại
hơi
lộn
xộn,
có
lúc
lung
tung
lạc
đề.
Lúc
th́
vụt
một
cái
lộn
trở
lại,
lúc
vụt
một
cái
lại
phóng
đi.
Chúng
tôi
xin
trích
một
phần
giới
thiệu
nhỏ
dưới
đây
- đă
qua
một
lần
chỉnh
lại
theo
nguyên
tắc
giữ
đúng
nguyên
ư
tác
giả
- để
người
đọc
đối
chiếu
với
nguyên
văn
làm
bằng
chứng
:
Sản
phẩm
đầu
tiên
của
hũ
tương
là
sự
sùng
bái
quyền
thế
một
cách
điên
cuồng.
ở
Trung
Quốc
thời
cổ,
người
có
quyền
thế
tối
cao
là
Hoàng
đế.
Đối
với
ông
ta
những
nguyên
tắc
luân
lư
đều
vô
nghĩa.
Thân
thuộc
nhánh
bên
(không
phải
trực
hệ)
ở
trước
mặt
Hoàng
đế
bất
quá
chỉ
là "
thần
",
là "
nô
tài
", (Ví
phỏng
Hoàng
đế
đă
được
tấn
phong,
cho
dù
là
bố
mẹ
cũng
không
được
là
ngoại
lệ).
Đối
với
cái
thứ
tính
cách
oái
oăm
trái
với
luân
lư
này
(quan
tính
lớn
hơn
nhân
tính),
một
loại
đạo
đức
dị
h́nh,
không
những
không
ai
phản
đối
mà
c̣n
cho
là ư
trời,
nghĩa
đất.
Về
mặt
hoang
dâm
trong
đời
sống
cung
đ́nh
th́
những
Hoàng
đế
Tây
phương
c̣n
phải
kém
xa.
Chưa
cần
bàn
đến
cái
" Ba
ngh́n
người
đẹp
trong
hậu
cung
"
của
thời
Đường,
ngay
thời
Chu
vương
triều,
thiên
tử
có
thể
có
tới
121
bà
vợ
một
cách
hợp
pháp.
Theo
"
Nội
tắc
"
trong
" Lễ
kư "
chỉ
để
sắp
xếp
cho
chu
tất
chương
tŕnh
hàng
ngày
của
cái
việc
"
điên
loan
đảo
phụng
",
sao
cho
cả
hơn
trăm
bà
đều
được
thấm
đượm
ơn
mưa
móc
của
nhà
vua
cũng
đă
là
một
điều
khổ
tâm
rồi;
chưa
kể
những
chuyện
ghen
tuông
tranh
giành
giữa
các
bà.
Tất
cả
các
ông
thánh
đối
với
mấy
việc
này
không
những
không
phản
đối,
mà
họ
c̣n
biến
các
loại
"
dâm
đồ "
này
thành
thiên
tử
thánh
thần,
biến
cái
kiểu
"
chơi
loạn
chơi
tạp
"
này
thành
ra
phép
tắc
chính
thức
của
quốc
gia,
xă
hội.
V́
vậy
Bá
Dương
cho
rằng
:
Thánh
nhân
không
những
chỉ
hùa
theo
mà
c̣n
là
đầu
sỏ,
cùng
phạm
tội
với
những
kẻ
có
quyền
và
bọn
dâm
đồ.
Quyền
lực
nào
khác
xăng
dầu,
thánh
nhân
không
những
không
t́m
cách
đề
pḥng
sự
dễ
cháy
của
nó
mà
lại
c̣n
châm
lửa
th́
khi
nó
bốc
lên
làm
sao
mà
dập
được
?
Bá
Dương
cho
là
quyền
lực
của
Hoàng
đế
Tây
phương
luôn
luôn
bị
thành
phần
trí
thức
giới
hạn,
giám
sát.
Nhưng
ở
Trung
Quốc
th́
các
ông
thánh
lại
v́
phe
nắm
quyền
mà
phát
minh
ra
thứ
triết
học
kỳ
quặc
kiểu
như
sau
:
"
Khắp
dưới
gầm
trời
không
có
chỗ
nào
không
là
đất
của
nhà
vua.
Tất
cả
các
kẻ
sĩ
trong
thiên
hạ
có
kẻ
nào
mà
không
phải
là
tôi
của
nhà
vua
".
Th́
ra,
sinh
mạng
tài
sản
của
nhân
dân
đều
do
cái
tên
"
đại
dâm
đồ "
đó
ban
cho.
Chẳng
trách
cái
thằng
chơi
gái
thứ
dữ
đó
cứ
muốn
làm
ǵ
th́
làm.
Khi
sự
tôn
sùng
quyền
thế
là
nền
tảng
của
5.000
năm
văn
hóa
truyền
thống
th́
cái
quan
hệ
giữa
người
và
người
chỉ
có
sự "
kính
và
sợ
",
c̣n
sự "
thương
yêu
"
th́
không
đáng
kể.
Cái
gọi
là "
nhân
"
chỉ
là
thứ
t́m
thấy
trong
sách
vở,
khó
mà
gặp
được
trong
hành
động.
Vả
lại,
chữ
"
nhân
"
này
tựa
hồ
không
có
tính
cách
b́nh
đẳng
của
hai
bên
cùng
được
lợi.
Sùng
bái
quyền
thế
một
cách
tuyệt
đối
đưa
đến
một
nền
chính
trị
nô
tài
và
cái
đạo
đức
dị
h́nh,
không
c̣n
tiêu
chuẩn
về
thị
phi,
chỉ
c̣n
cái
tiêu
chuẩn
vụ
lợi
bất
kể
phải
trái.
Chỉ
c̣n
một
con
đường
là
tiền
tài,
phú
quư,
công
danh.
Mọi
người
đều
phải
gọt
đầu
cho
nhọn
để
liều
mạng
chui
vào
chỗ
quan
trường.
Chỉ
cần
tôi
có
thể
làm
quan
th́
bắt
tôi
làm
ǵ
tôi
cũng
làm.
Như
Đào
Uyên
Minh
-
không
v́
năm
hộc
thóc
mà
uốn
cong
lưng
-
th́
có
được
mấy
người
?
"
Mười
năm
tân
khổ
"
chẳng
v́
nghiên
cứu
phát
minh,
chẳng
v́
viết
sách
lập
thuyết,
chẳng
v́
bôn
ba
cách
mạng,
mà
chỉ
v́ "
một
ngày
thành
danh
". "
Thành
danh
" ở
đây
có
nghĩa
là
làm
quan
vậy.
Xưa
nay,
việc
làm
quan
hấp
dẫn
người
ta
như
điên
cuồng
cũng
bởi
v́:
1-
Có
quyền
trong
tay,
dù ở
cấp
bực
nào
(tùy
quan
lớn
nhỏ)
cũng
muốn
ǵ
được
nấy.
2-
Được
mọi
người
sùng
bái.
3-
Học
vấn
trở
thành
uyên
bác
(Đối
với
người
Tây
phương
:
tri
thức
là
quyền
lực.
Đối
với
người
Trung
Quốc
:
quyền
lực
là
tri
thức).
4-
Tài
sản
được
gia
tăng
(Người
Tây
phương
lấy
buôn
bán
làm
nguồn
gốc
của
sự
giàu
sang.
Người
Trung
Quốc
trọng
sĩ,
khinh
thương;
lại
bị
ảnh
hưởng
của
cái
" Hà
tất
viết
lợi
"
của
Mạnh
Tử).
Sở
dĩ
mồm
không
nói
đến
lợi,
nhưng
trong
bụng
lại
nghĩ
đến
lợi
một
cách
sống
chết,
v́
thế
mới
làm
quan
để
vơ
vét.
Chuyện
tên
đạo
tặc
khét
tiếng
Trịnh
Chúng
đời
Nam
Tống,
sau
khi
quy
hàng
được
bổ
làm
quan,
bị
đồng
liêu
coi
rẻ,
y
tức
ḿnh
bèn
có
thơ
rằng
:
"
Các
vị
làm
quan
để
ăn
trộm,
Trịnh
Chúng
ăn
trộm
mới
làm
quan
! "
(Các
vị
tố
quan
hựu
tố
tặc,
Trịnh
Chúng
tố
tặc
tài
tố
quan)
Đúng
là
một
câu
nói
toạc
móng
heo
cái
việc
làm
quan
!
Tôn
thờ
quyền
thế
quá
độ -
không
cần
nói
đến
trường
hợp
chính
trị,
học
thuật
-
ngay
cả
đến
t́nh
hữu
nghị
giữa
người
với
người
cũng
biến
chất,
biến
thành
thiển
cận,
thành
thế
lợi.
2.
Làm
Sao
Sửa
Chữa
Cái
Bệnh
Đến
Chết
Cũng
Không
Nhận
Lỗi
Nhà
văn
Đài
Loan
nổi
tiếng
Bá
Dương
đang
đến
thăm
nước
Mỹ,
trong
bài
diễn
thuyết
hôm
qua
tại
đây
ông
có
nói
rằng
dân
tộc
Trung
Quốc
sở
dĩ
ngă
một
lần
mà
không
dậy
được
nữa
chủ
yếu
v́
cái
tính
"
đến
chết
cũng
không
nhận
lỗi
".
Cách
nh́n
này
của
ông
Bá
Dương
tuy
chỉ
là
một
sự
thực
hiển
nhiên
-
không
phải
một
phát
hiện
ǵ
mới
-
nhưng
không
phải
v́
thế
mà
không
là
một
phán
đoán
rất
sâu
sắc.
Chúng
ta
hăy
thử
nghĩ
xem
:
những
chính
sách
lừa
nước
hại
dân,
khư
khư
cố
chấp
của
mấy
chục
năm
gần
đây
ở
Trung
Quốc
có
phải
v́
cái
tính
đến
chết
cũng
không
nhận
lỗi
ấy
mà
ra
sao
? Cứ
cho
dù
không
phải
hoàn
toàn
đúng
như
thế,
nhưng
trên
thực
tế
cũng
chẳng
sai
là
bao
nhiêu.
Và
nếu
ta
nh́n
rộng
ra
th́
việc
giữ
thể
diện,
việc
đến
chết
không
nhận
lỗi
cũng
chỉ
là
bản
tính
thông
thường
của
toàn
nhân
loại,
là
khuyết
điểm
của
tất
cả
các
dân
tộc
và
cộng
đồng.
Kinh
thánh
của
đạo
Cơ
đốc
nói
mỗi
người
có
hai
cái
túi.
Cái
túi
đằng
trước
chứa
các
lỗi
lầm
của
kẻ
khác,
cái
túi
đằng
sau
lưng
chứa
lỗi
lầm
của
ḿnh.
Nói
cách
khác,
con
người
ta
chỉ
thích
nói
đến
những
chỗ
không
hay
của
kẻ
khác
mà
không
thích
nói
thật
về
cái
sai
của
ḿnh.
Từ
2.000
năm
trước
cũng
đă
thế
rồi,
đến
chết
không
nhận
lỗi
đă
là
cái
bệnh
chung
của
con
người
chứ
không
cứ
chỉ
của
riêng
người
Trung
Quốc.
Cái
tính
của
con
người
vốn
đều
như
vậy.
Nhưng
sao
các
quốc
gia
phương
Tây
lại
bỗng
tiến
bộ
vượt
bậc
về
các
mặt
chính
trị
kinh
tế,
văn
hóa,
c̣n
người
Trung
Quốc
lại
như
thế?
Có
ǵ
mâu
thuẫn
ở
đây
chăng?
Theo
ư
tôi
câu
trả
lời
cho
việc
này
có
liên
quan
đến
vấn
đề
chế
độ
chính
trị.
Nếu
mỗi
người
đều
có
hai
cái
túi,
cái
đằng
trước
đựng
các
lỗi
lầm
của
người,
cái
đằng
sau
đựng
các
lỗi
lầm
của
ḿnh,
th́
mỗi
người
đúng
ra
phải
đem
những
cái
ǵ
trong
cái
túi
ở
sau
lưng
ḿnh
mà
bỏ
vào
cái
túi
ở
đằng
trước
của
người
khác
để
có
thể
xem
cho
tỏ
tường.
V́
nếu
như
mọi
người
đều
đồng
ư mở
cái
túi
ở
đằng
trước
ḿnh,
công
bố
toàn
bộ
tất
cả,
th́
những
cái
sai
lầm
trong
cái
túi
ở
đằng
sau
của
mọi
người
tất
nhiên
cũng
phải
lộ
ra,
không
có
cách
ǵ
dấu
được,
chối
được.
Chế
độ
này
gọi
là
tự
do
ngôn
luận,
chính
nó
là
dân
chủ.
Tự
do
ngôn
luận,
dân
chủ
là
một
thứ
linh
đan
rất
hiệu
nghiệm
để
chữa
chứng
bệnh
"
Đến
chết
cũng
không
nhận
lỗi
".
Trái
lại,
nếu
không
có
dân
chủ,
kẻ
có
quyền
thế
sẽ
bịt
mồm
những
kẻ
thấp
cổ
bé
họng;
bọn
có
quyền
thế
lúc
ấy
chỉ
nh́n
thấy
cái
túi
của
bọn
không
có
quyền
kia
ở
trước
mặt
chúng
mà
thôi.
C̣n
bọn
chúng
lại
bịt
kín
cái
túi
chứa
lỗi
lầm
của
chúng
lại.
Không
được
nói
đến,
các
lỗi
lầm
của
những
kẻ
nắm
quyền
sẽ
vĩnh
viễn
không
lộ
ra
ngoài,
và
v́
thế
cũng
không
bao
giờ
có
cơ
hội
để
được
sửa
sai.
Cho
đến
lúc
cái
sai
lầm
này
trở
thành
quá
lớn
th́
toàn
bộ
xă
hội
sẽ
mắc
phải
tai
ương.
Các
quốc
gia
Tây
phương
có
sai
lầm
không
?
Đương
nhiên
là
có,
và
nhiều
cái
sai
lầm
cũng
chẳng
phải
nhỏ
ǵ.
Ví
dụ
sự
bóc
lột
giai
cấp
thợ
thuyền
trong
thời
kỳ
đầu
của
chủ
nghĩa
tư
bản,
sự
áp
bức
các
dân
tộc
bị
trị
dưới
chế
độ
thuộc
địa
trong
thời
kỳ
đầu
của
chủ
nghĩa
đế
quốc.
Đó
đều
là
những
lỗi
lầm
to
lớn.
Nhưng
v́
họ
có
dân
chủ
nên
không
đi
bịt
mồm
mọi
người.
V́
vậy
ngay
tại
Luân
Đôn,
Các-Mác
vẫn
có
thể
mở
Đại
hội
Cộng
sản
Quốc
tế
đầu
tiên,
phát
biểu
Tuyên
ngôn
Cộng
sản
mà
không
bị
cấm
đoán
- đó
là
một
dẫn
chứng
không
thể
phản
bác.
Cho
nên,
dưới
các
chế
độ
tự
do
dân
chủ,
những
lỗi
lầm
của
họ
không
ngừng
được
đưa
ra
ánh
sáng,
và
nhờ
thế
không
ngừng
được
sửa
sai.
-
Quốc
hội
được
thành
lập,
các
pháp
chế
bảo
vệ
quyền
lợi
công
nhân
đă
ra
đời,
đời
sống
công
nhân
được
cải
thiện
rất
nhiều.
Sau
đó,
những
bài
học
của
hai
trận
Đại
chiến
Thế
giới
cũng
đă
đưa
đến
cơ
hội
độc
lập
cho
các
thuộc
địa.
Khổng
Tử
tán
dương
vua
Vũ
rằng
: "
Văn
quá
tắc
hỷ "
(Nghe
được
lỗi
lầm
của
ḿnh
th́
rất
mừng);
lại
nói:
"
Thánh
nhân
chi
quá,
như
nhật
nguyệt
kinh
thiên
" (Sự
sai
lầm
của
thánh
nhân
như
mặt
trời
và
mặt
trăng
đi
qua
trên
bầu
trời),
ư
nói
những
người
b́nh
thường,
v́
khác
với
thánh
nhân,
mới
đi
dấu
diếm
những
lỗi
lầm
của
ḿnh.
Khổng
Tử
tuy
hy
vọng
mỗi
người
b́nh
thường
đều
trở
thành
thánh
nhân,
nhưng
lại
không
hề
đưa
ra
được
phương
pháp
tu
thân
cụ
thể
nào
khả
dĩ
áp
dụng
được
trong
thực
tế
để
đạt
đến
mục
đích.
Trong
khi
đó,
người
phương
Tây
lại
nghĩ
ra
cách
dùng
chế
độ
dân
chủ
biến
mỗi
người
làm
chính
trị
trở
thành
một
ông
thánh,
hoặc
ít
nhất
cũng
có
khả
năng
trở
thành
ông
thánh
trong
việc
xử
lư
những
sai
lầm
của
ḿnh
khi
nắm
quyền.
-
V́ "
Như
mặt
trời
và
mặt
trăng
đi
qua
trên
bầu
trời
",
tất
cả
mọi
người
ai
cũng
đều
nh́n
thấy,
nên
không
thể
nào
có
sai
lầm
mà
không
chịu
sửa
chữa.
Cứ
thử
nghĩ
cho
kỹ
ta
sẽ
thấy
cái
công
dụng
của
chế
độ
này
to
lớn
là
nhường
nào
!
Từ
chuyện
này
chúng
ta
có
thể
rút
ra
một
kết
luận
:
Nếu
chúng
ta
muốn
mỗi
người
đều
tự
giác
nhận
lỗi
của
ḿnh,
dù
chẳng
phải
để
trở
thành
thánh
cả,
th́
chỉ
có
một
phương
pháp
duy
nhất
là
thực
hành
dân
chủ.
Dân
chủ
làm
cho
mỗi
người
không
thể
dấu
diếm
lỗi
lầm
của
ḿnh,
tự
nhiên
có
thể
sửa
đổi
được
cái
tính
"
Đến
chết
cũng
không
nhận
lỗi
"
kia.
Cho
nên
nếu
hỏi
Trung
Quốc
cần
ǵ,
cầu
ǵ,
th́
chỉ
có
một
thứ
duy
nhất
mà
thôi,
đó
là
dân
chủ.
3
-
Năng
lực
suy
luận
bị
trục
trặc
Nhân
bài
diễn
thuyết
của
ông
Bá
Dương
về
việc
người
Trung
Quốc
"
đến
chết
cũng
không
nhận
lỗi
",
hôm
qua
trong
mục
xă
luận
chúng
tôi
đă
nói
rơ
là
để
sửa
chữa
chứng
bệnh
này
chúng
ta
không
nên
hy
vọng
vào
sự "
tự
ḿnh
tỉnh
ngộ
"
nơi
mỗi
cá
nhân
con
người.
Kỳ
vọng
vào
sự
tỉnh
ngộ
của
một
cá
nhân
chẳng
khác
nào
như
bảo
rằng
: "
Mọi
người
ai
cũng
là
Nghiêu
Thuấn
cả !
" Đó
là
chuyện
nằm
mơ
giữa
ban
ngày.
Chúng
ta
chỉ
có
thể
sửa
đổi
chế
độ
chính
trị,
dùng
áp
lực
của
chế
độ
bắt
những
người
không
tự
nguyện
sửa
đổi
lỗi
lầm
không
c̣n
đường
tránh
né,
không
sửa
không
được.
Chỉ
có
cách
giải
quyết
đó
mới
thích
đáng.
Nói
đến
những
khuyết
điểm
của
người
Trung
Quốc,
chúng
ta
lại
liên
tưởng
tới
một
vấn
đề
khác,
đó
là
cái
lô-gíc
của
người
Trung
Quốc.
Có
thể
nói
so
với
cái
lô-gíc
của
người
phương
Tây
th́
cái
lô-gíc
của
người
Trung
Quốc
kém
hẳn
một
bậc.
Mỗi
một
dân
tộc
đều
có
cái
ưu
và
khuyết
điểm
của
nó.
Cái
năng
lực
về
trực
giác
của
người
Trung
Quốc
có
thể
nói
là
đứng
vào
hạng
nhất
thế
giới,
Tây
phương
cũng
không
thể
sánh
kịp.
Điều
này
thật
rơ
qua
những
phát
minh
ra
la-bàn
(Kim
chỉ
Nam),
thuốc
súng,
v.v...
Người
Trung
Quốc
bằng
trực
giác
đă
có
thể
t́m
ra
những
thứ
này
trước
bất
kỳ
quốc
gia
nào
cả
vài
trăm
năm
hoặc
cả
ngh́n
năm.
Nhưng
người
Trung
Quốc
vẫn
chưa
từng
sáng
tạo
được
khoa
luận
lư
học.
V́
vậy,
tuy
chế
tạo
ra
la-bàn,
thuốc
súng,
nhưng
lại
chẳng
hiểu
ǵ
về
nguyên
lư
khoa
học
của
chúng.
Thậm
chí
ngay
đến
cả
thời
nay
Trung
Quốc
cũng
không
có
khoa
lô-gíc
học
như
một
bộ
môn
khoa
học.
Thế
mà
Tây
phương
từ
rất
sớm
- ở
thời
đại
A-ri-xtốt
- đă
t́m
ra
những
nguyên
lư
của
lô-gíc
học
và
sử
dụng
nó
như
một
công
cụ.
Ông
Bá
Dương
đơn
cử
những
ví
dụ
để
nói
lên
chuyện
người
Trung
Quốc
đến
chết
cũng
không
nhận
lỗi.
Kỳ
thực
người
Trung
Quốc
đă
thấy
tầm
quan
trọng
của
điều
này
từ
lâu
rồi.
Hơn
2.000
năm
trước
Khổng
Tử
đă
thành
khẩn
khuyên
răn
: "
Quá
như
năng
cải,
thiện
mạc
đại
yên
" (Không
có
việc
ǵ
lớn
lao
hơn
là
biết
sửa
chữa
lỗi
lầm
của
ḿnh).
Nhưng
phương
pháp
mà
Khổng
Tử
đề
xuất
là
mỗi
người
phải
học
theo
Nghiêu
Thuấn,
đó
là
một
phương
pháp
giải
quyết
bằng
trực
giác.
Đương
nhiên,
nếu
mọi
người
đều
có
thể
biến
thành
Nghiêu
Thuấn
th́
c̣n
ǵ
bằng.
Nhưng
đáng
tiếc
rằng
sự
thực
lại
không
thể
nào
như
thế
được.
Cho
nên
cái
phương
pháp
biến
mọi
người
thành
Nghiêu
Thuấn
rốt
cuộc
chẳng
khác
nào
là
không
có
phương
pháp.
Kết
quả
là
sau
2.000
năm
đề
xướng
cũng
đă
chẳng
biến
được
thêm
một
kẻ
nào
thành
Nghiêu
Thuấn
cả.
Nếu
người
Trung
Quốc
biết
vận
dụng
lô-gíc
để
suy
nghĩ
th́
đă
t́m
ra
được
chế
độ
dân
chủ
từ
lâu,
đă
dùng
được
tự
do
ngôn
luận
để
sửa
đổi
những
lầm
lạc
của
các
kẻ
thống
trị.
Dưới
chế
độ
dân
chủ
của
nước
Mỹ,
Nixon
phạm
một
cái
lỗi
nhỏ
là
muốn
ăn
cắp
các
văn
kiện
của
đảng
đối
lập,
kết
quả
bị
tờ
Bưu
báo
Hoa-Thịnh-Đốn
(Washington
Post)
tố
giác,
muốn
che
đậy
mà
không
che
đậy
nổi,
rốt
cuộc
buộc
phải
từ
chức
Tổng
Thống.
Cho
nên
dưới
chế
độ
dân
chủ
không
có
cách
nào
giấu
được
những
sai
lầm,
có
lỗi
tất
phải
chịu
trách
nhiệm,
không
sửa
chữa
không
được.
Ngược
lại,
ở
Trung
Quốc
lục
địa
dưới
chế
độ
độc
đảng
chuyên
chế,
trận
động
đất
lớn
tại
Đường
Sơn
(1976)
phải
đến
bao
nhiêu
năm
sau
này
chúng
ta
mới
biết
được
đă
có
bao
nhiêu
người
bị
thiệt
mạng
!
Trong
tai
vạ
mười
năm
do
bọn
" Tứ
nhân
bang
" (Bè
lũ
bốn
tên)
gây
ra,
số
người
chết
oan
trong
toàn
quốc
có
đến
bao
nhiêu
triệu.
Nếu
bọn
" Tứ
nhân
bang
"
không
bị
tan
ră
và
bị
xử
tội,
có
lẽ
đến
ngày
hôm
nay
chúng
ta
vẫn
c̣n
bị
lừa
bịp
bởi
cái
"
Bất
đoạn
đấu
tranh
luận
" (Thuyết
đấu
tranh
không
ngừng)
do
Mao
Trạch
Đông
nghĩ
ra
và
nói
rằng
dùng
nó
để
xây
dựng
thiên
đường
cho
nhân
dân
Trung
Quốc.
Những
chế
độ
không
dân
chủ,
tức
không
có
chân
lư,
tức
không
thể
sửa
đổi
lỗi
lầm,
điều
này
chẳng
phải
đă
rơ
như
ban
ngày
ư ?
Thế
mà
cho
đến
hôm
nay
vẫn
c̣n
nhiều
người
Trung
Quốc
tin
rằng
những
kẻ
thống
trị
sẽ
tự
động
biến
thành
Nghiêu
Thuấn,
không
cần
có
quyền
lực
khác
để
chế
ngự
và
xét
đoán,
không
cần
có
dân
chủ
để
giám
sát,
lại
cũng
không
cần
có
cả
tự
do
ngôn
luận
để
tố
cáo
!
Điều
này
chẳng
phải
đă
chứng
minh
rằng
người
Trung
Quốc
không
có
một
tư
ǵ
đầu
óc
lô-gíc
ư ?
Bất
cứ
kẻ
thống
trị
nào
cũng
đều
ghét
cay
ghét
đắng
dân
chủ,
bởi
v́
nếu
có
dân
chủ
tức
th́
họ
sẽ
bị
dân
chủ
tước
bỏ
tất
cả
những
đặc
quyền.
Điều
kỳ
quái
là ở
Trung
Quốc
có
nhiều
kẻ
cũng
hùa
theo
tập
đoàn
thống
trị
mà
rêu
rao
rằng
: "
Dân
chủ
Tây
phương
là
dân
chủ
của
giai
cấp
tư
sản,
đó
là
một
chế
độ
phản
động
" ;
mà
nghịch
lư
thay
những
kẻ
bị
thống
trị
này
lại
chẳng
có
ǵ
để
mất
v́
chế
độ
dân
chủ,
cái
đầu
óc
lư
luận
của
họ
quả
t́nh
bị
trục
trặc
ǵ
đó.
Điều
này
là
một
khuyết
điểm
rất
đáng
lo
ngại
của
người
Trung
Quốc
chúng
ta.
4
-
Nhảy
ra
khỏi
hũ
tương
Ông
Bá
Dương,
nhà
phê
b́nh
xă
hội
rất
nổi
tiếng
ở
Đài
Loan
một
thời,
có
một
ng̣i
bút
hài
hước
chứa
chất
chua
cay;
cơn
thịnh
nộ
và
lời
chửi
mắng
của
ông
thường
bắt
người
ta
suy
nghĩ
và
lo
âu.
Văn
ông
tiêu
biểu
cho
loại
văn
phê
b́nh
ra
đời
sau
khi
Trung
Quốc
thoát
khỏi
ách
của
thời
đế
chế.
Ông
từng
ngồi
tù
mười
năm
- có
thể
nói
đấy
cũng
là
vận
mệnh
của
một
nhà
phê
b́nh
xă
hội
giữa
thời
văn
hóa
và
chính
trị
chưa
chuyển
ḿnh.
Hăy
xếp
lại
một
bên
cảnh
ngộ
của
ông,
và
mặc
dù
có
thể
làm
cho
những
người
yêu
quư
ông
mếch
ḷng,
chúng
ta
hăy
từ
góc
độ
lịch
sử
thử
b́nh
luận
về
những
phương
thức
lập
luận
của
ông
trong
bối
cảnh
phê
b́nh
xă
hội
Trung
Quốc
cận
đại
xem
nó
như
thế
nào.
Hôm
trước
ông
Bá
Dương
lấy
đề
tài
là:
"
Người
Trung
Quốc
và
cái
hũ
tương
" để
diễn
giảng
tại
New
York.
Đương
nhiên
" Hũ
tương
"
không
phải
là
một
khái
niệm
duy
nhất
mà
ông
nghĩ
ra,
nhưng
v́
từ
trước
đến
nay
ông
vẫn
dùng
nó
để
giải
thích
những
hiện
tượng
bệnh
hoạn
của
xă
hội
Trung
Quốc,
nên
ở
đây
chúng
tôi
mới
lấy
nó
làm
đối
tượng.
" Hũ
tương
"
được
dùng
làm
một
phép
ẩn
dụ
tuyệt
vời.
Bởi
v́
đó
là
một
h́nh
tượng
rất
gần
gũi
đời
thường,
làm
cho
thoáng
một
cái,
trong
ḷng,
trước
mắt,
mọi
người
ai
cũng
có
thể
h́nh
dung
được
cái
xấu
xa
về
t́nh
trạng
nhiều
bệnh
tật
của
xă
hội
Trung
Quốc.
Sự
thực
đây
cũng
là
cái
chức
năng
cơ
bản
của
các
nhà
tư
tưởng
: đề
xuất
ra
những
khái
niệm
để
cho
mọi
người
có
thể
t́m
thấy
được
ư
nghĩa
trong
cái
phức
tạp
rối
ren.
Về
phương
diện
này
ông
Bá
Dương
đă
góp
phần
mở
mang
dân
trí,
cái
công
ấy
không
phải
nhỏ.
Điều
chúng
tôi
muốn
nói
là :
Cái
loại
khái
niệm
này
có
công
dụng
nêu
lên
những
hiện
tượng
xă
hội
làm
tiêu
đề
nhưng
không
giải
thích
được
chúng.
Nghĩa
là
thế
nào
?
Hăy
lấy
một
ví
dụ :
Nếu
ta
t́m
thấy
một
tương
quan
giữa
hiện
tượng
phân
phối
của
cải,
tài
sản
trong
xă
hội
Trung
Quốc
với
các
hiện
tượng
thuộc
về "
hũ
tương
"
kia,
tất
có
thể
dùng
sự
phân
phối
tài
sản
này
để "
giải
thích
"
những
hiện
tượng
xă
hội
nọ.
Hơn
nữa
chúng
ta
có
thể
suy
ra
rằng
chính
sách
thuế
má
và
chế
độ
tài
chính
có
thể
uốn
nắn
các
hiện
tượng
" hũ
tương
"
này.
Nhất
là
khi
một
số
ít
người
kiểm
soát
sự
phân
phối
tài
sản
trong
một
cơ
quan
(bằng
h́nh
thức
lương
bổng
chẳng
hạn)
th́
tất
yếu
sẽ
đưa
đến
những
sự
chui
luồn,
đấu
đá ở
trong
đó.
Nếu
không
nh́n
thấy
được
cái
tương
quan
giữa
phương
thức
phân
phối
của
cải
và
hiện
tượng
chui
luồn
th́
mặc
dù
nhiều
người
" ư
thức
"
được
những
hội
chứng
" hũ
tương
"
một
cách
chung
chung,
nhưng
các
hành
vi "
hũ
tương
"
đặc
thù
này
e
rằng
vẫn
bị
xem
như
chỉ
giới
hạn
trong
sự
chia
của
cải
thôi
và
như
vậy
sẽ
không
thể
nào
sửa
đổi
được.
Đương
nhiên,
sự
phân
phối
của
cải
chỉ
là
một
ví
dụ,
những
tiến
tŕnh
bầu
cử,
tố
tụng,v.v...
đều
có
thể
lấy
ra
làm
các
ví
dụ
khác.
ở
đây
không
bàn
đến
giá
trị
văn
chương,
chỉ
nói
đến
ư
nghĩa
xă
hội,
th́
trong
ṿng
100
năm
nay
ở
Trung
Quốc,
tất
cả
các
ông
tiến
sĩ
chính
trị
học,
xă
hội
học
cũng
chỉ
đáng
xách
dép
cho
ông
Bá
Dương
trong
việc
làm
cho
nhân
dân
ư
thức
được
các
thói
hư
tật
xấu
của
xă
hội
Trung
Quốc.
Trong
quá
tŕnh
cải
thiện
cách
cư
xử
của
người
Trung
Quốc
chúng
tôi
chỉ
hy
vọng
mọi
người
phân
biệt
được
hai
điểm
:
Một
mặt
làm
sao
kêu
gọi
được
ư
thức
của
từng
cá
nhân,
và
một
mặt
là
khơi
dậy
ư
thức
xă
hội,
một
thứ
ư
thức
vượt
lên
trên
vương
quốc
cá
nhân.
V́
chủ
yếu
nhắm
vào
ư
thức
cá
nhân,
nên
ông
Bá
Dương
không
tránh
khỏi
bị
mỉa
mai,
chê
cười,
chửi
bới
từ
mọi
phía.
Nhưng
dù
sao
đi
nữa,
cái
đóng
góp
của
ông
vào
sự
nghiệp
xây
dựng
dân
tộc
Trung
Quốc
đă
vượt
xa
hơn
hàng
vạn
lần
các
vị
được
gọi
là "
học
giả
".
5
.
Cần
Dấu
Cái
Ác
Phô
Trương
Cái
Thiện,
Đừng
Tự
Hạ
Ḿnh
Kiến
nghị
và
phê
b́nh
đối
với
ông
Bá
Dương.
Đọc
báo
thấy
tin
ông
Bá
Dương
viếng
nước
Mỹ,
tôi
rất
cảm
thương
cho
những
ǵ
ông
đă
trải
qua.
Bây
giờ
ông
có
thể
sang
đây,
những
người
quan
tâm
đến
ông
không
khỏi
lấy
làm
mừng.
V́
không
ít
người
vẫn
kỳ
vọng
nơi
ông,
mong
ông
có
thể
soi
sáng
phần
nào
những
ưu
tư
của
người
Trung
Quốc
hôm
nay.
Ông
đến
đây,
lại
vẫn
cường
điệu
về
cái
gọi
là "
văn
hóa
hũ
tương
".
Cái
văn
hóa
5.000
năm
của
Trung
Quốc
khai
sáng
từ
Đường
tông,
Tống
tổ
bỗng
bị
ông
sổ
toẹt
và
vứt
vào
đống
rác,
làm
cho
ḷng
tin
và
kiêu
ngạo
về
văn
hóa
của
chúng
ta
bỗng
như
bị
dội
một
gáo
nước
lạnh.
Lời
nói
của
ông
Bá
Dương
tôi
tin
rằng
nó
được
thốt
từ
trong
đáy
ḷng
và
dựa
trên
những
kinh
nghiệm
đau
thương
của
bản
thân
ông.
Nhưng
với
địa
vị
trên
văn
đàn
của
ông
hôm
nay
-
nhất
là
trong
lúc
ông
có
thể
ảnh
hưởng
đến
không
ít
người
-
th́
ông
không
thể
nào
trắng
trợn
đùa
cợt
chửi
bới
lung
tung
được.
Cho
nên
đối
với
cái
lư
luận
" hũ
tương
"
của
ông
lần
này
tôi
muốn
đóng
góp
một
vài
lời
phê
b́nh
không
ác
ư.
Ông
Bá
Dương
không
những
chỉ
tạt
nước
lạnh
vào
bao
người,
đả
kích
ḷng
tự
tôn
về
văn
hóa
của
bản
thân
chúng
ta,
mà
lại
c̣n
giơ
ra
trước
mặt
người
nước
ngoài
những
thứ
như
hoạn
quan,
bó
chân
để
họ
cười
vào
mũi
chúng
ta
nữa.
Thực
chất
cách
nh́n
của
ông
Bá
Dương
là
một
cách
nh́n
cực
đoan
nên
mới
hiểu
lầm
rằng
hoạn
quan,
bó
chân
là
những
khuyết
tật
văn
hóa.
Thật
ra
những
thứ
ấy
chỉ
là
những
hành
vi
tàn
khốc,
bắt
nguồn
từ
dục
vọng
cá
nhân
của
các
hôn
quân
độc
tài,
chuyên
chế,
hoàn
toàn
không
thuộc
về
nền
văn
hóa
chân
chính
của
Trung
Quốc.
Lấy
một
ví
dụ:
hậu
thế
vẫn
cho
rằng
các
luật
thơ
của
Đường
thi
g̣
bó
thơ
ca.
Nhưng
thơ
của
người
đời
Đường
sinh
động,
tự
nhiên
;
luật
thơ
Đường
được
h́nh
thành
dựa
trên
ngôn
ngữ
và
mức
độ
văn
tự
của
thời
đại
nó.
Đó
là
một
tinh
thần
thơ
chân
chính,
chủ
trương
tự
nhiên
và
sáng
tạo.
Người
đời
Đường
không
hề
cần
hậu
thế
lấy
luật
thơ
của
họ
làm
chuẩn.
Chỉ
v́
hậu
thế
bỏ
gốc
lấy
ngọn
mà
cho
rằng
nó
g̣
bó.
Lại
dựa
vào
thói
quen
trong
cuộc
sống
mà
nói
th́
cái
áo "
kỳ
bào
" là
một
thứ
phục
trang
của
dân
tộc
Măn,
vốn
yêu
kiều,
đẹp
đẽ.
Nhưng
cái
" kỳ
bào
"
đời
nay
lại
bó
người,
xẻ
cao,
chẳng
c̣n
được
vẻ
ǵ
của
ngày
xưa
nữa.
Đương
nhiên
chúng
ta
cũng
không
thể
coi
nhẹ
tập
quán
độc
ác
của
tổ
tiên
như
hoạn
quan,
bó
chân,
nhưng
chúng
ta
đều
biết
rằng
truyền
thống
Trung
Quốc
vẫn
có
cái
đức
tính
" ẩn
ác,
dương
thiện
" (Giấu
điều
ác,
phô
trương
điều
thiện).
Cứ
như
việc
khai
phá
miền
Tây
nước
Mỹ
chẳng
hạn,
hiện
đang
được
ca
tụng
như
một
bộ
sử
thi
về
lập
nghiệp
và
phấn
đấu,
như
những
truyện
cổ
đầy
tính
truyền
kỳ
và
lăng
mạn.
Nhưng
những
ǵ
đen
tối
và
tàn
khốc
của
thời
ấy -
mặc
dù
về
mặt
nào
đó
rất
quan
trọng
-
lại
bị
xóa
bỏ
đến
dấu
vết
cuối
cùng.
Các
nhà
nghiên
cứu
Tây
phương
chân
chính
không
những
chỉ
ca
ngợi
mà
c̣n
rất
thán
phục
cái
đẹp
và
tinh
tế
của
văn
hóa
Trung
Quốc.
Nhật
Bản
đă
hoàn
toàn
bắt
chước
phương
Tây
từ
thời
Minh
Trị
Duy
Tân,
song
từ
thời
Ê-đô
(1600
-1867)
trở
về
trước
đối
với
nền
văn
hóa
Trung
Quốc
người
Nhật
lúc
nào
cũng
phục
sát
đất.
Tinh
thần
văn
hóa
cơ
bản
của
nước
Nhật
chẳng
phải
đă
đến
từ
Trung
Quốc
hay
sao
?
Một
nhà
danh
họa
Nhật
thế
kỷ
thứ
XVIII,
Tạ
Xuân
Tinh,
không
những
lấy
tên
Trung
Quốc,
vẽ
tranh
Trung
Quốc
mà
lại
c̣n
làm
thơ
Trung
Quốc
và
được
mọi
ca
tụng
là "
một
người
Trung
Quốc
chính
hiệu
".
Mặc
dù
được
ca
ngợi
như
một
nước
văn
minh
tiên
tiến
của
thế
giới,
Nhật
Bản
ngày
nay
từ
trong
nhà
ra
đến
ngơ
đều
mang
dấu
vết
sâu
sắc
của
ảnh
hưởng
văn
hóa
Trung
Quốc.
Bây
giờ
họ
t́m
cách
phân
định
ranh
giới,
phủ
nhận
quan
hệ
huyết
thống
với
người
Trung
Quốc,
quên
hẳn
cái
khẩu
hiệu
"
đồng
văn
đồng
chủng
" (cùng
chữ
viết,
cùng
ṇi
giống)
trong
thời
kỳ
Chiến
tranh
Trung
-
Nhật.
Nhưng
dù
sao
họ
cũng
không
hề
dám
chối
bỏ
văn
hóa
Trung
Quốc.
V́
lư
do
ǵ ?
Nếu
là
người
Trung
Quốc,
có
lẽ
chúng
ta
cũng
nên
tự
hỏi
:
văn
hóa
Trung
Quốc
là
cái
thứ
ǵ?
Chúng
ta
hiểu
được
nó
đến
đâu?
Tại
sao
lại
cứ
đi
chà
đạp
lên
cái
văn
hóa
đẹp
đẽ
thuộc
về
chúng
ta,
mà
nhất
thiết
cho
rằng
cái
vận
xấu
của
người
Trung
Quốc
ngày
nay
là
do
lỗi
của
cái
"
văn
hóa
hũ
tương
".
Như
vậy
có
phải
là
lư
luận
không
?
Trung
Quốc
hiện
có
hơn
800
triệu
người
(năm
1981?
).
Cái
việc
cần
kíp
hiện
nay
là
làm
sao
cho
số
người
ấy
đoàn
kết
với
nhau
và
có
được
hạnh
phúc.
Ngay
cả
những
người
Trung
Quốc
ở
Đài
Loan
chắc
cũng
nghĩ
như
vậy.
Để
có
điều
kiện
quốc
pḥng
khả
dĩ
tự
vệ
được,
nhân
dân
trẻ
già
lớn
bé
đều
có
cơ
may
được
giáo
dục,
cái
duy
nhất
có
thể
giúp
cho
một
số
đông
người
đi
lên
văn
minh
hiện
đại
- mà
tinh
thần
vẫn
c̣n
có
chỗ
nương
tựa
-
th́
không
phải
văn
hóa
Tây
phương,
cũng
không
phải
văn
hóa
Nhật
Bản
có
thể
làm
được,
mà
chính
là
cái
truyền
thống
văn
hóa
cổ
xưa
của
chúng
ta.
Nó
đă
tích
tụ
những
kinh
nghiệm
nhân
sinh
rất
sâu
sắc,
có
những
tư
tưởng
khoa
học
rất
phong
phú,
có
thi
ca,
văn
tự
tốt
đẹp,
lại
có
cả
mỹ
thuật,
công
nghệ,
kiến
trúc,
âm
nhạc,
trang
phục,v.v...
muôn
mầu
muôn
vẻ.
Chỉ
có
văn
hóa
Trung
Quốc
mới
có
thể
đưa
chúng
ta
lên
con
đường
văn
minh,
đưa
800
triệu
người
Trung
Quốc
đến
con
đường
hạnh
phúc
được.
Người
Nhật
Bản
đă
dùng
qua,
đă
t́m
thấy
lợi
ích.
Người
Tây
phương
cũng
đang
nghiên
cứu
học
tập
nó.
Chúng
ta -
những
người
thuộc
về
chính
nền
văn
hóa
đó -
chúng
ta
lại
lại
nỡ
ḷng
nào
đi
bêu
riếu
nó.
Làm
như
vậy
không
những
gây
nguy
hại
đến
tiền
đồ
quốc
gia
đân
tộc
mà
lại
c̣n
trở
thành
lũ
cháu
con
bất
hiếu
nữa.
Hăy
đừng
để
cho
người
Nhật
Bản
nói
rằng
chỉ
có
họ
mới
là
con
cháu
thừa
kế
chính
thức
của
nền
văn
hóa
Trung
Quốc.
Chúng
ta
phải
mở
to
mắt
ra
mà
nh́n
cho
rơ,
suy
cho
kỹ,
phán
đoán
nhiều,
giống
như
ông
Bá
Dương
bảo
cần
suy
nghĩ,
bồi
dưỡng
năng
lực
phán
đoán
chính
xác;
trước
tiên
là
cho
hạnh
phúc
bản
thân
ḿnh,
sau
đó
cho
hạnh
phúc
của
800
triệu
người
Trung
Quốc
khác
.
6
-
Người
Trung
Quốc
hèn
hạ
Tôi
vừa
được
đọc
"
Người
Trung
Quốc
xấu
xí "
của
ông
Bá
Dương,
cảm
thấy
trong
ḷng
bực
bội
không
thể
không
nói
ra
được.
Một
trăm
năm
trở
lại
đây
người
Trung
Quốc
thật
khổ,
thật
đáng
thương,
mà
t́nh
h́nh
ngày
càng
tệ
hại.
Ban
đầu,
cái
khẩu
hiệu
của
Dương
Vụ
Phái
: "
Trung
học
vi
thể,
Tây
học
vi
dụng
" (Học
truyền
thống
Trung
Quốc
để
lấy
làm
thể
chất,
học
theo
Tây
phương
để
làm
công
dụng)
cũng
c̣n
có
cái
ǵ
đó
chưa
đến
nỗi
lạc
điệu
lắm.
Điều
này
có
tính
khả
thi
hay
không
th́
chưa
biết,
nhưng
nó
c̣n
có
cái
tâm
ư
muốn
duy
tŕ
cái
"
thể
chất
"
Trung
Quốc.
Về
sau,
dần
dần
"
thể
chất
"
này
cũng
không
ai
cần
nữa,
chỉ
c̣n
lời
oán
trách
tại
sao
bố
mẹ
lại
cho
ḿnh
cái
đầu
tóc
đen,
cái
bộ
da
vàng,
giặt
cũng
không
được,
vứt
cũng
chẳng
xong;
rồi
ta
thán
rằng:
"
Trăng
ở
nước
ngoài
tṛn
hơn
trăng
Trung
Quốc
",
và
một
mực
chửi
bố,
chửi
mẹ,
chửi
tổ
tông.
Cái
đó
gọi
là "
truyền
thống
Ngũ
Tứ "
(Phong
trào
mồng
4
tháng
5/1919).
Đó
là
t́nh
huống
của
mấy
chục
năm
trước,
thế
mà
so
với
thời
nay
vẫn
c̣n
khá
hơn.
Thời
đó
mới
chỉ
là
trăng
nước
ngoài
tṛn
hơn
chứ
chưa
đến
độ
rắm
ngoại
thơm
hơn.
Bởi
v́
thời
đó
giao
thông
và
thông
tin
chưa
phát
triển
lắm
nên
không
có
cách
nào
bắt
chước
nhanh
chóng
và
hiệu
quả
như
thời
nay
được.
V́
vậy
bây
giờ,
khi
người
Mỹ
tự
gọi
họ
là "
xấu
xí
",
người
Nhật
tự
gọi
ḿnh
là "
xấu
xí
",
tức
th́
có
ngay
người
Trung
Quốc
lăng
xăng
ra
vẻ
thông
thái,
"
tràng
giang
đại
hải
"
viết
liền
một
cuốn
"
Người
Trung
Quốc
xấu
xí
".
Mấy
người
Trung
Quốc
cố ư
chửi
đổng
đó
đều
không
phải
là
cái
loại
người
Trung
Quốc
thông
thường.
Vài
chục
năm
trước
những
phần
tử "
Ngũ
tứ "
-
mồm
hô "
đả
đảo
",
tự
xưng
là "
tiến
bộ "
-
đều
tự
cho
ḿnh
là
đại
văn
hào,
có
trách
nhiệm
với
đất
nước.
Chúng
đội
những
tên
họ
giả,
và
một
người
trong
bọn
họ
đă
thành
danh
với
những
quyển
"Gia"
(nhà),"Xuân
",
"Thu"
chất
chứa
mối
thâm
thù
đại
hận
đối
với
truyền
thống
Trung
Quốc.
(ám
chỉ
Ba
Kim,
nhà
văn
hiện
đại
Trung
Quốc
gốc
Măn
Thanh
-
ND).
Chính
họ
đă,
cố ư
hoặc
vô
t́nh,
làm
công
tác
tuyên
truyền
mở
đường
cho
sự
nhuộm
đỏ
Trung
Quốc
sau
này
bởi
Chủ
nghĩa
Mác.
Những
tai
vạ
của
thường
dân
Trung
Quốc
hơn
30
năm
nay
thực
ra
đă
bắt
đầu
từ
loại
nhà
văn
chạy
theo
mốt
này
từ
60
năm
về
trước.
Ngày
hôm
nay
lại
chui
ra
cái
ông
Bá
Dương,
tự
xưng
là
một
nhà
văn
yêu
quần
chúng
một
cách
phi
thường
để
giương
cao
thêm
cái
truyền
thống
"
Ngũ
tứ
".
Trước
hết
y
gào
to :
"
Văn
hóa
hũ
tương
",
sau
đó
là
bôi
nhọ
cái
anh
chàng
"
Trung
Quốc
xấu
xí
".
Tôi
là
người
Trung
Quốc.
Tôi
có
rất
nhiều
khuyết
điểm
và
lỗi
lầm
-
thậm
chí
những
lỗi
lớn,
những
lầm
lớn
-
nhưng
tôi
không
hề
xấu
xa,
lại
không
hề
công
nhận
người
Trung
Quốc
nhất
loạt
đều
xấu
xa.
Bá
Dương
không
biết
có
cho
ḿnh
là
người
Trung
Quốc
không
?
Nếu
ông
c̣n
cho
ḿnh
là
người
Trung
Quốc,
tức
phải
thừa
nhận
rằng
ḿnh
xấu
xa,
cái
đó
là
tự
do
của
ông
ta.
Nhưng
ông
ta
không
thể
lôi
kéo
người
khác
đi
theo
ông
ta
như
thế
được.
Tôi
không
đồng
ư
với
cái
quan
niệm
"
Người
Trung
Quốc
xấu
xí "
này
tư
nào,
nhất
là
với
cái
chủ
ư và
giọng
điệu
đó,
nhưng
không
phải
v́
vậy
mà
tôi
cho
rằng
toàn
bộ
quyển
sách
của
ông
Bá
Dương
là
vô
ích.
Nó
cũng
có
được
vài
câu
đúng.
Ví
dụ
như
chính
Bá
Dương
đă
nh́n
nhận
như
sau
:
"
Người
Trung
Quốc
có
thể
nói
là
một
dân
tộc
thông
minh
nhất
thế
giới.
Tại
Mỹ,
mấy
người
đỗ
đầu
các
đại
học
thường
là
người
Trung
Quốc.
Rất
nhiều
nhà
khoa
học
lớn,
kể
cả
người
cha
của
khoa
học
nguyên
tử
Trung
Quốc
là
ông
Tôn
Quan
Hán,
những
người
được
giải
thưởng
Nobel
là
ông
Dương
Chấn
Ninh,
Lư
Chính
Đạo
đều
là
những
bộ
óc
hạng
nhất.
Người
Trung
Quốc
quả
là
không
phải
có
phẩm
chất
xấu.
Phẩm
chất
này
có
thể
đưa
Trung
Quốc
đến
được
một
thế
giới
lành
mạnh
và
hạnh
phúc.
Chúng
ta
có
tư
cách
làm
chuyện
đó
và
chúng
ta
có
lư
do
để
tin
rằng
Trung
Quốc
có
thể
trở
thành
một
nước
rất
tốt
đẹp.
Nhưng
chúng
ta
không
cần
phải
cứ
muốn
quốc
gia
lớn
mạnh.
Quốc
gia
không
lớn
mạnh
th́
có
can
hệ
ǵ?
Chỉ
cần
làm
sao
cho
nhân
dân
hạnh
phúc
rồi
th́
đi
t́m
một
quốc
gia
lớn
mạnh
cũng
không
muộn.
"
Đoạn
văn
trên
tôi
cho
là
rất
đúng.
Đặc
biệt
tôi
vô
cùng
tán
thành
câu
"
chỉ
cần
nhân
dân
hạnh
phúc
".
Chỉ
tiếc
ư
chính
của
cả
quyển
sách
lại
không
phải
là
những
lời
lẽ
ngay
thẳng
này,
nó
toàn
chất
chứa
những
thứ
kể
tội
"
người
Trung
Quốc
xấu
xa "
mà
tôi
hoàn
toàn
không
đồng
ư.
Đọc
hết
quyển
sách,
người
đọc
có
thể
tự
hỏi
: "
Thật
ra
người
Trung
Quốc
có "
xấu
xa "
không
? "
Bá
Dương
đă
trả
lời
một
cách
vớ
vẩn
và
rườm
với
một
đống
ví
dụ
rút
ra
từ
thực
tế
nhằm
chứng
minh
người
Trung
Quốc
là "
bẩn,
loạn,
ồn,
và
hay
cấu
xé
nhau
".
Tôi
tin
rằng
Bá
Dương
không
thể
bịa
đặt,
mà
dù
ông
có
đặt
chuyện
th́
ư
định
của
ông
là
ǵ ?
Trên
thế
giới
này
dân
tộc
nào,
quốc
gia
nào
mà
không
làm
ồn,
không
cấu
xé
lẫn
nhau
?
Người
Híp-py
Mỹ
không
bẩn
sao?
Tầu
điện
ngầm
ở
New
York
không
loạn
sao
?
Trên
diễn
đàn
chính
trị
Mỹ,
Âu,
Nhật
ồn
ào
náo
nhiệt,
sự
hục
hặc
đấu
đá
lẫn
nhau
có
phải
ít
đâu?
Có
cái
xó
xỉnh
nào
lại
không
có
sự
cấu
xé
lẫn
nhau?
Cứ
theo
cái
lô-gíc
của
Bá
Dương
th́
phải
đặt
cái
đầu
đề
lại
cho
đúng
là "
Nhân
loại
xấu
xí
".
Cái
việc
hoang
đường
nhất
là
ngay
cả
cổ
họng
của
người
Trung
Quốc
có
to
thật
đi
nữa
th́
có
ǵ
gọi
là
xấu
xa?
Quả
vậy!
Nhập
sông
tùy
khúc,
nhập
gia
tùy
tục,
phàm
người
Trung
Quốc
đến
Mỹ -
gồm
cả
bản
thân
tôi
-
đều
phải
sửa
đổi
cái
tập
quán
nói
to
của
người
Trung
Quốc,
cố
gắng
bắt
chước
cách
nói
của
những
người
có
học
thức
trong
giới
thượng
lưu
nhân
sĩ
Mỹ,
nói
năng
nhỏ
nhẹ,
thậm
chí
nói
trên
đường
dây
điện
thoại
chỉ
nhỏ
như
tiếng
muỗi.
Điều
này
là
tất
yếu.
Nhưng
nếu
có
người
nhất
thời
không
thể
sửa
đổi
được
thói
quen
của
ḿnh
th́
cũng
chẳng
phải
là
một
tội
ác
ǵ
ghê
gớm
lắm.
Làm
sao
lại
có
thể
gọi
họ
là "
xấu
xa "
được.
Ngay
ở
chỗ
này
chúng
ta
cũng
có
thể
thấy
rằng
ông
Bá
Dương
trong
ḷng
ghét
người
Trung
Quốc
đến
chừng
nào.
Và
một
khi
đă
ghét
mà
muốn
đổ
tội
cho
người
th́
có
khó
ǵ
đâu
!
Tại
sao
một
nhà
văn
tự
xưng
là "
yêu
nước
thương
dân
"
lại
rắp
tâm
dùng
đủ
thứ
hiện
tượng
vụn
vặt
chẳng
có
đầu
cua
tai
nheo
ǵ
để
bôi
nhọ
đồng
bào
ḿnh
?
Tôi
không
có
duyên
được
gặp
vị
này,
chỉ
căn
cứ
vào
bài
phỏng
vấn
ông
do
nữ
sĩ
Lư
Lê
thực
hiện.
Bà
này
xem
ông
là
một
nhà
ái
quốc
lớn
và
nói
rằng
ông
có
một
tấm
ḷng
yêu
nước
mănh
liệt,
ông
rất
kỳ
vọng
vào
nước
nhà,
dân
tộc.
Nhưng
khi
ông
viết
ra
tất
cả
lại
là
một
chuỗi
toàn
những
giận
trời,
trách
người,
nguyền
rủa
không
thôi.
Cái
nguyên
nhân
căn
bản
có
lẽ
v́
Bá
Dương
đă
hiểu
một
cách
lệch
lạc
về
văn
hóa
truyền
thống
Trung
Quốc,
nên
đă
lầm
đường
lạc
lối;
có
lẽ
bị
cái
"
văn
hóa
hũ
tương
" do
chính
ông
ta
bịa
đặt
ra
mê
hoặc
tâm
trí,
bị
chính
cái
"
mầm
bệnh
độc
" do
ông
ta
gieo
ra
làm
tê
liệt
thần
kinh
của
bản
thân.
Cái
văn
hóa
"
bác
đại
tinh
thông
"
của
Trung
Quốc
dĩ
nhiên
có
phần
vương
đạo,
nhưng
cũng
có
phần
bá
đạo,
có
nhân
nghĩa,
đạo
đức,
có
trộm
cắp,
đĩ
điếm,
có
chính
tâm
thành
ư,
có
phong
hoa
tuyết
nguyệt,
bất
kỳ
phương
diện
nào
cũng
đều
đạt
đến
đỉnh
cao;
trăm
thứ
bà
dằn
thứ
ǵ
cũng
có.
Chẳng
cứ
nói
anh
chuyên
t́m
cái
" hũ
tương
" và
"
mầm
bệnh
độc
",
chứ
thậm
chí
nếu
muốn
cố ư
t́m
cái
" hũ
cứt
"
hoặc
vi
trùng
cũng
đều
có
thể
t́m
thấy.
Nếu
anh
muốn
bảo
văn
hóa
Trung
Quốc
là
một
hũ
cứt
đầy
vi
trùng,
th́
văn
hóa
Trung
Quốc
cũng
chẳng
thiệt
hại
ǵ
mà
chỉ
chứng
minh
rằng
:
anh
là
thằng
thối
tha
không
ngửi
được
đến
mức
vô
phương
cứu
chữa.
Nếu
lấy
cùng
một
bộ "
Tư
trị
thông
giám
" (xem
chú
thích
của
người
viết
bài
này
-Vương
Diệc
Lệnh
- ở
cuối
bài)
ra
mà
bàn,
có
người
đọc
xong
nó
có
thể
học
được
cách
trị
quốc
b́nh
thiên
hạ.
Trong
khi
đó
Mao
Trạch
Đông
đọc
xong
th́
lại
càng
hoàn
chỉnh
hơn
những
thủ
đoạn
tẩy
năo
và
chôn
sống
người,
có
lẽ
ngay
cả
Xta-lin
cũng
không
b́
kịp.
Cái
văn
hóa
truyền
thống
Trung
Quốc
là
như
vậy,
giống
như
một
lưỡi
dao
sắc,
tùy
anh
có
sử
dụng
nó
hay
không,
và
sử
dụng
như
thế
nào.
Anh
có
thể
dùng
nó
để
trị
bệnh
cứu
người,
cũng
có
thể
dùng
nó
để
giết
người.
Đương
nhiên
cũng
có
thể
dùng
nó
để
tự
sát.
Cho
nên,
bất
kỳ
ai
nếu
manh
tâm
đi
t́m
cái
lưỡi
sắc
của
nó,
đi
t́m
những
thứ
như
" hũ
tương
", "
mầm
bệnh
độc
",
th́
chính
người
đó
sẽ
bị
mắc
bệnh
độc
chứ
không
phải
văn
hóa
Trung
Quốc.
Tôi
xin
nói
thêm
vài
điều
hơi
ngoài
lề.
Một
trăm
năm
trở
lại
đây,
v́
chính
trị
Trung
Quốc
đen
tối,
nhà
văn,
trí
thức
viết
lách
thường
bị
tù
đày,
giết
chóc,
quản
thúc
lâu
dài,
bị
chụp
mũ.
Điều
đó
chứng
tỏ
rằng
những
chính
quyền
tại
chức
vẫn
tự
coi
ḿnh
là
trời
cao,
đất
rộng.
Bởi
v́
mọi
người
đều
thù
ghét
các
chính
quyền
chuyên
chế,
nên
những
cá
nhân
nào
dám
công
khai
thách
thức
bạo
quyền
đều
được
mọi
người
đồng
t́nh,
kính
nể.
Những
kẻ
bị
tù
đày
v́
lư
do
chính
trị
hoặc
là
nạn
nhân
của
một
ư đồ
chính
trị
cũng
đều
mang
một
vầng
hào
quang
trên
đầu.
Tôi
cho
rằng
không
hẳn
như
vậy
hoặc
ít
nhất
cũng
không
thể
nói
nhất
loạt
đều
như
vậy.
Thật
ra
cũng
có
một
số
người
bị
tù
ngục
hoặc
bị
sát
hại
đáng
được
tôn
kính.
Ví
dụ
như
những
sứ
thần
ngày
xưa
dám
can
gián
hoàng
đế
mà
không
sợ
bị
chém.
Gần
đây
một
số
nhà
báo
không
sợ
quyền
lực
dám
vạch
trần
những
sự
đồi
bại
của
các
gia
đ́nh
quyền
quư
họ
Khổng,
họ
Tống.
Có
kẻ
bị
giết,
kẻ
ngồi
tù,
những
sự
hy
sinh
của
họ
đương
nhiên
có ư
nghĩa,
có
giá
trị
đáng
tôn
thờ.
C̣n
đối
với
cái
nhăn
hiệu
"
liệt
sĩ "
của
Lư
Đại
Chiêu
và
Hồ
Giă
Tân
th́
tôi
cho
là
chết
cũng
không
đáng
tiếc.
Nó
chẳng
khác
ǵ
cái
nhăn
hiệu
"
hữu
phái
"
của
Vương
Diệc
Lệnh
này,
tôi
cho
rằng
đó
chỉ
là
việc
tự
đi
chuốc
vạ
vào
ḿnh.
Tất
cả "
liệt
sĩ "
cũng
như
"
hữu
phái
" ở
Trung
Quốc
chỉ
là
những
sản
phẩm
đồi
bại
của
các
chính
phủ
độc
tài
dựng
lên.
Nhưng
nói
về
bản
thân
những
người
bị
hại
này,
đối
với
cái
việc
họ
bị
bức
hại
th́
chỉ
có
họ
là
thiệt
tḥi
mà
chẳng
đem
lại
được
ích
lợi
ǵ
cho
những
người
đang
sống.
Nói
tóm
lại
nếu
chịu
đau
khổ
mà
không
đem
lại
một
kết
quả
ǵ
th́
thật
là
đáng
kiếp
!
Dựa
trên
cái
đạo
lư
này,
tôi
cho
rằng
ông
Bá
Dương
mở
mồm,
rồi
ngậm
miệng,
ngồi
trong
nhà
lao
hơn
9
năm
và
không
biết
lẻ
bao
ngày,
tựa
hồ
như
lao
tù
là
cái
đất
mạ
vàng
của
ông
ta;
nhưng
cuối
cùng
tất
cả
những
thứ
đó
chỉ
là
một
việc
thật
vô
ích
!
Nếu
nói
theo
lô-gíc
của
Bá
Dương,
th́
trên
đảo
Đài
Loan
có
một
nhà
văn
c̣n
tài
t́nh
hơn
Bá
Dương.
Sau
khi
ông
ta
ra
tù,
cho
đến
hôm
nay
ông
ta
vẫn
c̣n
múa
bút
trên
đảo
chửi
loạn
lên,
phong
độ
không
khác
trước
một
tư
nào,
vẫn
chửi
đến
cả
18
đời
tổ
tông
của
kẻ
khác.
Nhưng
theo
quan
điểm
của
tôi
th́
điều
đó
chẳng
có
ǵ
là
ghê
gớm
hết.
Bất
quá
anh
ta
cũng
chỉ
là
một
nhà
văn
vong
mạng
(hết
thời)
mà
thôi.
Cuối
cùng,
xin
tóm
lại
một
câu
:
Người
Trung
Quốc
chưa
chắc
đă
xấu,
nhưng
trong
đám
người
Trung
Quốc
lại
không
thiếu
những
đồ
hèn
hạ !
Chú
thích
của
Vương
Diệc
Lệnh
:
Tôi
chưa
được
đọc
quyển
" Tư
Trị
Thông
Giám
bản
của
Bá
Dương
",
mà
cũng
không
thích
đọc.
Bởi
v́
tôi
tin
rằng
dùng
cái
kiểu
đánh
đổ
tất
cả,
chửi
tất
cả
kiểu
"
Ngũ
Tứ "
hay
"
Hồng
Vệ
Binh
" để
diễn
giải
" Tư
Trị
Thông
Giám
"
th́
sẽ
chẳng
c̣n
ǵ
là
h́nh
dạng
của
nó.
Tôi
cực
kỳ
thán
phục
Tư
Mă
Ôn
Công
(Tư
Mă
Quang).
Sách
của
ông
dạy
dỗ
các
vua
trị
nước
như
thế
nào,
dậy
các
quần
thần
làm
việc
nước,
dậy
cho
thường
dân
cách
ăn
ở,
nước
có
đạo
và
vô
đạo
xử
sự
như
thế
nào.
ở xă
hội
như
Trung
Quốc,
nếu
nghiên
cứu
kỹ
một
chút
quyển
sách
này
th́
sẽ
bổ
ích
không
ít,
tối
thiểu
cũng
không
đến
nỗi
bị
ngồi
nhà
lao
của
Quốc
Dân
Đảng
hoặc
phải
đội
mũ
nhọn
[bị
đấu
tố]
của
Đảng
Cộng
Sản.
7-
Không
hiểu
được
hài
ước
Trong
báo
"
Bách
tính
" kỳ
này
có
một
bài
văn
nhan
đề "
Người
Trung
Quốc
hèn
hạ "
của
Vương
Diệc
Lệnh.
Sau
khi
đọc
Bá
Dương
ông
này
tuyên
bố :
"
Trong
ḷng
tức
tối
không
thể
không
nói
được
".
Bài
văn
mang
tính
bút
chiến
này
đă
công
kích
Bá
Dương
một
cách
thậm
tệ.
Giọng
văn
nhuần
nhuyễn
nhưng
văn
phong
ác
liệt,
không
hề
có
cái
đôn
hậu,
ḥa
nhă
trong
truyền
thống
tốt
đẹp,
cao
quư
của
Trung
Quốc.
Ông
ta
sử
dụng
những
thứ
như
"
thối
không
ngửi
được
", "
vô
phương
cứu
chữa
", "
đồ
hèn
hạ
", "
xem
lao
tù
là
cái
đất
mạ
vàng
",v.v...Có
thể
nói
thật
là
khe
khắt.
Nếu
cái
thuyết
"
người
Trung
Quốc
xấu
xí "
của
ông
Bá
Dương
có
cơ
sở
th́
ông
Vương
qua
bài
văn
này
lại
bị
chính
gậy
ông
đập
lưng
ông,
và
không
những
không
phản
bác
được
lư
luận
của
ông
Bá
Dương
mà
c̣n
cung
cấp
thêm
bằng
chứng
cho
nó.
Bộ
mặt
xấu
xí
của
Vương
Diệc
Lệnh
là
bộ
mặt
thật
của
người
Trung
Quốc
cả
ngh́n
năm
nay.
Đó
là
một
bộ
mặt
thiếu
vắng
phần
hài
hước.
Bá
Dương
chửi
người
Trung
Quốc
là
xấu
xí,
nhưng
có
phải
v́
ông
ta
làm
công
tác
nghiên
cứu
nhân
chủng
học
và
hy
vọng
đoạt
được
giải
Nobel
không
?
Người
viết
tạp
văn,
cốt
ư
gây
ra
phản
ứng
nơi
người
khác
để
kích
động
tranh
luận,
hoàn
toàn
khác
với
các
chuyên
gia
viết
có
chứng
cớ
rơ
rệt
của
các
ngành
học
thuật.
Người
Trung
Quốc
có
xấu
xí
hay
không
cũng
chẳng
quan
trọng
ǵ,
nhưng
có
người
tức
quá,
la
làng
lên,
đă
tiêu
phí
không
biết
bao
nhiêu
tế
bào
năo,
đó
mới
là
điều
thật
quan
trọng.
Cũng
cùng
trong
số "
Bách
tính
"
này
có
bức
thư
độc
giả
họ
Lương.
Ông
này
sau
khi
đọc
"
Người
Trung
Quốc
xấu
xí "
của
Bá
Dương
đă
tỏ
vẻ
bị
xúc
động
sâu
xa,
nên
buồn
bă
chán
nản
mà
rơi
lệ.
Nhưng
theo
tôi
thấy
th́
nước
mắt
của
ông
này
và
sự
phẫn
nộ
của
ông
Vương
Diệc
Lệnh
cũng
chỉ
là
một
thứ
thằng
điếc
cười
thằng
câm.
Cả
hai
người
đều
có
cái
tinh
thần
của
những
người
theo
học
thuyết
Lăo
Trang,
trong
bụng
đầy
những
quan
niệm
quá
ư là
siêu
thoát.
Cho
nên
họ
chưa
có
thể
đọc
được
những
ǵ ở
giữa
những
hàng
chữ
của
Bá
Dương
để
lĩnh
hội
ra
cái
thú
vị
của
hài
hước,
mà
chỉ
rơi
vào
mấy
cái
ví
dụ
mỹ
miều,
sinh
động
với
những
lời
chú
giải
hoang
đường
cổ
quái
thôi.
Đọc
văn
chương
Bá
Dương
thực
ra
cần
có
sẵn
một
ít
tinh
thần
hài
hước.
Ông
ta
phá
rối,
làm
tṛ,
đem
cái
lưỡi
dao
của
trí
tuệ
se
sẽ
lấp
loáng
trước
mắt
chúng
ta.
Người
đầu
óc
linh
hoạt
có
thể
nắm
bắt
được
tinh
túy,
những
kẻ
quá
nghiêm
nghị,
ra
vẻ
trịnh
trọng,
th́
lại
hoàn
toàn
bị
oóc-dơ.
Dân
tộc
Trung
Quốc
có
một
lịch
sử
lâu
đời,
làm
sao
tất
cả
đều
có
thể
hoàn
mỹ
không
tỳ
vết
?
Ông
Bá
Dương
t́m
những
thứ
này
ra
chế
diễu,
kỳ
thực
là
tự
trào,
gây
ra
cho
chúng
ta
một
ít
tác
dụng
cảnh
tỉnh.
Vả
lại
nói
xấu
mà
không
nói
đẹp,
đó
cũng
là
một
cách
tự
khiêm.
Không
hiểu
được
hài
hước
lại
cho
rằng
ông
ta
đi
ngoáy
dao
vào
vết
thương
của
ḿnh
th́
thật
là
phụ
cái
ḷng
đau
khổ
của
Bá
Dương.
Tuy
thế,
e
rằng
Bá
Dương
cũng
không
thích
ǵ
mấy
cái
việc
người
đọc
bài
ḿnh
phải
khóc
sụt
sùi.
Nói
tóm
lại,
dân
tộc
Trung
Quốc
là
một
dân
tộc
lớn,
nói
đẹp
đẽ
th́
đẹp
đẽ
hơn
bất
cứ
dân
tộc
nào,
nói
xấu
xí
th́
cũng
xấu
xí
hơn
bất
cứ
dân
tộc
nào.
Nhưng
có
lẽ
nên
nói
ra
cái
xấu
vẫn
tốt
hơn
là
ca
tụng
cái
đẹp
của
nó.
Nói
một
cách
khác,
cho
dù
có
xấu,
cũng
có
cái
đẹp
của
cái
xấu
chứ
!
8
- Có
cái
văn
hóa
không
có
văn
minh?
"
Văn
minh
" và
"
Văn
hóa
" là
hai
khái
niệm
hay
bị
nhầm
lẫn.
Văn
minh
thật
ra
là
ǵ?
C̣n
cái
ǵ
gọi
là
văn
hóa?
Định
nghĩa
như
thế
nào?
Thường
thường
mỗi
người
mỗi
cách.
Một
vài
người
trí
thức
Trung
Quốc
sô-vanh
có
cách
nói
rất
cổ
quái
ly
kỳ
là
Tây
phương
không
có
văn
hóa,
chỉ
có
văn
minh.
Hoặc
xua
tay
một
cách
khinh
miệt
: "
Nước
Mỹ
không
có
văn
hóa
! ",
nhưng
không
hề
nghe
họ
nói
nước
Mỹ
không
có
văn
minh.
Giả
sử
chúng
ta
lại
hỏi
một
câu
:
Trung
Quốc
có
một
văn
hóa
ưu
tú,
nhưng
không
có
văn
minh
ư?
Hoặc
hỏi:
Thế
văn
minh
quan
trọng
hay
văn
hóa
quan
trọng?Không
có
văn
minh
làm
sao
có
văn
hóa
?
Kỳ
thực
văn
minh
và
văn
hóa
tuy
hai
mà
một,
tuy
một
mà
hai,
không
thể
tách
rời
ra
được.
Chúng
ta
có
thể
nói
cái
tương
quan
của
chúng
như
sau
:
văn
minh
là
sự
thể
hiện
của
văn
hóa,
văn
hóa
là
bà
vú
nuôi
của
văn
minh.
Văn
hóa
khi
được
biểu
hiện
cụ
thể
trong
sinh
hoạt
và
xă
hội,
cái
đó
là
văn
minh.
Lấy
một
ví
dụ
giản
dị
nhất
: lễ
phép
là
sự
biểu
hiện
của
văn
minh.
Mà
Khổng
Tử
hệ
thống
hóa
chữ
" lễ
",
chính
đó
là
văn
hóa.
Tại
Trung
Quốc
từ
hơn
2.000
năm
nay
cái
nghi
lễ
của
Khổng
giáo
được
thể
hiện
trong
chế
độ
xă
hội,
trong
lời
nói
và
việc
làm,
ở
sinh
hoạt
thường
ngày
của
nhân
dân
cũng
như
qua
dịp
lễ
tiết
quanh
năm
bốn
mùa
và
những
nghi
thức
khác.
Tất
cả
những
cái
đó
chúng
ta
phải
hiểu
là
văn
minh
Trung
Quốc.
Văn
minh
chính
là
cuộc
sống.
Nếu
chúng
ta
chấp
nhận
cách
nói
này
th́
người
Trung
Quốc
xem
ra
rất
đáng
bị
chê
cười.
V́
ngay
cả
văn
minh
Trung
Quốc
chúng
ta
cũng
không
có,
nói
ǵ
đến
có
thể
có
cái
thứ
xa
xỉ
là
văn
hóa.
Bởi
v́
cái
văn
minh
của
chúng
ta (nếu
như
có)
th́
đối
với
cái
văn
hóa
của
chúng
ta
nó
thật
không
tương
ứng
tư
nào.
Vậy
làm
sao
nó
thể
hiện
được
cái
văn
hóa
của
chúng
ta ?
Nói
thế
có
nghĩa
là
cái
mà
chúng
ta
thể
hiện
trong
sinh
hoạt
hôm
nay
không
phải
là
các
giá
trị
của
văn
hóa
Trung
Quốc
mà
chỉ
là
những
thứ
đến
từ
văn
hóa
khác.
V́
vậy
văn
minh
Trung
Quốc
ngày
nay,
nếu
có
nó,
th́
nó
là
một
thứ
con
tư
sinh
mà
đối
với
mẹ
nó -
văn
hóa
truyền
thống
Trung
Quốc
-
không
có
ǵ
gọi
là
liên
hệ
huyết
thống
nhiều
lắm.
Gần
đây
tôi
có
đọc
tác
phẩm
mới
của
ông
Bá
Dương
là "
Dẫm
lên
đuôi
nó
",
trong
đó
nói
đến
ấn
tượng
của
ông
khi
sang
thăm
nước
Mỹ.
Ông
thấy
rằng
nếu
so
sánh
th́
người
Mỹ
lễ
phép
hơn
người
Trung
Quốc.
Điều
này
cũng
là
ấn
tượng
của
tôi
khi
đi
du
lịch
ở Mỹ.
Người
Trung
Quốc
so
sánh
với
người
Mỹ -
những
người
b́nh
thường
trong
cuộc
sống
hàng
ngày
-
th́
trở
thành
những
người
"
nguyên
thủy
", "
man
rợ
",
v́
chúng
ta
ngay
cả "
Cảm
ơn!
", "
Xin
lỗi!
"
đều
cũng
không
biết
nói.
Điều
này
hoàn
toàn
không
phải
tôi
đặt
điều.
Nhân
dân
Trung
Quốc,
về
lễ
độ -
biểu
hiện
của
văn
minh
-
không
thể
nào
sánh
được
với
nhân
dân
Mỹ,
cũng
không
thể
sánh
được
với
Nhật
Bản
và
Nam
Hàn.
Nếu
không
có
cái
văn
minh
sinh
hoạt
cơ
bản,
làm
sao
có
thể
c̣n
huênh
hoang
được
về
cái
văn
hóa
của
tổ
tiên
đă
bị
mai
một
rồi
?
Không
có
văn
minh
làm
sao
có
được
văn
hóa
?
Cho
dù
có
văn
minh
th́
cũng
chỉ
là
một
thứ
văn
minh
lai
căng,
c̣n
nói
cái
văn
hóa
Trung
Quốc
nào
nữa
?
9
-
Không
thể
bôi
nhọ
văn
hóa
Trung
Quốc
Tại
Đài
Loan,
những
người
biết
tiếng
ông
Bá
Dương
không
phải
ít.
Ngay
cả
tôi,
tuy
chưa
hề
đọc
tác
phẩm
nào
của
nhà
văn
này,
nhưng
v́
nghe
đồn
đại
măi
về
sự
từng
trải,
cảnh
ngộ
của
ông
rồi
cũng
thành
ra
biết.
Hai
mươi
năm
trước
Bá
Dương
viết
tạp
văn
ở
Đài
Loan.
Thời
ấy
xă
hội
Đài
Loan
c̣n
là
một
xă
hội
đóng
kín,
khô
khan,
nhạt
nhẽo.
Tạp
văn
của
ông
đương
thời
đă
là
một
thang
thuốc
mát
mẻ
thích
ứng
với
những
ḷng
người
bị
ngột
ngạt.
Chính
v́
thế
tạp
văn
của
ông
đă
làm
ông
nổi
tiếng.
Nhưng
ở
đời
thường
những
sự
thuận
lợi
dễ
dàng
nhiều
khi
vẫn
mang
lại
cái
rủi
ro
rất
lớn.
Ông
viết
rất
nhiều,
trên
trời
dưới
biển
không
chuyện
ǵ
không
động
đến,
lại
không
biết
che
đậy
dấu
diếm,
sao
tránh
được
việc
xúc
phạm
vào
vùng
đất
cấm,
vào
các
húy
kỵ
của
thời
đại.
Kết
quả
là
sau
đó
ông
bị
tống
đi
Lục
Đảo
để
đóng
cửa
nghiền
ngẫm
sự
đời.
Đến
khi
được
phóng
thích,
tiếng
tăm
của
ông
lại
càng
lẫy
lừng;
thừa
thắng
xông
lên,
cái
ngang
ngược
của
ông
lại
càng
ghê
gớm.
Chửi
bới
một
nhóm
người
chưa
đă,
ông
bèn
vung
roi,
phê
kim
b́nh
cổ.
Ngay
cả
cái
văn
hóa
5.000
năm
của
Trung
Quốc
cũng
bị
ông
đánh
tơi
bời.
Gần
đây
tôi
được
đọc
trên
báo
"
Luận
Đàn
"
bài
diễn
thuyết
của
Bá
Dương
tại
Đại
học
Iowa
(Mỹ)
nhan
đề "
Người
Trung
Quốc
xấu
xí "
;
đọc
xong
ḷng
đầy
xúc
cảm.
Đúng
thế
!
Một
nước
to
lớn
như
Trung
Quốc,
mà
người
cứ
nghèo,
chí
cứ
thấp,
cùng
quẫn
lâu
dài
th́
sẽ
không
thể
nào
thống
nhất
được
măi,
đến
lúc
nào
đó
sẽ
không
khỏi
bị
tan
ră.
Ngay
ngày
hôm
nay
cũng
đă
có
một
bộ
phận
người
Trung
Quốc
ở
ngoài
nước
vượt
được
qua
tŕnh
độ
đại
học
đă
không
c̣n
thừa
nhận
ḿnh
là
người
Trung
Quốc,
và
tuyên
bố
thẳng
thừng
là
chẳng
c̣n
ǵ
dính
líu
đến
nước
này
nữa.
Hiện
nay
trên
thế
giới
có
lẽ
ngoài
cái
loại
người
như
Bá
Dương,
không
có
một
người
dân
thường
nào
ở
các
quốc
gia
nghèo
khổ,
v́
nịnh
nọt
hoặc
oán
hận
lại
vội
vàng
đi
bôi
nhọ
đồng
bào
và
văn
hóa
mà
ḿnh
vẫn
c̣n
sống
nhờ
vào
đó.
Nhà
khoa
học
lớn
người
Hy
Lạp
ác-Si-Mét
có
nói
: "
Hăy
cho
tôi
một
điểm
tựa,
tôi
sẽ
bẩy
được
cả
quả
đất
".
Đại
khái
Bá
Dương
cũng
mơ
t́m
được
một
điểm
tựa
-
cái
văn
hóa
hũ
tương
của
ông
- và
dùng
điểm
tựa
này
để
tấn
công
vào
vận
mệnh
văn
hóa
của
một
nước
lớn
hơn
một
tỷ
người.
Tại
những
nước
giầu
có,
người
dân
nói
về
sự
xấu
xa
của
quốc
gia
ḿnh
th́
cũng
đă
có
hai
quyển
sách
đă
chào
đời.
Sau
Đệ
nhị
Thế
chiến,
có
một
vị
người
Mỹ
viết
một
quyển
gọi
là "
Người
Mỹ
xấu
xí
".
Một
vị
khác
người
Nhật
sau
đó
vài
năm
cũng
vội
vàng
viết
cuốn
"
Người
Nhật
xấu
xí
".
Hai
tác
giả
này
cảm
thấy
người
nước
ḿnh
hoặc
v́
tính
t́nh
kiêu
xa,
hoặc
v́
thiếu
lễ
độ
đạo
đức,
mới
viết
văn
cảnh
tỉnh
mọi
người.
Đặc
biệt
để
nhấn
mạnh
những
điều
không
đồng
t́nh,
ông
tác
giả
Nhật
bất
chấp
đang
ở
giữa
nhiệm
kỳ
đại
sứ
tại
nước
ngoài,
đă
cho
in
luôn.
Việc
phải
đến
tất
đến,
cái
hành
vi
sai
trái
của
một
nhân
viên
nhà
nước
ấy
đă
làm
ông
mất
chức.
Nhưng
qua
việc
này
ta
có
thể
thấy
được
tấm
ḷng
thành
của
ông
ta
đối
với
đất
nước
như
thế
nào.
Tôi
đă
sống
ở Mỹ
hơn
10
năm,
không
lạ
ǵ
chuyện
người
Mỹ
khá
bận
rộn
trong
cuộc
sống
thường
ngày.
Hàng
ngày,
v́
việc
này
việc
nọ
bận
đến
không
có
thể
rứt
ra,
nên
một
quyển
sách
dẫu
hay
như
quyển
"
Người
Mỹ
xấu
xí "
có
lẽ
cũng
chẳng
làm
cho
người
Mỹ
b́nh
thường
nào
cảm
thấy
thích
thú
được.
Theo
tôi,
số
người
Mỹ
biết
đến
quyển
sách
này
không
nhiều,
đọc
được
kỹ
nó
có
lẽ
c̣n
ít
hơn
nữa.
T́nh
h́nh
ở
Đài
Loan
lại
khác
hẳn.
Dù
công
thương
nghiệp
đang
phát
triển
mạnh
mẽ,
dù
cuộc
sống
thường
ngày
của
người
dân
chẳng
được
nhàn
hạ
ǵ,
nhưng
cái
thú
ṭ
ṃ
hiếu
kỳ
nơi
con
người
lại
không
hề
giảm
thiểu.
Nếu
các
ngài
không
tin
th́
cứ
đến
khu
chợ
Tây
Môn
Đỉnh,
vừa
đi
chầm
chậm
vừa
ngửa
cổ
nh́n
lên
trời,
th́
tôi
bảo
đảm
với
các
ngài
rằng
chỉ
trong
khoảnh
khắc
những
người
chung
quanh
cũng
sẽ
đều
nghển
cổ
nh́n
lên
trời
xem
có
ǵ
không.
Người
dân
sống
ở
Đài
Loan
đối
với
những
sự
vật
xung
quanh
ḿnh
đều
rất
ṭ
ṃ.
Cho
nên
quyển
sách
của
Bá
Dương
vừa
ra
đời
một
cái,
dù
không
như
giấy
quư
Lạc
Dương,
nhưng
chắc
chắn
bán
rất
chạy.
Nhiều
người
Trung
Quốc
khi
căi
nhau
mồm
miệng
thường
thường
không
lựa
lời,
chửi
nhau
đến
cả
ba
đời
tổ
tông.
Nguyên
nhân
v́
người
Trung
Quốc
rất
trọng
chữ
hiếu,
nên
động
đến
tổ
tông
tức
có
thể
làm
cho
đối
phương
đau
và
giận
nhất.
Nhưng
Bá
Dương
-
trong
quyển
sách
ông
viết
- đă
chứng
tỏ
kỹ
thuật
chửi
của
ḿnh
c̣n
tinh
thâm
hơn.
Ông
dè
bỉu
cả
một
nền
văn
hóa.
Đó
là
cách
trút
giận
hay
nhất
bằng
cách
tóm
cổ
cả
bọn
Trung
Quốc
cùng
một
lúc.
Nếu
rập
khuôn
theo
công
thức
của
Bá
Dương
mà
nói
th́
"
Đất
nào
quả
nấy,
xă
hội
nào
nhân
tài
ấy
",
và
nhân
tài
Bá
Dương
đúng
là
đă
làm
được
cái
ḿnh
muốn.
Ông
đă
chửi
cả
bàn
dân
thiên
hạ
người
Trung
Quốc.
Lịch
sử
hiện
đại
Trung
Quốc
là
lịch
sử
của
một
dân
tộc
đầy
rẫy
tai
họa.
Xâm
lăng
từ
bên
ngoài,
loạn
lạc
bên
trong,
nghèo
khó,
khổ
nạn
lâu
dài
làm
cho
đức
tự
tin
dân
tộc
của
người
Trung
Quốc
đă
bị
suy
giảm.
Quốc
gia
chúng
ta
ngày
nay
bị
chia
đôi.
Trung
Cộng
ở
lục
địa
th́,
ôi
thôi,
nghèo
khổ,
lạc
hậu
! ở
Đài
Loan
t́nh
trạng
hiện
nay
có
khá
hơn
với
lợi
tức
trung
b́nh
hàng
năm
hơn
3.000
đô-la
Mỹ,
nhưng
so
với
hai
nước
Mỹ,
Nhật
th́
thật
ra
vẫn
c̣n
là
một
xứ
sở
bần
cùng.
V́
vậy
người
Trung
Quốc
ở
giai
đoạn
này
nên
chú
trọng
đến
một
câu
thích
hợp
với
cái
t́nh
thế
của
ḿnh
hơn,
đó
là "
Bần
nhi
vô
xiển
" (nghèo
nhưng
không
nịnh),
c̣n
cái
câu
"
Phú
nhi
vô
kiêu
" (giầu
nhưng
không
kiêu),
hoặc
"
Phú
nhi
hảo
lễ "
(giầu
mà
biết
cư
xử)
chưa
phải
là
chuyện
ngay
trước
mắt,
e
rằng
cái
đó
c̣n
phải
chờ
đến
một
nửa
thế
kỷ
nữa.
Đến
lúc
đó
có
nói
đến
quyển
"
Người
Trung
Quốc
xấu
xí "
của
Bá
Dương
cũng
vẫn
chưa
muộn.
Nhưng
đáng
tiếc
là
Bá
Dương
lại
quá
quan
tâm
đến
danh
lợi
trước
mắt
nên
không
nghĩ
như
vậy.
Ông
ta
muốn
bắt
chước
người
Nhật,
người
Mỹ
để
làm
người
Trung
Quốc
đầu
tiên
bêu
riếu
cái
xấu
của
người
Trung
Quốc
ra,
càng
sớm
chừng
nào
càng
tốt
chừng
đó.
Kế
hoạch
của
ông
ta
rất
lớn,
ông
không
chỉ
chuẩn
bị
nó
theo
kiểu
một
người
một
ngựa,
mà
hy
vọng
mọi
người
cũng
nhất
tề
xông
vào
cùng
ông
tham
chiến,
cùng
giúp
ông
làm
cái
việc
bôi
nhọ
Trung
Quốc
cho
được
rầm
rộ
thêm.
Có
lẽ
v́
có
được
cái
kinh
nghiệm
phải
trả
giá
đắt
ở
trong
tù,
Bá
Dương
biết
rằng
phàm
việc
ǵ
muốn
thành
công
phải
suy
nghĩ
kỹ
và
có
mưu
sâu.
Ông
mời
mọi
người
cùng
viết
với
ông,
để
thứ
nhất
:
gây
thanh
thế
lớn,
tăng
thêm
hiệu
quả
việc
bôi
nhọ
này;
thứ
hai:
nhỡ
không
may
gặp
phải
tai
vạ
sau
này
th́
c̣n
có
người
đưa
cơm
nước
vào
nhà
lao
cho.
Đúng
là
nhất
cử
lưỡng
tiện.
Bây
giờ
chúng
ta
hăy
thử
xem
chiến
dịch
bôi
nhọ
văn
hóa
Trung
Quốc
do
Bá
Dương
tiến
hành
gây
ảnh
hưởng
đến
những
người
dân
lương
thiện
như
thế
nào
bằng
cách
lấy
ngay
những
ví
dụ
mà
Bá
Dương
đă
đơn
cử :
Chuyến
đi
Mỹ
của
vợ
chồng
Bá
Dương
đến
Iowa
một
phần
do
chủ
nhà
hàng
Yến
Kinh
là
ông
Bùi
Trúc
Chương
tài
trợ.
Bá
Dương
tuyên
bố
ông
Bùi
đă
thổ
lộ
với
ḿnh
như
thế
này
:
"
Trước
khi
đọc
sách
của
ông,
tôi
cho
rằng
người
Trung
Quốc
là
ghê
gớm
lắm.
Sau
khi
đọc
sách
của
ông
xong,
quan
niệm
của
tôi
đă
thay
đổi.
V́
vậy
tôi
muốn
mời
ông
đến
để
gặp
mặt
".
Bá
Dương
nói
thêm
:
"
Lúc
ông
Bùi
đă
thấy
văn
hóa
chúng
ta
có
vấn
đề
mới
tự
hỏi
phải
chăng
đấy
là
do
phẩm
chất
của
người
Trung
Quốc
chúng
ta
có
vấn
đề ?
"
Đối
với
câu
hỏi
của
ông
Bùi,
Bá
Dương
đă
dùng
cái
kiến
thức
uyên
thâm
để
trả
lời
như
thế
này
:
"
Tôi
không
nghĩ
rằng
phẩm
chất
chúng
ta
có
vấn
đề,
đó
không
phải
là
một
điều
an
ủi.
Người
Trung
Quốc
có
thể
là
một
trong
những
dân
tộc
thông
minh
nhất
thế
giới.
Tại
các
đại
học
Mỹ
những
người
xếp
hạng
đầu
bảng
thường
là
người
Trung
Quốc,
nhiều
nhà
khoa
học
lớn
-
gồm
cả
người
cha
đẻ
của
nền
khoa
học
nguyên
tử
lực
Trung
Quốc
Tôn
Quan
Hán,
được
giải
Nobel
như
Dương
Chấn
Ninh,
Lư
Chính
Đạo
đều
là
những
bộ
óc
hàng
đầu.
Tôi
cho
rằng
người
Trung
Quốc
chúng
ta
vốn
có
phẩm
chất
cao
quư
".
Một
phẩm
chất
cao
quư
?
Th́
ra
cái
phẩm
chất
mà
ông
ta
muốn
nói
đó
chỉ
là
thứ
phẩm
chất
sinh
lư
(sinh
vật)
chứ
không
phải
là
phẩm
chất
văn
hóa.
Nhưng
trên
phương
diện
sinh
vật
học,
các
dân
tộc
và
các
giống
người
trên
trái
đất
đều
có
một
bộ
năo
không
hơn
kém
nhau
mấy
về
kích
cỡ.
Các
nhà
khoa
học
đều
không
tin
vào
thuyết
có
sự
sai
biệt
về
phẩm
chất
của
bộ
óc
giữa
các
dân
tộc.
Tại
sao
có
dân
tộc
vào
một
thời
kỳ
nào
đó
lại
biểu
lộ
óc
thông
minh
đặc
biệt,
nhưng
về
sau
lại
bị
suy
đồi,
tàn
lụi
đi ?
Tại
sao
người
Anh
ở
thời
đại
Newton
(Newton)
nhân
tài
không
ngừng
xuất
hiện,
mà
bây
giờ
lại
như
tuổi
già
sắp
chết,
không
c̣n
sinh
khí
nữa
?
Người
Anh
thời
nay
và
người
Anh
ở
thời
đại
Newton
đầu
óc
không
giống
nhau
hay
sao
?
Chúng
ta
thấy
một
điều
là
người
mù
thường
vẫn
có
một
thính
lực
phi
thường.
Kỳ
thực
các
tế
bào
thính
giác
của
họ
cũng
chẳng
khác
ǵ
những
người
khác,
chẳng
qua
v́
người
mù
cần
phải
khai
thác
tiềm
năng
thính
giác
của
họ
nhiều
hơn
so
với
người
b́nh
thường
mà
thôi.
Người
Trung
Quốc
học
rất
giỏi.
Năng
lực
trí
tuệ
vào
bậc
nhất.
Nhiều
nhà
xă
hội
học,
tâm
lư
học,
giáo
dục
học
đang
t́m
hiểu
xem
việc
này
có
phải
do
nguyên
nhân
văn
hóa
Trung
Quốc
không.
Hễ
dân
tộc
nào
mà
uống
vào
cái
văn
hóa
có
đầy
tính
dẻo
dai,
bền
bỉ
mà
mạnh
mẽ
cứng
cỏi
này
đều
có
khả
năng
trị
được
bệnh
lười
và
bệnh
ngu.
Giống
như
Nhật
Bản,
Nam
Hàn
đều
là
những
ví
dụ
rành
rành
trước
mắt.
Giở
những
tạp
chí
khoa
học
có
uy
tín
của
Mỹ
như
"
Vật
lư
quan
sát
" ta
sẽ
thấy
mỗi
một
kỳ
số
lượng
các
bài
người
Trung
Quốc
gửi
đăng
nhiều
kinh
khủng.
Cho
nên
có
thể
nói
rằng
văn
hóa
là
một
yếu
tố
của
phẩm
chất
thông
minh.
Mỗi
khi
tôi
đi
trên
mảnh
đất
lớn
của
Trung
Quốc,
bất
kỳ ở
xó
xỉnh
nào,
đối
diện
với
đám
đông
người,
nơi
tâm
linh
tôi
thường
rạo
rực
cảm
thấy
một
thứ
trí
tuệ
mênh
mông
không
bờ
bến.
Cái
" Hũ
tương
luận
"
của
Bá
Dương
đă
chà
đạp
văn
hóa
Trung
Quốc
rất
nhiều.
Nhưng
muốn
mà
vẫn
không
thể
hạ
thấp
được
trí
thông
minh
của
người
Trung
Quốc,
nên
ông
đành
phải
tách
nó
ra
khỏi
phẩm
chất
văn
hóa
của
Trung
Quốc.
Đấy
là
v́
Bá
Dương
không
nh́n
lại
vấn
đề
nhân
quả,
" Hũ
tương
luận
" là
hậu
quả
của
một
sự "
xét
đoán
"
thiếu
suy
nghĩ
trên
nhiều
mặt.
Bá
Dương
nói
rằng
người
Trung
Quốc
đă
cống
hiến
rất
ít
cho
văn
hóa
nhân
loại.
Từ
thời
Khổng
Tử
về
sau
mấy
ngh́n
năm
cũng
không
sản
sinh
được
thêm
một
nhà
tư
tưởng
nào
lớn
nữa.
Cái
văn
hóa
này
như
một
đầm
nước
ao
tù.
Đó
là
cái
hũ
tương
văn
hóa.
Hũ
tương
bị
thối
làm
cho
người
Trung
Quốc
biến
thành
xấu
xa.
Cái
cách
suy
luận
này
nếu
nói
cho
có
vẻ
thanh
nhă
th́
nó
rất
nghèo
nàn,
dung
tục;
c̣n
nếu
nói
một
cách
sỗ
sàng
th́
nó
là
một
sự
giỡn
mặt,
đùa
dai.
Học
tṛ
trung
học
đều
biết
:
sau
Khổng
Tử
có
Mạnh
Tử,
sau
đó
lại
có
Chu
Hy,
Vương
Dương
Minh,
v.v...là
những
nhà
lư
học
lớn
(triết
gia
duy
tân).
Những
vị
này
đều
là
những
nhà
tư
tưởng
lớn,
nhưng
không
phải
không
có
thể
đếm
được
trên
đầu
ngón
tay.
Ta
hăy
thử
bàn
một
tư
về
Mạnh
Tử.
Tư
tưởng
chính
trị
của
Khổng
Tử
được
nói
đến
trong
thiên
" Lễ
vận
"
của
" Lễ
kư "
rất
cụ
thể,
có
hệ
thống
;
nhưng
hệ
thống
tư
tưởng
này
không
phải
không
có
chỗ
sai
sót,
sơ
hở,
và
nó
đứng
vững
được
như
một
quốc
sách
hay
không
cũng
vẫn
c̣n
là
một
vấn
đề
cần
phải
đắn
đo,
cân
nhắc.
Khổng
Tử
bàn
về
vua,
luận
về
dân,
nhưng
đáng
tiếc
ông
đă
không
làm
sáng
tỏ
cái
quan
hệ
giữa
hai
bên
với
nhau.
Đến
thời
Mạnh
Tử,
cái
lư
luận
chính
trị
của
nhà
nho
mới
tiến
lên
một
bậc
và
đi
đến
được
chỗ
đột
phá.
Mạnh
Tử
nói
: "
Vua
sai
lầm
lớn
th́
phải
can
gián.
Nếu
lại
cứ
tiếp
tục
sai
mà
không
nghe
lời
can
ngăn
tức
phải
truất
ngôi.
"
(Quân
hữu
đại
quá
tắc
gián,
phản
phục
chi
nhi
bất
thính,
tắc
dịch
vị).
Lại
nói
: "
Dân
mới
quư,
và
sau
đó
mới
đến
nước
nhà,
c̣n
vua
th́
không
có
ǵ
là
quan
trọng
"
(Dân
vi
quư,
xă
tắc
thứ
chi,
quân
vi
khinh).
Mạnh
Tử
nói
rơ
rằng
quốc
gia
và
chế
độ
quân
chủ
đều
do
dân
mà
ra,
nếu
làm
vua
một
nước
mà
không
xứng
đáng
với
chức
vụ
của
ḿnh
th́
phải
phế
bỏ
đi.
Cái
cơ
bản
nhất
trong
tư
tưởng
trác
tuyệt
của
Khổng
Tử
là
câu
"
Thiên
hạ
là
của
mọi
người
"
(Thiên
hạ
vi
công),
mà
chủ
nghĩa
lấy
dân
làm
gốc
của
Mạnh
Tử
đă
nói
rơ
cái
chữ
"
Công
"
này
nghĩa
là "
Dân
".
V́
vậy,
"
Thiên
hạ
vi
công
" có
thể
được
tóm
lược
vào
hai
ư
niệm
dân
chủ
là "
của
dân
" và
" v́
dân
".
Dân
tộc
Trung
Quốc
suốt
2.000
năm
cùng
xưng
tụng
Khổng
Tử
và
Mạnh
Tử
v́
thực
ra
Mạnh
Tử
đă
phát
huy
rộng
răi
và
làm
sáng
tỏ
tư
tưởng
của
Khổng
Tử.
Nếu
nói
đến
vấn
đề
người
Trung
Quốc
cống
hiến
rất
ít
cho
văn
hóa
nhân
loại
th́
theo
tôi
cần
phải
giải
thích
từ
một
góc
độ
khác.
Sự
truyền
bá
của
văn
hóa
nhân
loại
hoàn
toàn
tùy
thuộc
vào
vấn
đề
thông
tin.
Mà ở
thời
cổ
đại
sự
thông
tin
đều
dựa
trên
sức
người,
qua
lối
giao
thông
đường
thủy
hoặc
đường
bộ
mà
lan
ra.
Cho
nên
yếu
tố
địa
lư
đối
với
sự
phát
triển,
truyền
bá
văn
minh
cổ
đại
là
một
vấn
đề
then
chốt.
Cho
tới
ngày
nay
t́nh
trạng
này
cũng
vẫn
vậy.
Một
nước
nhỏ
ở
dưới
chân
núi
Hy-ma-la-ya
như
nước
Bu-Tan
(Bhutan)
thử
hỏi
làm
sao
có
thể
phát
triển
công
thương
nghiệp
như
Đài
Loan,
Hồng
Kông,
Singapore
?
Địa
thế
Trung
Quốc
nằm
ở
đại
lục
Đông
á,
phía
tây
có
sa
mạc
lớn
chạy
dài,
các
đường
giao
thông
với
Tây
phương
đều
xa
vời
và
hiểm
trở.
Cái
điều
kiện
bất
lợi
về
địa
thế
này
làm
cho
phạm
vi
hoạt
động
của
Trung
Quốc
bị
giới
hạn
vào
một
góc
á
châu.
Từ
mấy
ngh́n
năm
nay
người
Trung
Quốc
phàm
việc
ǵ
cũng
phải
tự
lực
cánh
sinh.
ở
vào
hoàn
cảnh
thiếu
sự
tiếp
xúc
với
bên
ngoài,
nền
văn
hóa
Trung
Quốc
trở
thành
một
thứ
văn
hóa
riêng
biệt,
rất
lẻ
loi,
trơ
trọi.
Thế
giới
Tây
phương
lại
hoàn
toàn
khác
hẳn.
Các
khu
vực,
các
dân
tộc
cả
ngh́n
năm
có
giao
lưu,
nối
liền
với
nhau,
tập
trung
trí
tuệ
rộng
răi
nên
thu
được
nhiều
kết
quả
lớn.
Văn
hóa
Tây
phương
v́
vậy
đă
năm
lần
bảy
lượt
có
những
bước
đột
phá
để
đến
được
thành
tựu
như
ngày
hôm
nay.
Nếu
ví
thử
từ
xưa
đến
giờ
không
tồn
tại
những
trở
ngại
địa
lư
đối
với
việc
trao
đổi
văn
hóa
giữa
Đông-Tây,
hoặc
giả
Trung
Quốc
là
một
nước
nằm
từ
xưa
ở
Châu
Âu,
th́
chúng
ta
có
lư
do
để
tin
tưởng
rằng
sự
cống
hiến
của
người
Trung
Quốc
sẽ
cực
kỳ
nhiều
và
trọng
đại
đối
với
văn
hóa
nhân
loại.
Cái
tư
tưởng
lấy
dân
làm
gốc
của
Nho
gia
Trung
Quốc
từ
2.000
năm
nay
chắc
chắn
có
ảnh
hưởng
tích
cực
đối
với
sự
giải
phóng
các
xă
hội
La
Mă,
Hy
Lạp
thời
kỳ
nô
lệ.
Tần
Thủy
Hoàng
sau
khi
băi
bỏ
được
chế
độ
phong
kiến
đă
triển
khai
một
chế
độ
chính
trị
trong
đó
những
người
dân
b́nh
thường
cũng
được
tham
dự
vào
việc
chính
trị.
Sự
kiện
này
có
lẽ
cũng
đă
thức
tỉnh
được
Âu
châu
trong
thời
trung
cổ
phong
kiến.
Lại
c̣n
có
một
loạt
phát
minh
lớn
lao
của
người
Trung
Quốc,
như
kỹ
thuật
ấn
loát,
nếu
được
đưa
vào
Âu
châu
sớm
hơn
500
năm
th́
thế
giới
thế
kỷ
XX
này
chắc
chắn
không
như
ngày
hôm
nay.
Văn
hóa
Trung
Quốc
phát
triển
đến
một
đỉnh
cao
nào
đó
th́
ngừng
lại,
như
đă
nói,
chủ
yếu
v́
bị
hạn
chế
bởi
hoàn
cảnh
địa
lư;
và
v́
thế
mang
lấy
cái
thiệt
tḥi
của
một
nền
văn
hóa
riêng
lẻ.
Nhưng
người
Trung
Quốc
không
phải
là
một
dân
tộc
dẫm
chân
tại
chỗ.
Thật
ra
đối
với
văn
hóa
tư
tưởng
từ
bên
ngoài
đến,
Trung
Quốc
không
phải
là
nước
bài
ngoại
mạnh.
Một
trăm
năm
gần
đây
tại
Trung
Quốc
phát
sinh
một
loạt
những
sự
kiện
lịch
sử
đầy
kịch
tính.
Cách
đây
bẩy
mươi
năm,
cái
chế
độ
quân
chủ
lâu
đời
từ
mấy
ngh́n
năm
đă
sụp
đổ
chỉ
bởi
tiếng
súng
của
cuộc
khởi
nghĩa
Vơ
Xương.
Khổng
Tử -
trong
2.000
năm
đă
thâm
nhập
và
chiếm
giữ
cái
địa
vị
tối
cao
trong
ḷng
người
Trung
Quốc
-
nhưng
rồi
đă
không
chịu
nổi
những
tiếng
ḥ
hét
của
đám
thanh
niên
học
sinh
trong
phong
trào
Ngũ
Tứ,
và
phút
chốc
bị
mất
chỗ
đứng.
Sau
phong
trào
Ngũ
Tứ,
chủ
nghĩa
Mác
có
gốc
gác
từ
Âu
châu,
vừa
được
đề
xướng
đă
lập
tức
vang
dội
khắp
nước
Trung
Quốc
để
trở
thành
một
loại
học
thuyết
lẫy
lừng.
Chiến
tranh
Trung-Nhật
chấm
dứt,
sau
bốn
năm
nội
chiến,
Chính
phủ
Quốc
gia
(Quốc
Dân
Đảng)
rút
ra
Đài
Loan
th́
Trung
Quốc
lục
địa
đă
trở
thành
một
nước
cộng
sản
chủ
nghĩa.
Qua
34
năm
của
chế
độ
cộng
sản,
chính
phủ
của
một
tỷ
người
Trung
Quốc
lại
tuyên
bố
một
cách
chính
thức
với
mọi
người
rằng
chủ
nghĩa
Mác
không
thể
giải
quyết
được
những
vấn
đề
Trung
Quốc
vốn
có.
Người
Trung
Quốc
dám
làm,
dám
chịu,
dám
thay
đổi.
Trung
Quốc
bây
giờ
mà
thành
ra
nông
nỗi
này
không
phải
v́
nó
chỉ
khư
khư
ôm
lấy
cái
" hũ
tương
"
của
ḿnh
mà
không
dám
đập
vỡ.
Cách
Mạng
Văn
Hóa
Trung
Quốc
lại
chính
là
một
trường
hợp
trong
đó
người
ta
phủ
nhận
hoàn
toàn
giá
trị
văn
hóa
truyền
thống,
cho
nên
mới
chịu
cái
hậu
quả
khốn
khổ
đến
như
vậy.
Bá
Dương
bảo
: "
Cái
bẩn
của
người
Trung
Quốc
là
một
trong
những
cái
xấu
xí
của
họ
",
và
lại
c̣n
bảo
: "
Có
lẽ
so
với
người
ấn
Độ
lại
c̣n
bẩn
hơn
một
tư
".
Tôi
cho
rằng
tuyệt
đại
đa
số
người
Trung
Quốc
sẽ
không
đồng
ư
với
cách
nh́n
của
Bá
Dương.
Nếu
so
sánh
các
nước
ở á
Đông,
ta
thấy
mức
độ
sạch
sẽ
của
người
Nhật
chẳng
thua
bất
cứ
nước
nào
trên
thế
giới,
nước
Trung
Quốc
dân
quốc
ở
Đài
Loan
tuy
có
phần
kém
hơn,
nhưng
ấn
Độ
th́
phải
nói
là
tệ
nhất.
Mấy
năm
trước,
lúc
tổng
thống
Mỹ
Carter
đi
thăm
nước
ấn,
trong
chương
tŕnh
tin
tức
buổi
tối
ở
truyền
h́nh
Mỹ
chiếu
cảnh
tiệc
chiêu
đăi
của
chính
phủ,
trong
đó
ai
cũng
thấy
một
chiêu
đăi
viên
ấn
đứng
sau
lưng
Các-tơ
tay
cầm
một
cái
vỉ
để
đập
ruồi
cho
vị
thượng
khách.
Nếu
đem
so
sánh
điều
kiện
kinh
tế,
Nhật
Bản
là
nước
giầu
nhất,
Đài
Loan
ở
mức
trung
b́nh,
c̣n
ấn
Độ
th́
vào
loại
nghèo.
Như
vậy
chúng
ta
có
thể
nói
t́nh
trạng
vệ
sinh
của
một
dân
tộc
gắn
liền
với
điều
kiện
kinh
tế
của
nước
đó.
Ở
Los
Angeles
có
hai
khu
phố
Tàu
(Chinatown),
một
cái
ở
trung
tâm
(nơi
ông
Bá
Dương
bảo
tất
cả
đều
có
xu
hướng
bẩn,
loạn)
và
một
cái
ở
khu
công
viên
Mông-tơ-rây
(Monterrey
Park).
Khu
phố
Tàu
thứ
hai
sạch
sẽ
hơn
khu
thứ
nhất
nhiều.
Cả
hai
khu
này
đều
do
người
Trung
Quốc
làm
ra,
nhưng
phải
thấy
là
sự
khác
biệt
giữa
hai
khu
này
lại
tùy
thuộc
vào
mức
độ
giáo
dục
và
thu
nhập
của
người
Trung
Quốc
ở
mỗi
nơi.
Người
Trung
Quốc
khi
tán
gẫu
rất
ồn
ào
to
tiếng.
Cái
chuyện
không
b́nh
thường
này
cũng
được
Bá
Dương
quét
vào
trong
cái
thùng
tính
xấu
của
người
Trung
Quốc.
Ông
bảo
:
"
Tại
sao
tiếng
nói
người
Trung
Quốc
lại
to ?
Bởi
trong
ḷng
họ
không
cảm
thấy
được
yên
ổn.
Cứ
tưởng
tiếng
càng
to
th́
lư
lẽ
càng
mạnh.
Chỉ
cần
to
tiếng,
cao
giọng
th́
lư
lẽ
sẽ
về
ḿnh,
nếu
không
tại
sao
cứ
phải
gân
cổ
lên
như
thế
? "
Ông
Lương
Thực
Thu
trong
bài
"
Nhă
xá
tiểu
phẩm
"
nói
rằng
vấn
đề
người
Trung
Quốc
nói
to
có
thể
v́
cơ
bản
họ
vẫn
c̣n
là
người
ở
một
nước
nông
nghiệp.
Nông
dân
buổi
sáng
ra
đồng
thường
chào
hỏi
nhau
từ
những
khoảng
cách
xa
nên
phải
lớn
tiếng.
Có
người
lại
bảo
tiếng
họ
to
v́
vấn
đề
âm
điệu
của
tiếng
Hoa.
V́
người
Tô
Châu
nếu
dùng
tiếng
Ngô
Nùng
(vùng
Chiết
Giang),
âm
điệu
rất
thấp,
th́
cả
lúc
căi
nhau
thanh
âm
cũng
vẫn
cứ
nhỏ.
Theo
tôi
v́
tiếng
Trung
Quốc
là
tiếng
đơn
âm,
chữ
đồng
âm
quá
nhiều,
mỗi
âm
lại
có
đến
bốn
âm
tiết
khác
nhau
(tiếng
tiêu
chuẩn).
Cho
nên
lúc
nói
nếu
không
đủ
to
th́
rất
khó
hiểu.
Nhất
là
khi
nói
nhanh,
nếu
không
nói
lớn
lại
càng
không
có
cách
nào
hiểu
được.
Chúng
ta
đều
có
kinh
nghiệm
khi
đi
xem
xi-nê
bằng
tiếng
Trung,
thường
thường
nếu
cùng
lúc
không
có
phụ
đề
bằng
chữ
Hán
trợ
giúp,
mà
chỉ
nghe
tiếng
không
thôi,
th́
không
thể
hiểu
được.
Đó
là
v́
lư
do
trên.
Về
mặt
văn
phạm,
tiếng
Trung
Quốc
lại
cũng
chẳng
giống
loại
tiếng
nào
cả.
Nó
không
có
thể
giả
định
(Subjunctive
mood)
như
tiếng
Anh,
khiến
người
Trung
Quốc
lúc
nói
thường
phải
hoa
chân
múa
tay
để
giúp
mồm
miệng
lên
bổng
xuống
trầm
cho
ư
tưởng
diễn
đạt
của
ḿnh
được
rơ
ràng
hơn.
Nói
tiếng
Trung,
nếu
muốn
nói
nhỏ,
phải
nói
thật
chậm
và
rơ
ràng,
kéo
dài
phần
phát
âm
của
từng
chữ
ra
th́
người
nghe
mới
hiểu
rơ.
Theo
tôi
nhận
thấy
cái
bệnh
nói
to
của
người
Trung
Quốc
chẳng
có
thuốc
nào
chữa
được.
Nếu
đă
không
có
thuốc
chữa
th́
chúng
ta
cũng
có
thể
xem
cái
đức
tính
nói
oang
oang
này
là
một
loại
quốc
hồn
quốc
túy.
Như
vậy
không
được
hay
sao
?
Cái
giao
thông
hỗn
loạn
ở
Đài
Loan
th́
ai
cũng
biết
rồi.
Đó
là
một
sự
thực
không
thể
chối
căi.
Nhưng
đối
với
Bá
Dương,
người
lấy
điểm
xuất
phát
là
những
cái
xấu
xa,
th́
nó
lại
là
một
yếu
tố
để
quy
tội
cho
cái
văn
hóa
Trung
Quốc.
Ông
ta
bảo
:
"
Cũng
chính
v́
cái
hũ
tương
sâu
không
lường
được
này
nên
đối
với
biết
bao
vấn
đề
người
Trung
Quốc
đều
không
dùng
tư
duy
của
ḿnh
để
tự
giải
quyết,
mà
phải
bắt
chước,
phải
dùng
cái
tư
duy
của
kẻ
khác.
Cái
nước
ao
tù
này,
cái
hũ
tương
này
có
vứt
mứt
đào
vào
cũng
sẽ
biến
thành
cứt
khô.
Những
thứ
ngoại
lai
một
khi
vào
Trung
Quốc
cũng
biến
chất.
Người
ta
có
dân
chủ,
chúng
ta
cũng
có
dân
chủ.
Nhưng
dân
chủ
của
chúng
ta
là "
mày
là
dân,
tao
là
chủ
".
Người
ta
có
pháp
chế,
chúng
ta
cũng
có
pháp
chế.
Người
ta
có
tự
do,
ta
cũng
có
tự
do.
Người
ta
có
ǵ,
ta
có
nấy.
Anh
có
chỗ
dành
riêng
cho
bộ
hành
sang
đường,
tôi
cũng
có,
dĩ
nhiên,
nhưng
chỗ
dành
cho
bộ
hành
của
chúng
tôi
là
chỗ
để
dụ
dỗ
họ
đến
cho
xe
cán
chết
".
Tôi
cũng
đă
suy
nghĩ
về
vấn
đề
này
nhiều
năm,
xin
đưa
ra
đây
vài
ư
kiến
để
đóng
góp
với
những
người
quan
tâm
đến
nó.
Cái
trật
tự
giao
thông
ở
Đài
Loan
mỗi
năm
mỗi
tiến
bộ,
v́
số
xe
cộ
càng
ngày
càng
đông.
Trên
đường
cứ
càng
nhiều
xe
th́
áp
lực
ngày
càng
tăng
đối
với
người
lái
xe,
làm
cho
họ
phải
càng
tôn
trọng
luật
đi
đường,
đó
là
cái
hậu
quả
tất
yếu
của
việc
"
vừa
sống
vừa
học
tập
".
Tại
Mỹ
trừ
những
người
lái
xe
b́nh
thường
ra,
tôi
vẫn
thường
nghe
nói
c̣n
có
loại
người
lái
xe "
tự
vệ
".
Những
người
lái
xe "
tự
vệ "
này
khác
những
người
lái
xe "
tiêu
chuẩn
" ở
chỗ
họ
có
thêm
hai
đức
tính
:
không
sử
dụng
quyền
ưu
tiên
của
ḿnh,
và
đối
với
những
người
phạm
luật
khác
họ
không
t́m
cách
trả
đũa.
ở
Đài
Loan
những
người
lái
xe
b́nh
thường
ít
nhiều
cũng
có
một
hoặc
hai
đức
tính
này,
nhưng
bản
thân
họ
vẫn
chưa
phải
là
những
người
lái
xe "
tiêu
chuẩn
"
thông
thường.
V́
vậy
giao
thông
Đài
Loan
mới
phát
sinh
cái
hiện
tượng
"
bất
loạn
trong
cái
đại
loạn
",
và
cái
"
đại
loạn
rất
là
kinh
dị
trong
cái
bất
loạn
đó
".
Tại
sao
có
chuyện
người
Trung
Quốc
và
người
Mỹ
khi
lái
xe
lại
khác
nhau
?
Nếu
chúng
ta
so
sánh
cách
thi
bằng
lái
xe ở
hai
bên
bờ
Thái
B́nh
Dương
th́
sẽ
thấy
ngay
manh
mối
của
việc
này.
Người
Mỹ
học
lái
xe
ngay
ở
ngoài
đường,
từ
lúc
bắt
đầu
đă
phải
học
và
tuân
theo
các
quy
tắc
an
toàn
của
giao
thông.
Đến
lúc
đi
thi
cũng
thi
ngoài
đường,
ngoài
vấn
đề
lái
ở
những
nơi
có
rất
nhiều
xe
c̣n
phải
kiểm
soát
tốc
độ,
cự
ly
sau
trước,
qua
ngă
tư,
chọn
tuyến
phải
trái,
chuyển
đường,
giữ
ưu
tiên,v.v...Như
vậy
trong
tâm
lư
người
thi
đồng
thời
h́nh
thành
được
cái
khuôn
phép
của
một
người
lái
xe "
tiêu
chuẩn
" để
có
thể
dùng
vào
việc
lái
xe
trong
thực
tế
sau
này.
Tại
Đài
Loan
lại
không
như
thế.
Lúc
học
lái
xe
trong
những
khuôn
viên
cố
định
của
nhà
trường,
người
tập
lái
học
các
động
tác
bẻ
lái,
đạp
phanh,
nhấn
ga
v.v...
Sau
đó
lúc
đi
thi
họ
được
trắc
nghiệm
bởi
những
thiết
bị
điện
của
Sở
Lục
lộ.
Đỗ
xong
cái
mảnh
bằng
đó,
thay
v́
gọi
là
bằng
lái,
nhẽ
ra
phải
gọi
là
bằng
"
thao
tác
"
th́
mới
đúng.
Đến
khi
lái
ra
đường
lớn,
trong
ḷng
hoàn
toàn
chưa
có
khuôn
phép,
vẫn
rẽ
ngang
đảo
dọc
như
một
kẻ
dă
man
không
theo
một
quy
tắc
nào
cả.
Ngay
đến
những
người
đă
lái
xe
mười
năm
hoặc
mấy
mươi
năm,
trong
ḷng
tuy
đă
có
khuôn
phép
thành
thục,
nhưng
đều
cũng
không
phải
là
những
tay
lái
tiêu
chuẩn,
nên
tùy
lúc,
tùy
thời
đều
có
thể
biến
dạng.
Tôi
gọi
đùa
đó
là
kiểu
tài
xế "
cao
su
".
V́
vậy
có
thể
nói
vấn
đề
giao
thông
ở
Đài
Loan
cuối
cùng
không
phải
là
vấn
đề
con
người,
càng
không
phải
vấn
đề
văn
hóa
nào
đó,
nhưng
là
một
vấn
đề
chính
sách.
Do
chính
sách
không
đúng
ngay
từ
đầu,
chính
quyền
sau
này
khó
có
thể
cải
tiến
cho
nó
khá
hơn
được.
Viết
đến
đây
tôi
lại
nhớ
đến
một
chuyện
mấy
năm
trước,
lúc
ông
Alexander
Solzhenitsyn
(A-lếch-xan-đơ
Giôn-xê-nhít-xin)
-
một
cây
bút
người
Nga
được
giải
thưởng
Nobel
về
văn
học
-
được
phóng
thích
đến
Mỹ.
Ông
được
mời
đến
diễn
thuyết
trong
một
buổi
lễ
đón
tiếp.
Ai
cũng
chờ
đợi
ông
sẽ
nói
đến
những
điều
hay
ho
về
vấn
đề
tự
do,
nhân
quyền.
Nhưng
trước
sự
ngạc
nhiên
của
mọi
người,
ông
lại
quay
sang
phê
b́nh
về
kinh
tế
Mỹ.
Ông
công
kích
những
nhà
buôn
Mỹ
v́
lợi
nhuận
đă
táng
tận
lương
tâm,
bỏ
vào
thức
ăn
những
chất
hóa
học
dùng
bảo
quản
thực
phẩm
rất
độc
hại.
Ông
diễn
thuyết
vừa
xong
th́
tờ
báo
lớn
của
Mỹ
The
NewYork
Time
(Thời
báo
New
York)
đă
lên
tiếng.
Tờ
báo
viết
:
" Dù
ông
Solzhenitsyn
(Giôn-xê-nít-xin)
ở
tại
Liên-xô
đă
kinh
qua
mọi
khổ
nạn
mà
không
hề
khuất
phục,
việc
này
làm
cho
mọi
người
rất
ngưỡng
mộ,
nhưng
không
phải
v́
vậy
mà
ông
có
quyền
được
tùy
tiện
phê
phán
xă
hội
Mỹ
".
Từ
đó
về
sau
không
ai
c̣n
nghe
ông
Solzhenitsyn
diễn
thuyết
cái
kiểu
đó.
Có
thể
ông
đă
tự
câm
như
hến,
hoặc
có
thể
không
ai
muốn
mời
ông
diễn
thuyết
nữa.
Trong
một
nước
có
chế
độ
tự
do
ngôn
luận,
mọi
người
đều
có
khả
năng
phát
biểu
ư
kiến
của
ḿnh,
ngay
cả
nói
những
điều
phương
hại
đến
kẻ
khác
mà
chính
phủ
hay
pháp
luật
không
thể
ngăn
cấm
được.
Nhưng
một
tờ
báo
lớn
lại
có
thể
trở
thành
một
sức
mạnh
trọng
tài,
và
có
khả
năng
làm
cho
người
nói
kia
ăn
không
ngon
ngủ
không
yên.
Người
Trung
Quốc
chúng
ta
chưa
có
cái
loại
báo
chí
có
thứ
quyền
uy
như
thế,
song
chúng
ta
có
dư
luận
quần
chúng.
Vậy,
những
người
Trung
Quốc
c̣n
lương
tâm
xin
hăy
đứng
lên,
v́
người
Trung
Quốc
chúng
ta,
v́
văn
hóa
Trung
Quốc
mà
nói
vài
câu
cho
lẽ
phải.
10 -
Văn
hóa
Trung
Quốc
:
bôi
nhọ
hay
đánh
phấn
Mấy
tháng
trước
ông
Bá
Dương
nói
chuyện
ở
Iowa
về "
Người
Trung
Quốc
xấu
xí "
làm
cho
cộng
đồng
người
Hoa
ở Mỹ
xôn
xao,
măi
đến
bây
giờ
vẫn
c̣n
gợn
sóng.
Từ
hai
tháng
nay
trên
tờ "
Luận
đàn
báo
" cơ
hồ
mỗi
kỳ
đều
có
một
hai
bài
thảo
luận
về
áng
văn
"
xấu
xí "
của
Bá
Dương.
Trong
số
ra
gần
đây
nhất
tôi
lại
được
đọc
bài
của
ông
Lưu
Tiền
Mẫn
nhan
đề "
Không
thể
bôi
nhọ
văn
hóa
Trung
Quốc
".
Ngoài
vấn
đề
chỉ
trích
ông
Bá
Dương
đă
bôi
nhọ
văn
hóa
Trung
Quốc,
ông
c̣n
đưa
ra
rất
nhiều
giải
thích
sách
vở
về
các
khuyết
điểm
của
người
Trung
Quốc.
Bài
văn
này
của
ông
Lưu
đă
chứng
tỏ
ông
mất
khá
nhiều
công
phu
để
suy
nghĩ
về
vấn
đề
văn
hóa
Trung
Quốc,
lại
cũng
nói
lên
cái
nhiệt
t́nh
của
ông
đối
với
nó.
Sự
nghiên
cứu
và
cái
nhiệt
t́nh
này
của
ông
làm
tôi
rất
khâm
phục.
Nhưng
có
nhiều
luận
điểm
của
ông
tôi
lại
không
thể
chấp
nhận
được.
Cho
nên
ở
đây
xin
thảo
luận
như
sau
:
1-
Ông
Lưu
bảo
người
Trung
Quốc
trước
hết
nên
"
bần
nhi
vô
xiển
" (nghèo
nhưng
không
nịnh),
c̣n
"
phú
nhi
vô
kiêu
" (giàu
nhưng
không
kiêu)
th́
chưa
cần
kíp
lắm.
Theo
thiển
ư
của
tôi
th́
hai
tâm
trạng
này
có
mối
quan
hệ
nhân
quả
rất
lớn.
Giả
sử
một
người
có
tiền,
có
quyền,
hết
sức
kiêu
căng,
lại
thích
người
ta
nịnh
nọt
ḿnh
th́
nhất
định
sẽ
có
những
chuyên
gia
nịnh
hót
(mà
Bá
Dương
gọi
là "
phái
đoàn
vẫy
đuôi
")
vây
quanh
người
đó.
Chỉ
khi
nào
các
vị
có
tiền,
có
quyền,
biết
tôn
trọng
bạn
bè
nghèo
th́
những
bạn
bè
nghèo
mới
có
thể
bắt
đầu
không
nịnh
nọt
được.
2-
Ông
Lưu
bảo
nước
Anh
ở
thời
đại
Newton
mới
phát
xuất
nhân
tài,
c̣n
thời
nay
chẳng
khác
nào
một
nước
không
c̣n
sinh
khí,
như
đến
tuổi
già
sắp
chết.
Vậy
để
xem
thử
cái
"
tuổi
già
sắp
chết
"
của
nước
Anh
bây
giờ
ở
mức
độ
nào,
ta
cứ
tiện
tay
dở
danh
mục
các
người
đoạt
giải
Nobel
từ
năm
1960
cho
đến
năm
1984
(không
nói
đến
cái
tỷ
lệ
cao
của
Đại
đế
quốc
Anh
lúc
vẫn
c̣n
hưng
thịnh
trước
năm
1960).
Ta
sẽ
thấy
trong
25
năm
đó
tổng
cộng
trên
153
người
đoạt
giải
ở
lĩnh
vực
khoa
học
(vật
lư,
hóa
học,
sinh
vật
và
ba
loại
y
học)
th́
người
Anh
đă
chiếm
25
giải
rưỡi
[năm
1975
một
nửa
giải
hóa
học
được
chia
cho
một
người
quốc
tịch
úc
làm
việc
hoàn
toàn
ở
Anh
là
John
Cornforth.
Từ
trước
đến
nay
người
gốc
Hoa
được
giải
vật
lư
có 3
vị,
nhưng
v́
đều
là
quốc
tịch
Mỹ,
làm
việc
nghiên
cứu
ở Mỹ
nên
trong
danh
sách
họ
chẳng
được
xem
là
người
Trung
Quốc
nữa.
Như
vậy
tỷ
lệ
số
người
Anh
đoạt
giải
chiếm
đúng
1
phần
6
của
tổng
số
thế
giới,
và
chỉ
đứng
sau
nước
Mỹ.
Đúng
là
sau
Thế
chiến
Thứ
nhất,
nước
Anh
đă
mất
địa
vị
ưu
thế
trong
lănh
vực
khoa
học
kỹ
thuật
của
thời
Newton,
nhưng
nếu
nói
là
nước
này
đang
ở
vào
t́nh
trạng
"
không
c̣n
sinh
khí
"
th́
chẳng
hóa
ra
là
quá
phóng
đại
lên
không
?
3-
Ông
Lưu
bảo
v́
phạm
vi
hoạt
động
của
người
Trung
Quốc
thủa
xưa
chỉ
loanh
quanh
ở
một
góc
châu
á,
cho
nên
không
có
lợi
cho
sự
phát
triển
văn
hóa.
Tôi
thấy
điều
này
rất
buồn
cười,
chẳng
khác
nào
ông
bảo
trước
khi
Tân
Thế
Giới
bị
chiếm
làm
thuộc
địa
th́
phạm
vi
hoạt
động
của
người
Tây
phương
không
bị
giới
hạn
trong
một
góc
Âu
châu
vậy.
Trung
Quốc
so
sánh
về
đất
đai
và
nhân
khẩu
cũng
xấp
xỉ
tương
đương
với
Âu
châu.
Thêm
vào
đó
lịch
sử
Trung
Quốc
c̣n
có
một
cục
diện
thống
nhất
trong
một
thời
gian
lâu
gấp
đôi
Âu
châu
(Âu
châu
từ
thời
Trung
cổ
về
sau
đă
chia
thành
bao
nhiêu
nước,
mỗi
nước
có
riêng
một
thứ
tiếng,
một
văn
hóa,
chính
trị,
tôn
giáo,...
chả
có
cái
nào
giống
cái
nào),
cho
nên
sự
giao
lưu
văn
hóa
giữa
các
khu
vực
với
nhau
đâu
phải
được
dễ
dàng
thuận
lợi
hơn
Trung
Quốc
như
ông
Lưu
nói.
Thế
tại
sao
Thời
đại
Phục
hưng,
Thế
kỷ
ánh
sáng,
nền
Chính
trị
Lập
hiến
Dân
chủ,
cuộc
Cách
mạng
Công
nghiệp,
tất
cả
đều
đă
ra
đời
tại
cái
góc
Âu
châu
đó ?
Theo
thiển
ư
th́
văn
hóa
và
công
nghiệp
Trung
Quốc
cho
đến
thời
nhà
Tống
đă
dừng
lại,
không
tiến
được
v́
bị
g̣
bó
bởi
tư
tưởng
của
các
nhà
Lư
học.
Ngay
từ
thời
Hán
trở
xuống,
cái
Nho
học
nhà
nước
đă
hoàn
thành
việc
dựng
lên
nhiều
trở
ngại
rất
lớn
đối
với
học
thuật
và
tự
do
tư
tưởng.
Thời
Tống,
những
người
như
Tŕnh
Di,
Chu
Hy,
v.v...đều
là
những
nhà
Lư
học
lớn,
nhưng
lại
đem
thu
nhỏ
phạm
vi
của
Nho
học
lại.
Họ
cho
rằng
mỗi
cá
nhân,
ít
nhất
mỗi
cá
nhân
những
người
đèn
sách,
đều
phải
suốt
đời
không
có
con
đường
nào
khác
ngoài
con
đường
học
làm
những
ông
thánh.
Cho
đến
lúc
Lư
học
trở
thành
cái
ḍng
chính
của
Nho
học
th́
sức
sống
của
văn
hóa
Trung
Quốc
liền
bị
chà
đạp.
Đồng
thời
tầng
lớp
sĩ
phu,
để
củng
cố
quyền
lợi,
địa
vị
cá
nhân,
đă
phân
chia
một
cách
độc
đoán
xă
hội
thành
4
giai
tầng
: sĩ,
nông,
công,
thương,
và
đẩy
địa
vị
xă
hội
của
những
nhân
tài
chuyên
nghiệp
(công),
những
nhà
buôn
(thương)
xuống
bùn
đen.
Các
phát
minh
về
công
nghiệp
thường
thường
bị
xem
là
thứ
"
tranh
dâm
tranh
xảo
" (Đua
đ̣i
tà
dâm
và
xảo
trá),
"
điêu
trùng
tiểu
kỹ "
(tiểu
xảo
dùng
tạc
nên
các
con
trùng
-
rồng
phượng),
và
rất
ít
được
báo
đáp
khích
lệ.
Với
tâm
lư
xă
hội
như
vậy,
những
kẻ
có
tài
cao
đều
nghĩ
đến
việc
làm
quan.
C̣n
lại
những
kẻ
kém
tài
hơn
mới
đi
làm
công-thương-nghiệp.
Một
xă
hội
khinh
rẻ
công-thương-nghiệp
như
vậy
làm
sao
có
thể
hy
vọng
phát
triển
được
khoa
học
kỹ
thuật,
công
nghiệp
làm
sao
tiến
được
?
Kỳ
thực
vào
thời
Nam
Tống,
Trung
Quốc
đă
có
thể
có
đủ
điều
kiện
cho
tư
bản
chủ
nghĩa
phát
triển.
Nếu
như
thời
ấy
có
tự
do
trong
lĩnh
vực
học
thuật,
nhà
nước
khích
lệ
công
thương,
cách
mạng
công
nghiệp
rất
có
khả
năng
xảy
ra
tại
Trung
Quốc
trước
khi
ra
đời
tại
nước
Anh.
4-
Ông
Lưu
đặt
câu
hỏi
: "
Một
nước
dưới
chân
rặng
núi
Hy-ma-la-ya
như
nước
Bu-tan
làm
sao
có
thể
phát
triển
công
thương
nghiệp
như
Đài
Loan
được
? "
Tôi
có
thể
đáp
như
thế
này:
"
Cái
đó
chỉ
tùy
thuộc
vào
con
người!
"
Ông
không
thấy
nước
Thụy-Sĩ
ở
dưới
chân
núi
An-pơ
(Alpes)
hay
sao
?
Diện
tích
c̣n
nhỏ
hơn
cả
Bu-tan,
không
những
nước
này
có
công
thương
nghiệp
phát
triển,
mà
trong
nhiều
ngành
nghề
c̣n
đứng
vào
hàng
đầu
thế
giới.
Nếu
căn
cứ
vào
cái
lư
luận
dựa
trên
vị
trí
địa
lư
th́
tại
sao
Tây
Ban
Nha,
ư,
Hy-Lạp,
Ai-Cập
đều
là
những
nước
có
địa
thế
thuận
lợi
lại
không
thể
phát
triển
công
thương
nghiệp
như
Thụy-Sĩ
là
một
nước
nằm
giữa
lục
địa
dưới
chân
núi.
Chưa
kể
đến
các
nước
như
Na-Uy,
Thụy-Điển
là
những
nước
nằm
trong
một
góc
rất
biệt
lập
của
Âu
châu
?
5-
Ông
Lưu
bảo
Trung
Quốc
đă
thay
đổi
quốc
thể,
chính
thể
và
chính
sách
kinh
tế
một
cách
rất
dễ
dàng.
Ông
muốn
chứng
minh
rằng
người
Trung
Quốc
đối
với
tư
tưởng
ngoại
lai
cũng
không
đến
nỗi
là
những
kẻ
bảo
thủ.
Tôi
muốn
hỏi
ông
Lưu
:
Thế
tất
cả
những
thứ
thay
đổi
ông
nói
ở
trên
đó
có
phải
đă
được
thông
qua
một
cuộc
trưng
cầu
ư
dân
hoặc
là
sản
phẩm
của
một
quốc
hội
chân
chính
do
dân
bầu,
nghĩa
là
bằng
những
tŕnh
tự
hợp
pháp
của
một
quốc
gia
hay
không
?
Nếu
đúng
như
thế,
th́
luận
điểm
của
ông
Lưu
mới
đứng
vững
được.
Nhưng
nếu
những
thay
đổi
này
chỉ
là
pháp
lệnh
của
những
kẻ
nắm
quyền,
hoặc
được
thông
qua
bằng
h́nh
thức
"
con
dấu
cao
su "
của
kẻ
thống
trị,
th́
điều
đó
chỉ
minh
chứng
một
điều
là
Trung
Quốc
thiếu
nhân
quyền.
Những
kẻ
thống
trị
sau
khi
nắm
chính
quyền,
với
súng
đạn
hễ
chọn
chính
thể
nào
th́
áp
đặt
chính
thể
đó,
chẳng
cần
biết
nhân
dân
có
đồng
ư
hay
không.
"
Văn
hóa
đại
cách
mạng
" (Cách
Mạng
Văn
Hóa),
tuy
khẩu
hiệu
th́
hô
hào
nhằm
lật
đổ
văn
hóa
truyền
thống
của
Trung
Quốc,
nhưng
bản
thân
lại
nói
lên
rất
rơ
cái
tính
chất
độc
tài
chính
trị
truyền
thống
và
thói
quen
xâu
xé
lẫn
nhau
của
người
Trung
Quốc.
V́
vậy,
tôi
vẫn
cho
rằng
Cách
Mạng
Văn
Hóa
đúng
là
sản
phẩm
100
%
của
cái
"
văn
hóa
hũ
tương
",
nó
không
thể
nào
có
thể
phát
sinh
ở
một
nước
tôn
trọng
nhân
quyền
và
dân
chủ
được.
6-
Ông
Lưu
bảo
người
Trung
Quốc
nói
to
v́
trong
tiếng
Hán
có
nhiều
chữ
đồng
âm,
nên
vừa
phải
nói
to
vừa
phải
hoa
chân
múa
tay
mới
diễn
đạt
được
ư
nghĩa
muốn
nói.
Nếu
ư
của
ông
Lưu
mà
đúng
th́
chúng
ta
không
thể
nào
giải
thích
được
làm
sao
người
Trung
Quốc
có
thể
dùng
điện
thoại
để
nói
chuyện
với
nhau,
v́
lúc
đó
họ
không
thể
hoa
chân
múa
tay
mà
cũng
không
thể
nói
thật
to
được.
Các
độc
giả
không
tin
cứ
thử
gọi
ngay
dây
nói
cho
người
thân
hay
bạn
bè
thử
xem.
Lúc
đó
mới
thấy
được
cái
lư
luận
của
ông
Lưu
có
tính
thuyết
phục
hay
không.
Theo
ư
tôi,
người
Trung
Quốc
nói
to
là
v́
họ
không
được
dậy
dỗ
về
cung
cách
nói
chuyện
và
tŕnh
tự
của
hội
nghị,
không
biết
tôn
trọng
sự
phát
ngôn
của
người
khác,
nên
thường
khi
đối
phương
nói
chưa
dứt
đă
vội
át
lời,
bác
bẻ
lại
luận
điểm
của
người
ta.
Cái
hiện
tượng
giữa
chừng
ngắt
lời
kẻ
khác
trong
xă
giao
thông
thường
là
một
việc
luôn
luôn
xảy
ra ở
Trung
Quốc.
Bởi
v́
trong
lúc
nói
ai
cũng
tranh
nhau
phát
ngôn
cùng
một
lúc,
nên
mọi
người
bắt
buộc
phải
gân
cổ
càng
to
càng
tốt.
7-
Ông
Lưu
đă
tốn
khá
nhiều
mực
để
giải
thích
sự
hỗn
loạn
giao
thông
ở
Trung
Quốc.
Ông
cho
rằng
v́
người
Trung
Quốc
học
lái
xe
tại
những
khu
riêng
biệt
của
trường
dạy
lái,
không
như
những
người
Mỹ
học
lái
xe
một
cách
thực
tế ở
ngoài
đường.
V́
vậy
người
Trung
Quốc
mặc
dù
thi
đậu
được
bằng
lái
xe,
nhưng
vẫn
tiếp
tục
xem
ngoài
đường
như
khu
vực
riêng
của
trường
lái,
và
vẫn
cứ
tiếp
tục
lái
ngang,
đâm
dọc.
Mặc
dù
tôi
biết
rất
ít
về
t́nh
h́nh
dạy
lái
xe ở
Đài
Loan,
nhưng
tôi
có
thể
h́nh
dung
được
khi
dạy
lái
xe
chẳng
ai
dạy
cứ
phải
luôn
luôn
bóp
c̣i
hoặc
đừng
nhường
người
đi
bộ ở
chỗ
dành
cho
bộ
hành
qua
đường
(nếu
không
tuân
theo
lời
dạy
th́
làm
sao
đậu
bằng
được?
)
Thế
tại
sao
khi
lái
xe
ra
đường
họ
lại
không
hề
rời
cái
c̣i
và
không
hề
tôn
trọng
người
bộ
hành
ở
lối
dành
cho
người
đi
bộ
qua
đường
tư
nào
cả ?
Xin
ông
Lưu
giải
thích
giùm
tôi.
Trên
đây
là
một
vài
suy
nghĩ
của
riêng
cá
nhân
tôi
sau
khi
đọc
bài
viết
của
ông
Lưu.
Ông
Lưu
bảo
ông
Bá
Dương
bôi
nhọ
văn
hóa
Trung
Quốc.
Tôi
th́
cho
rằng
ông
Lưu
lại
đi
tô
son
cho
những
cái
vết
bẩn
của
văn
hóa
Trung
Quốc.
Nhưng
dù
có
nhấn
mạnh
trên
những
khuyết
điểm
hay
che
đậy
sai
lầm
của
văn
hóa
Trung
Quốc
chúng
ta,
tôi
tin
rằng
cái
động
cơ
của
cả
hai
ông
đều
phát
xuất
từ
tấm
ḷng
thành.
V́
thế
tôi
cho
rằng
khi
ông
Lưu
nói
Bá
Dương
xu
nịnh
nước
ngoài
th́
ông
không
những
làm
tổn
thương
đến
sự
trung
hậu
của
ông
Bá
Dương
mà
c̣n
không
đúng
với
lô-gíc.
Nếu
Bá
Dương
là
loại
người
xu
nịnh
th́
đối
tượng
nịnh
của
ông
ta
tất
phải
là
Quốc
Dân
Đảng
chứ
đâu
phải
là
người
Tây
phương.
Một
người
có
tài
như
Bá
Dương,
lại
vốn
là
người
của
Cứu
Quốc
Đoàn
(ông
đă
từng
là
Tổng
cán
sự
của
"
Hiệp
hội
Các
nhà
văn
Thanh
niên
"
trong
Cứu
Quốc
Đoàn),
chỉ
cần
nịnh
nọt
nhà
đương
cục
một
tư
là
ông
cũng
có
thể
trở
thành
người
được
tin
dùng
từ
bao
đời
nay
rồi.
Hà
tất
ông
phải
chọn
con
đường
mưu
sinh
bằng
cách
đi
viết
tạp
văn
đả
kích
thói
hư
tật
xấu
của
xă
hội,
cuối
cùng
xúc
phạm
đến
Quốc
Dân
Đảng,
để
cho
cái
đảng
này
bắt
nhốt
ông
trong
ṿng
10
năm.
Một
người
mang
t́nh
cảm
và
tư
tưởng
như
ông,
có
thể
c̣n
có
thái
độ
kiêu
ngạo
là
đằng
khác,
đâu
lư
nào
lại
đi
nịnh
nọt.
Không
biết
ông
Lưu
có
thấy
thế
không
?
11 -
Người
Trung
Quốc
Vĩ
đại
Ông
Bá
Dương
có
một
bài
nói
chuyện
về "
Người
Trung
Quốc
xấu
xí
". ư
kiến
của
tôi
hơi
trái
ngược
lại,
tôi
xin
gọi
nó ở
đây
là "
Người
Trung
Quốc
vĩ
đại
".
Bất
cứ
nơi
nào
có
người
Trung
Quốc
tụ
tập
sinh
sống,
việc
điều
đầu
tiên
ai
cũng
thấy
được
là "
đông,
ồn,
bẩn,
loạn
". "
Đông
" v́
chen
chúc
nhau
mới
vui
nhộn,
" ồn
" v́
người
Trung
Quốc
thích
ra
oai
hù
dọa
đối
phương,
"
bẩn
" v́
không
có
bụi
bay
th́
làm
sao
thấy
được
nắng
đẹp,
"
loạn
" v́
tinh
thần
tự
do,
tự
tại.
Mối
quan
tâm
của
người
Trung
Quốc
đối
với
những
đau
khổ
của
kẻ
khác,
được
biểu
hiện
qua
ḷng
hiếu
kỳ.
Bởi
vậy
họ
thích
xem
những
cuộc
hành
h́nh,
người
chết,
đám
cháy,
nước
lụt,
hoặc
tai
nạn
xe
cộ.
Cảnh
ngộ
của
người
khác
càng
thê
thảm
chừng
nào
th́
họ
lại
càng
thấy
thích
thú
chừng
nấy.
Nếu
không
thế
tại
sao
khi
lỡ
dịp
xem
một
thảm
cảnh
đối
với
họ
lại
là
mất
đi
một
cơ
hội
lớn
để
hưởng
thụ
hạnh
phúc
của
cuộc
đời.
"
Liên
ngă
thế
nhân,
ưu
hoạn
thực
đa!
" (Thương
cho
người
đời;
buồn
lo,
hoạn
nạn
quá
nhiều
! )
Nh́n
những
cái
đau
khổ
của
người
đời,
mà
mừng
rằng
ḿnh
may
mắn
không
bị
sa
vào
trong
đó,
chẳng
phải
là
một
điều
hưởng
thụ
lớn
nhất
trong
cuộc
sống
hay
sao
?
Mười
mấy
năm
trước,
lúc
Đài
Loan
đang
xây
dựng
đường
cao
tốc
trên
toàn
đảo,
từ
Đài
Bắc
đi
Cơ
Long
chỉ
có
một
con
lộ
nhỏ.
Có
lần
trước
một
trường
tiểu
học
công
lập
ở
Tịch
Chỉ
xảy
ra
một
tai
nạn
xe
cộ.
Một
đứa
bé
đi
qua
đường
bị
một
chiếc
xe
chạy
gấp
cán
chết
ngay
tại
chỗ.
Cái
xe
sau
khi
gây
tai
nạn
trước
mắt
mọi
người
cứ
thế
đủng
đỉnh
bỏ
đi.
Cả
hàng
ngh́n
vạn
con
mắt
nh́n
thấy
sự
việc
trên,
thế
mà
không
có
một
người
nào
đứng
ra
chặn
xe
lại.
Đến
khi
cảnh
sát
tới,
lại
cũng
không
ai
có
thể
đứng
ra
làm
nhân
chứng
để
cho
biết
một
tư
đầu
mối
nào
về
hung
thủ.
Mà
ngay
cả
cái
số
biển
xe
cũng
không
ai
ghi
lại.
Trong
phút
chốc
mọi
người
ào
ào
như
ong
vỡ
tổ.
Mặc
dù
cảnh
sát
hết
sức
mạnh
tay
ngăn
chặn,
quần
chúng
vẫn
như
một
ḍng
thác
dời
non
lấp
bể
ùn
ùn
đến
vây
quanh
cái
thi
thể
bé
nhỏ
đó,
và
làm
tắc
nghẽn
ngay
con
lộ.
Trong
đám
đông
bỗng
thấy
một
người
đàn
ông
tráng
kiện,
trạc
độ
tứ
tuần,
mặt
mày
phấn
khởi,
mồm
miệng
thô
tục,
vừa
hùng
hổ
gạt
đám
đông
ra
chui
vào
vừa
chửi
đổng
:
"Đ.
M.
nó,
lại
cán
chết
người
nữa
rồi!".
Anh
ta
chuẩn
bị
để
thưởng
thức
một
cảnh
ngoạn
mục
hiếm
thấy.
Nhưng
khi
anh
ta
chen
được
đến
chỗ
nh́n
th́
bỗng
nhiên
như
bị
một
cú
điện
giật,
rồi
khóc
rống
lên.
Đă
mười
mấy
năm
qua
mà
chỉ
cần
nhắm
mắt
lại
là
trong
đầu
tôi
vẫn
c̣n
thấy
rơ
ràng
cảnh
tượng
ấy !
Mấy
năm
trước
ở
đoạn
Tam
Nghĩa
trên
xa
lộ
Đài
Loan
đă
xảy
ra
một
vụ
đụng
xe
lớn,
trong
đó
có
khoảng
từ
60
đến
70
xe
xô
vào
đít
nhau.
Nguyên
nhân
đầu
tiên
của
vụ
này
chỉ
v́
có
một
chiếc
xe
bị
tai
nạn,
nhưng
những
xe
chạy
sau
đó
vội
vàng
ngừng
lại
để
xem.
Thế
là
các
xe
từ
phía
sau
đến
phanh
không
kịp
và
đổ
xô
hết
vào
nhau
gây
nên
một
đống
nát
bét
khổng
lồ.
Tại
những
nơi
có
người
Trung
Quốc,
chỉ
cần
một
tai
nạn
xảy
ra
th́
không
bao
giờ
thiếu
đám
đông
đến
xem.
Nhà
cháy
ngùn
ngụt,
lửa
lên
ngút
trời,
người
bị
nạn
đang
dậm
chân
kêu
cứu
trong
biển
lửa,
nhưng
giữa
đội
cứu
hỏa
và
đám
cháy
thế
nào
cũng
có
một
bức
tường
người
đứng
xem
làm
cản
trở
công
việc
cứu
chữa.
Trong
núi
có
tai
nạn
mỏ,
vô
số
thợ
bị
nạn
c̣n
nằm
dưới
mỏ,
sống
chết
c̣n
tùy
vào
không
gian
để
thở.
ở
vào
thời
điểm
này,
dù
núi
cao,
đường
xa
thế
nào
đi
nữa
cũng
sẽ
có
một
đoàn
người
hiếu
kỳ
hỗn
loạn
từ
xa
lặn
lội
kéo
tới
lấp
kín
cửa
mỏ,
tranh
giành
đường
đi
với
những
người
đến
cứu
nạn.
Chỉ
cần
nơi
nào
có
dây
ra
một
tư
đường,
th́
chẳng
quản
khuất
nẻo,
thế
nào
đàn
kiến
cũng
đánh
hơi
đến
được.
Xe
lửa
trật
đường
rầy,
máy
bay
bị
rơi,
lụt
làm
vỡ
đê,
có
người
tự
tử,
hành
quyết
phạm
nhân,
người
Trung
Quốc
đều
như
kiến
t́m
đường
đến
xem
ngay.
Hơn
hai
mươi
năm
trước,
một
người
đàn
ông,
trong
ḷng
có
điều
uẩn
ức,
leo
lên
một
mái
nhà
cao
mười
tầng
ở
Đài
Loan
tuyên
bố
sẽ
nhảy
xuống
tự
tử.
Tức
th́
người
kéo
đến
xem
đầy
đường,
chật
phố.
Cảnh
sát
như
gặp
phải
quân
giặc,
một
đằng
lo
chăng
lưới
hứng
người
phía
dưới
lầu,
một
đằng
cho
người
lên
thương
thuyết,
khuyên
anh
kia
đừng
nhảy.
Kư
giả
các
báo
đến
giương
sẵn
máy
ảnh,
chỉnh
sẵn
ống
kính
chờ
đợi
để
chụp
lấy
cái
giây
phút
hiếm
có.
Nhưng
anh
chàng
nọ
vẫn
tác
quái,
mặc
cho
cảnh
sát
nói
găy
cả
lưỡi,
một
mực
vẫn
nhất
quyết
bảo
không
nhảy
không
được,
nhưng
lại
không
nhảy
ngay
tức
khắc,
cứ
kiểu
đó
kéo
dài
cả
tiếng
rưỡi
đồng
hồ.
Phải
nói
cái
quần
chúng
ṭ
ṃ
của
Trung
Quốc
có
ḷng
kiên
nhẫn
trong
thiên
hạ
không
ai
b́
kịp,
ngửng
đầu
theo
dơi
hai,
ba
tiếng
đồng
hồ
rồi,
cổ
đă
mỏi
nhừ
mà
cũng
không
ai
cần
nghỉ
ngơi
một
giây
phút
nào
cả.
Khi
cái
đồng
hồ
nhà
ga
xe
lửa
đối
diện
gơ
11
giờ
vẫn
không
thấy
anh
ta
nhẩy,
mà
người
xem
vẫn
chưa
ai
ra
về.
Trong
đám
người
đứng
đó,
một
bà
nội
trợ,
tay
xách
cái
làn
không,
mồm
lẩm
bẩm
:
"
Bảo
nhảy
mà
măi
không
nhảy
cho
rồi
để
cho
người
ta
xem
xong
c̣n
đi
chợ
chứ!
"
Tại
sao
người
Trung
Quốc
lại
thích
xem
tai
nạn
?
Bởi
v́
người
Trung
Quốc
một
đời
họ
là
một
trường
tai
nạn.
Một
lần
sinh
làm
người
Trung
Quốc
là
một
lần
phải
hứng
chịu
những
tai
vạ
lớn.
Tai
họa
vĩnh
viễn
là
đứa
anh
em
sinh
đôi
của
người
Trung
Quốc,
có
tránh
cũng
không
nổi,
chỉ
có
không
biết
là
nó
đến
lúc
nào
và ở
đâu
thôi.
Trong
Đạo
đức
kinh
của
Lăo
đam
có
viết
:
" Có
và
không
đều
cùng
sinh
ra
lẫn
nhau.
Dễ
và
khó
đều
cùng
đưa
nhau
đến
một
kết
quả.
Dài
ngắn
rồi
cũng
cùng
tạo
h́nh
dáng
của
nhau.
Cao
thấp
cũng
đều
khuynh
loát
lẫn
nhau.
Âm
và
thanh
đều
ḥa
vào
với
nhau.
Trước
và
sau
đều
tùy
thuộc
lẫn
nhau
" (Cố
hữu
vô
tương
sinh,
nan
dị
tương
thành,
trường
đoản
tương
h́nh,
cao
hạ
tương
khuynh,
âm
thanh
tương
ḥa,
tiền
hậu
tương
tùy).
Khổ
và
sướng,
hạnh
phúc
và
tai
họa
không
có
ǵ
tuyệt
đối,
tất
cả
chỉ
là
tương
đối:
"
Người
ta
cưỡi
ngựa
tôi
cưỡi
lừa,
nh́n
về
đằng
trước
th́
tôi
không
bằng,
nh́n
về
đằng
sau
c̣n
có
người
phải
đẩy
xe,
so
với
phía
trên
th́
không
đủ,
so
với
phía
dưới
th́
tôi
có
thừa
".
Những
người
khác
gặp
những
đau
khổ
vô
cùng
lớn,
riêng
tôi
may
mắn
được
thoát
nạn.
Nh́n
cảnh
ngộ
bi
thảm
của
kẻ
khác
để
rồi
ngẫm
nghĩ
về
sự
may
mắn
của
bản
thân
ḿnh
(không
bị
hề
hấn
ǵ).
Cái
sự
hưởng
thụ
đó
trong
cuộc
đời
này
nào
phải
được
nhiều
nhặn
ǵ
cho
cam
!
Nếu
không
nắm
lấy
thời
cơ
mà
hưởng
thụ
hết
ḿnh
th́
chẳng
phải
là
tội
lỗi
hay
sao
?
Trong
cuộc
sống,
người
Trung
Quốc
thực
sự
luôn
luôn
phải
sắm
vai
chính
của
những
bi
kịch,
nên
hễ
gặp
ai
đang
diễn
bi
kịch
th́
làm
sao
có
thể
dễ
dàng
bỏ
lỡ
cơ
hội
xem
cho
được
?
Tôi
c̣n
nhớ
thời
kỳ
Kháng
chiến
chống
Nhật,
trên
một
bến
phà
bên
bờ
sông
ở
Triêu
Thiên
Môn
tại
Trùng
Khánh,
mùa
đông
nước
cạn,
phà
không
thể
cập
sát
bờ,
để
lên
phà
phải
qua
một
cầu
nổi
thô
sơ.
Hôm
ấy
phà
vừa
cặp
bến
th́
những
người
khách
cứ
theo
thói
quen
dùng
cái
tài
năng
đặc
biệt
của
người
Trung
Quốc
là
xung
phong
hăm
trận,
tranh
nhau
xuống
trước,
liều
mạng
chen
lấn.
Có
một
bà
cụ
già
v́
thế
bị
xô
đẩy
rơi
ṭm
xuống
sông,
lúc
ch́m
lúc
nổi.
Dưới
nước
cả
trăm
chiếc
thuyền
lớn
bé
vẫn
thản
nhiên,
trên
bờ
cả
trăm
ngh́n
người
ai
cũng
chỉ
đứng
giương
mắt
nh́n
mà
không
một
kẻ
nào
nghĩ
đến
chuyện
cứu
người.
Lúc
đó
bỗng
trong
đám
đông
có
một
quân
nhân
Mỹ
bước
ra,
cởi
bỏ
áo
ngoài,
nhảy
ùm
xuống
sông.
Sau
một
hồi
rất
chật
vật,
khó
khăn,
cuối
cùng
anh
ta
cũng
cứu
được
người
đàn
bà
ấy
lên
bờ.
Người
lính
Mỹ,
sau
khi
hoàn
thành
cái
việc
nghĩa
cứu
người,
bèn
quay
lại
chỗ
ḿnh
cởi
bỏ
áo
để
t́m,
th́
ôi
thôi!
Cái
áo
đă
không
cánh
mà
bay
mất
tự
bao
giờ!
Vị
quân
nhân
Mỹ
kia
chỉ
bị
mất
một
cái
áo,
nhưng
việc
tôi
gặp
phải
sau
đây
có
thể
c̣n
thảm
thương
hơn
nhiều.
Đó
là
câu
chuyện
ba
mươi
lăm
năm
trước,
song
nó
c̣n
đeo
đẳng
tôi
không
biết
đến
bao
giờ.
Hôm
ấy ở
ga
xe
lửa
Đài
Trung,
tôi
thấy
một
người
lạ
đi
một
ḿnh
bỗng
đột
ngột
bị
bạo
bệnh
ngă
xuống
trước
cửa
ga.
V́
t́nh
thế
lúc
đó
quá
gấp
rút,
tôi
kêu
bừa
một
xe
ba
gác
đến
chở
ông
ta
đi
nhà
thương
cấp
cứu.
Đến
bệnh
viện,
chưa
làm
xong
thủ
tục
nhập
viện
th́
người
ấy
đă
qua
đời.
Bệnh
viện
bảo
tôi
phải
thanh
toán
lệ
phí
thủ
tục
nhập
viện
rồi
đem
thi
thể
đi
ngay,
sợ
ảnh
hưởng
đến
thanh
danh
của
họ.
Tôi
chỉ
trơ
trọi
có
mỗi
một
ḿnh
ở
đấy,
không
quen
biết
ai,
cũng
chẳng
ai
có
thể
cho
tôi
biết
phải
đem
một
tử
thi
vô
danh
đi
nơi
nào.
May
mà
nhà
thương
đă
kêu
cảnh
sát
lại.
Cảnh
sát
dĩ
nhiên
bắt
tôi
khai
tên
tuổi
người
chết,
nguyên
nhân
cái
chết,
lại
bắt
tôi
phải
đem
thi
thể
đến
một
nơi
thích
hợp
để
chờ
thầy
thuốc
pháp
y
đến
khám
nghiệm.
Dĩ
nhiên
để
trả
lời,
bằng
mọi
cách
phải
biết
được
lai
lịch
người
chết.
Rà
đi
rà
lại
cả
ngày,
phải
khó
khăn
lắm
tôi
mới
t́m
được
gia
đ́nh
người
chết.
Người
nhà
tới,
lập
tức
nêu
lên
một
vấn
đề
rất
nghiêm
trọng.
Họ
bảo
rằng
người
chết
có
mang
theo
ḿnh
50
quan
tiền
mà
bây
giờ
không
t́m
thấy
nữa.
Tôi
liền
bị
cảnh
sát
gọi
đi
lấy
khẩu
cung,
viết
giấy
cam
đoan,
rồi
t́m
cả
người
bảo
lănh.
Tất
cả
những
thứ
thủ
tục
này
làm
tôi
mất
đứt
một
tháng
trời.
May
mắn
là
tổ
tiên
tôi
c̣n
để
đức
lại,
nên
gia
đ́nh
người
chết
cuối
cùng
cũng
nói
sự
thực.
Họ
thú
nhận
rằng
vốn
sợ
phải
hoàn
lại
số
tiền
xe
và
tiền
nhập
viện
mà
tôi
đă
ứng
trước
nên
đă
dựng
đứng
lên
chuyện
trong
người
kẻ
xấu
số
có
50
quan
tiền,
để
cứ
gọi
là "
tương
"
trước
cho
tôi
"
một
quả
"
cái
đă.
Ngh́n
may!
Vạn
may!
Họ
vẫn
là
người
nhà
quê
thật
thà,
chỉ
nói
mất
có
50
quan
tiền.
Chứ
chẳng
may
họ
lại
bảo
là
mất
5
vạn
quan
tiền
th́
suốt
đời,
có
lẽ
đến
bây
giờ,
tôi
vẫn
c̣n
nằm
trong
nhà
lao
mất.
Người
Trung
Quốc
đối
với
những
đau
khổ
của
kẻ
khác
thường
có
kiểu
ṭ
ṃ
một
cách
trắng
trợn,
thích
thú
mà
có
vẻ
đồng
t́nh,
nhưng
đối
với
những
thành
tựu
và
hạnh
phúc
của
kẻ
khác
th́
giữ
kín
như
bưng,
cực
kỳ
bí
ẩn,
tâm
địa
đố
kị
cực
kỳ
ác
độc.
Người
Trung
Quốc
dù
khoan
hồng
đại
lượng
cũng
tuyệt
đối
không
thể
chấp
nhận
chuyện
người
ḿnh
quen
lại
khá
hơn
ḿnh,
tuyệt
nhiên
không
thể
chịu
đựng
được
bất
cứ
phần
tử
nào
ở
cùng
trong
cái
biển
khổ
ấy
lại
thoát
ly
ra
được.
Đó
là
cái
gọi
là "
không
muốn
thấy
cháo
của
người
nghèo
đóng
váng
" (Cùng
phường
ăn
mày
mắng
nhau
dầy
chiếu).
Mọi
người
đều
cùng
khổ,
nấu
cháo
húp
qua
ngày,
vạn
nhất
có
người
nấu
nhiều
hơn
một
tư,
cháo
nấu
đặc
hơn
một
tư,
trên
mặt
bát
đóng
một
lớp
váng
mỏng
th́
cái
đó
sẽ
không
khỏi
gây
ra
vấn
đề
và
không
ai
chịu
được
cả.
Không
đánh
cho
nó
gục
th́
không
được.
Lúc
mọi
người
đều
ăn
mỳ
canh
x́
dầu
th́
rất
là
vui
vẻ,
không
có
việc
ǵ
xảy
ra.
Chẳng
may
t́nh
h́nh
biến
đổi,
tôi
chỉ
có
thể
ăn
mỳ
ruốc,
mà
anh
lại
được
ăn
mỳ
sườn,
như
thế
làm
sao
tôi
có
thể
chịu
nổi
? "
Ḿnh
đói
người
khác
cũng
phải
đói
"
th́
lúc
ấy
mới
không
thấy
được
ḿnh
đói.
"
Ḿnh
chết
đuối
th́
người
khác
cũng
phải
chết
đuối
"
th́
lúc
đó
mới
không
cảm
thấy
ḿnh
đang
chết
đuối.
Nếu
phải
nhẩy
xuống
giếng
tự
tử
tất
phải
t́m
được
người
nhảy
xuống
trước
để
làm
đệm
cho
ḿnh.
Trong
xă
hội
Trung
Quốc,
từ
miệng
kẻ
bị
thất
bại
vẫn
nghe
thấy
nói
có
người
thành
công
nào
đó
phải
biết
ơn
anh
ta,
bởi
v́
nhờ
có
anh
ta
người
nọ
mới
thành
công
được.
Bạn
bè
cũ
hoàn
toàn
không
thể
trở
thành
người
làm
của
kẻ
đă
thành
công.
Người
đă
thành
công
cũng
không
thể
nào
có
thể
dùng
bạn
cũ
của
ḿnh
để
làm
việc
cho
ḿnh
được.
Trung
Quốc
là
một
dân
tộc
không
biết
sùng
bái
anh
hùng.
Người
Trung
Quốc
chỉ
sùng
bái
những
con
ma
xui
xẻo
bị
thất
bại.
Quan
Công
v́
sơ
xuất
bị
ám
hại
ở
Kinh
Châu,
nên
được
người
đời
thắp
hương
cúng
bái.
Sở
Bá
Vương
v́
cùng
đường
phải
tự
cứa
cổ
nên
được
xem
là
anh
hùng
cái
thế.
Gia
Cát
Lượng
v́
cúc
cung
tận
tụy
dưới
trướng
Lưu
Bị
nên
được
tôn
thờ
là
thần
cơ
diệu
toán.
Nếu
Quan
Công
giữ
được
Kinh
Châu,
Sở
Bá
Vương
có
được
thiên
hạ,
Gia
Cát
Lượng
phục
hưng
được
nhà
Hán
th́
người
đời
sau
chắc
sẽ
không
sùng
bái
họ
như
vậy.
Đối
với
người
chết
c̣n
như
thế,
huống
hồ
những
người
đang
sống.
Cùng
xuất
thân,
cùng
một
hạng
người
như
nhau
mà
nó
lại
cứ
dám
ngoi
lên
cao.
Nếu
không
kéo
cho
nó
xuống
ngựa
th́
làm
sao
chịu
được
?
Cái
tinh
thần
"
phản
người
cùng
một
tổ "
này
là
một
trong
những
thứ
truyền
thống
" ưu
tú "
của
dân
tộc
Trung
Quốc
từ
mấy
ngh́n
năm
nay.
Người
Trung
Quốc
đối
với
những
người
nước
ngoài
to
khỏe
xưa
nay
vẫn
chăm
chú
đến
việc
giữ
ḥa
b́nh,
nhất
là
đối
với
những
kẻ
địch
hung
hăn.
Dầu
cho
họ
có
cưỡi
lên
đầu
lên
cổ
ḿnh
th́
cũng
cứ
khoan
hồng
đại
lượng,
thản
nhiên
chịu
đựng.
Duy
chỉ
đối
với
giữa
người
ḿnh
với
nhau
th́
lại
không
thể
để
cho
ai
làm
dù
một
hạt
bụi
bay
vào
mắt,
không
thể
để
ai
nói
điều
ong
tiếng
ve
ǵ
về
ḿnh.
Nếu
có
chuyện
đó
xảy
ra
tức
th́
phải
đập
cho
vỡ
đầu,
hạ
độc
thủ,
phóng
ám
khí.
Những
thủ
đoạn
bôi
mặt
đá
nhau
này
hễ
dùng
đến
th́
không
thứ
nào
không
dùng
đến
mức
tối
đa.
Nhất
là
kiểu
bịa
đặt,
thư
nặc
danh,
tung
tin
đồn,
báo
cáo
mật,...
càng
là
những
tuyệt
kỹ
mà
người
Trung
Quốc
xưa
nay
vẫn
đoạt
giải
quán
quân
trong
thiên
hạ.
Người
Trung
Quốc
đặc
biệt
nghiện
những
thứ
này.
Bất
kỳ
dưới
chính
quyền
nào,
hễ
trong
tay
họ
nắm
được
quyền
sinh
sát
là y
như
bị
tật
nghiện
giống
như
nghiện
ma
túy,
rất
khoái
được
báo
cáo
mật
về
kẻ
khác,
nghe
rồi
tin
những
báo
cáo
ấy
như
một
người
mù.
Từ
thời
Tần
(221-207
trước
Công
nguyên)
Thương
Ưởng
đă
làm
một
đạo
luật
gọi
là "
vu
cáo
phản
tọa
"
(Vu
oan
cho
người
tội
ǵ
th́
bị
khép
vào
tội
ấy),
người
Trung
Quốc
vốn
là
kẻ
vẫn
ǵn
giữ
lại
bất
cứ
thứ
ǵ,
thế
mà
không
hiểu
sao
lại
vứt
cái
đạo
luật
này
đi ?
Một
bạn
cũ
của
tôi
là
ông
Trưởng
Cung,
một
con
người
tài
hoa,
viết
chữ
đẹp,
vẽ
đẹp,
khắc
đẹp,
một
người
mến
yêu
cổ
đạo,
tâm
địa
tốt,
ḷng
dạ
ngay
thẳng
nghĩ
thế
nào
nói
thế
ấy.
Vào
thời
quân
phiệt
Bắc
Dương,
ông
bị
người
mật
báo
với
tội
danh
"
thuộc
đảng
Cách
mạng
",
bị
xử
tử
h́nh.
Cũng
may
là
ngay
lúc
c̣n
chưa
bị
hành
h́nh
th́
cuộc
Bắc
Phạt
thành
công.
Đến
thời
Măn
Châu
Quốc
(những
năm
1930)
ông
lại
bị
mật
báo
là "
phần
tử
Trùng
Khánh
",
cũng
lại
bị
khép
vào
án
tử
h́nh.
Chỉ
c̣n
một
ngày
nữa
bị
đem
bắn
th́
quân
Nhật
đầu
hàng,
nếu
không
th́
chắc
chắn
đă
chết
rồi.
Lúc
quân
cộng
sản
chiếm
Đông
Bắc
ông
lại
bị
mật
báo
là "
Hán
gian
" và
"
gián
điệp
Quốc
Dân
Đảng
".
Cùng
một
lúc
hai
tội
danh
này
lại
đưa
ông
đến
một
lần
thứ
ba
bị
tuyên
án
tử
h́nh.
Sau
đó
nhờ
cuộc
trao
đổi
tù
binh
ông
được
đem
ra
Đài
Loan.
Nhưng
ở
đây
ông
lại
bị
mật
báo
là "
phỉ
điệp
" (gián
điệp
của
thổ
phỉ,
tức
gián
điệp
cộng
sản),
bị
xử 7
năm
tù.
Ông
Trưởng
Cung
năm
nay
đă
82
tuổi,
không
biết
rồi
c̣n
có
thể
bị
chụp
thêm
một
cái
mũ
nào
nữa
lên
đầu
hay
không
?
Một
người
Trung
Quốc,
như
một
cá
nhân
th́
thông
minh
tài
trí
;
nếu
nói
về
năng
lực,
tinh
thần
hăng
hái
th́
chẳng
thua
ai.
Nhưng
lạ
thay,
điều
khiển
một
tỷ
người
Trung
Quốc
lại
cũng
dễ
như
lùa
một
đàn
cừu.
Anh
chỉ
cần
để
cho
tất
cả
mọi
người
cùng
chịu
khổ,
cùng
bị
hà
hiếp
như
nhau
th́
họ
sẽ
chịu
đựng
được
những
cực
khổ
và
những
sự
ức
hiếp
đến
độ
không
loại
người
nào
có
thể
chịu
được.
Nếu
thi
tài
chịu
đựng
khổ
cực,
gánh
vác
tội
vạ
đồng
thời
ngậm
đắng
nuốt
cay,
nhất
định
người
Trung
Quốc
đoạt
giải
quán
quân.
Họ
giỏi
những
thứ
đó
cho
nên
thường
chỉ
bị
người
dùng
roi
da
quất
lên
lưng,
bắt
tụ
tập
lại
thành
hàng
ngh́n,
hàng
vạn
giống
một
đàn
kiến
thợ
để
làm
những
công
việc
của
bọn
nô
lệ,
như
xây
Vạn
Lư
Trường
Thành,
đào
Đại
Vận
Hà
(kênh
đào
liên
tỉnh
Hà
Bắc
-
Sơn
Đông
-
Giang
Tô -
Chiết
Giang
-
ND).
Nhất
thiết
anh
đừng
mong
cải
thiện
cuộc
đời
họ.
Cách
tốt
nhất
là
anh
chịu
khó
lắng
nghe
họ
kể
khổ,
làm
phúc
một
tư
cho
họ
bằng
cách
cho
họ
tưởng
anh
cũng
khổ
và
đồng
t́nh
với
họ.
Chỉ
cần
như
thế
là
họ
thỏa
măn
lắm
rồi
!
Chuyện
"
đập
vỡ
nồi
để
mọi
người
đều
không
có
cơm
ăn
",
người
Trung
Quốc
nào
cũng
làm
được.
Nhưng
"
nhặt
củi
để
đốt
cho
đống
lửa
chung
cháy
to
lên
"
th́
không
người
Trung
Quốc
nào
làm
nổi.
Khi
xem
xi-nê,
đến
đoạn
cô
nhi
quả
phụ
gặp
bước
đường
cùng,
bi
thương
tuyệt
vọng,
tất
cả
người
xem
kẻ
th́
lau
nước
mắt,
người
chùi
nước
mũi,
hết
đợt
này
đến
đợt
khác.
Cả
rạp
sụt
sùi
chẳng
khác
nào
cuộc
đời
của
chính
bản
thân
ḿnh
đang
được
chiếu
trên
màn
bạc
vậy.
Lúc
đó
người
Trung
Quốc
mới
thông
cảm
làm
sao
cái
tâm
trạng
"
người
đói
cũng
như
ta
đói,
người
chết
đuối
cũng
như
ḿnh
chết
đuối
"
(Nhân
cơ
kỷ
cơ,
nhân
nịch
kỷ
nịch),
cái
t́nh
cảm
đó
lúc
ấy
thể
hiện
đến
cùng
cực.
Nhưng
lúc
tan
phim
đi
về,
ra
đến
ngoài
đường,
bỗng
thấy
bên
vỉa
hè
bao
nhiêu
trẻ
thơ
tàn
phế
đang
ḅ
lê
ḅ
càng,
người
già
yếu
bệnh
hoạn
đang
van
xin
bố
thí.
Những
nhân
sĩ
hảo
tâm
mắt
c̣n
đỏ
hoe
v́
vừa
mới
khóc
trong
rạp
kia
vội
vàng
hiên
ngang
đi
lướt
qua
thật
mau
như
không
hề
nh́n
thấy
ǵ.
Đó
đúng
là
người
Trung
Quốc.
Họ
sống
ở
hai
thế
giới
khác
nhau,
vĩnh
viễn
mang
trong
người
một
nhân
cách
song
đôi.
Một
mặt
là
thế
giới
hiện
thực
đầy
rẫy
chiến
tranh,
đói
khát,
đau
khổ,
chết
chóc,
người
với
người
quyết
liệt
kiểu
"
mày
chết
tao
mới
sống
". ở
đó,
dù
cho
có
là
vua
Đường,
Nghiêu,
Ngu,
Thuấn
cũng
không
thể
cho
ai
một
cái
bánh
nướng.
Những
thứ
của
Kinh
Thi
hay
lời
dạy
của
Khổng
Tử
cũng
không
thể
đem
bỏ
vào
cho
đầy
nồi,
nấu
lên
cho
thành
cơm
được.
Tu
(thân),
tề
(gia),
trị
(nước),
b́nh
(thiên
hạ)
chỉ
là
những
thứ
của
nhà
người
khác.
Khi
đói
th́
chỉ
có
mỗi
cái
bụng
của
ḿnh
là
thứ
quan
trọng
nhất.
Dân
tộc
Trung
Quốc
là
một
dân
tộc
lâu
đời,
có
lịch
sử
văn
hóa
5.000
năm,
mà
cũng
có
cả
kinh
nghiệm
của
5.000
năm
sống
khốn
khổ.
Những
ông
thánh
hiền
xưa
để
lại
cho
chúng
ta
một
lô
lư
luận
về
cách
làm
người
phải
như
thế
nào.
Nhưng
5.000
năm
sống
gian
khổ
kia
cũng
mài
dũa
ra
một
lô
kinh
nghiệm
quư
báu
về
cách
phải
làm
như
thế
nào
để
sinh
tồn.
Trên
lư
luận
th́
phải
làm
như
thế
này
mới
đúng,
nhưng
trong
thực
tế
lại
phải
làm
như
thế
kia
mới
có
hy
vọng
sống
c̣n.
" Lư
tưởng
" và
"
thực
tiễn
"
vĩnh
viễn
tương
phản
nhau.
Đă
không
thể
vứt
lư
tưởng
đi,
lại
không
thể
không
chú
ư
đến
thực
tế.
Thế
là
chỉ
c̣n
có
cách
cứ
phải
sống
cùng
một
lúc
trong
cả
hai
cái
thế
giới
đó,
mang
lấy
cái
nhân
cách
nhị
trùng
trong
một
thân
phận.
Người
Trung
Quốc
trong
thế
giới
lư
tưởng
th́
giảng
đạo
đức,
nói
nhân
nghĩa,
nhất
thiết
có
đủ
cả
những
đức
tính
trung,
hiếu,
nhân,
ái,
tín
nghĩa,
ḥa
b́nh.
Người
Trung
Quốc
trong
thế
giới
hiện
thực
lại
luôn
luôn
giăy
dụa
bên
bờ
đói
khát,
nằm
giữa
ranh
giới
của
sự
sống
và
cái
chết.
Trong
đời
người
chuyện
lớn
nhất
là
làm
sao
giữ
được
mạng
sống
của
ḿnh.
Để
giữ
được
nó,
không
có
việc
ǵ
mà
không
dám
làm,
dù
phải
lừa
dối
lẫn
nhau,
dù
gặp
sao
hay
vậy,
sống
tạm
bợ
cho
qua
ngày.
Cái
đạo
lư
làm
người
trong
thế
giới
lư
tưởng
chỉ
là
tấm
gương
để
cho
người
khác
soi,
là
lời
để
cho
người
khác
nghe.
Cái
hành
vi
trong
thế
giới
hiện
thực
mới
là
cuộc
sống
thật
của
ḿnh.
Bởi
vậy
anh
măi
măi
không
tài
nào
có
thể
đoán
được
ư đồ
của
người
Trung
Quốc
qua
lời
nói
của
họ
được.
Một
người
Trung
Quốc
bảo
anh
ta
chúa
ghét
khách
sáo,
nhưng
anh
đừng
tưởng
thật
mà
tùy
tiện
với
anh
ta
được.
Anh
ta
bảo
rằng
hôm
nay
anh
ta
chẳng
hứng
nói
chuyện
ǵ
cả,
tuy
vậy
anh
không
thể
không
mời
anh
ta
nói
chuyện
được.
Nếu
chỉ
có
thế
th́
cũng
đơn
giản
thôi.
Chúng
ta
chỉ
cần
đảo
ngược
những
lời
anh
ta
nói,
tất
sẽ
đúng
ư
anh
ta,
có
phải
thế
không
?
Nhưng
thực
ra
lại
không
phải
hiển
nhiên
như
vậy.
Người
Trung
Quốc
nói,
nhiều
khi
có
nghĩa
ngược
lại,
nhưng
có
lúc
nó
lại
thật
là
như
vậy.
Anh
có
là
con
giun
trong
bụng
anh
ta
cũng
chưa
chắc
có
cách
ǵ
biết
đúng
được
ư
của
anh
ta.
Lăo
Trương
và
lăo
Vương
là
bạn
cũ.
Con
trai
của
lăo
Trương
cưới
vợ
nhưng
không
gửi
thiếp
mời
lăo
Vương.
Việc
này
làm
cho
lăo
Vương
nắm
chắc
lư
lẽ
trong
tay,
nên
sau
đó
lúc
gặp
lăo
Trương,
khí
thế
đùng
đùng,
bắt
đầu
hỏi
tội
:
- "
Anh
xem
bạn
bè
bằng
nửa
con
mắt,
có
đúng
không
?
Sao
con
lấy
vợ
mà
không
báo
cho
người
ta
một
tiếng
? "
- "
Đó
là
chuyện
của
con
trẻ,
tôi
chẳng
dám
phiền
đến
ông
anh
làm
ǵ
".
- "
Nói
ǵ
lạ
thế
!
Chúng
ḿnh
là
chỗ
thâm
giao,
sao
lại
có
thể
không
báo
cho
nhau
một
tiếng
nhỉ
? "
- "
Thôi,
xin
lỗi!
Xin
lỗi!
Chủ
nhật
tuần
sau
đứa
con
thứ
hai
của
tôi
cũng
sẽ
lấy
vợ
mà.
Cho
dù
thế
nào
đi
nữa,
nhất
định
cũng
mời
anh
vui
ḷng
đến
dự
cho
! "
- "
à!
ờ! "
Thế
là
sau
đó
lăo
Vương
đi
nói
khắp
nơi
rằng
lăo
Trương
liên
tục
mượn
cớ
con
lấy
vợ
để
làm
tiền.
Rồi
lại
lén
đến
mật
báo
Cục
Hành
chính
Nhân
sự
là
lăo
Trương
vi
phạm
vào
"
Mười
điều
Quy
định
đổi
mới
của
ngành
giáo
chức
".
Các
nhà
hiền
triết
Trung
Quốc
đặt
tiêu
chuẩn
cho
con
người
quá
cao,
cái
đ̣i
hỏi
của
họ
đối
với
con
người
quá
khắc
nghiệt,
đặt
ra
quá
nhiều
quy
phạm
cho
hành
vi
con
người
mà
một
kẻ
trần
tục
hoàn
toàn
không
thể
tuân
theo,
nhất
là
càng
không
thể
làm
nổi
trong
một
xă
hội
hiện
thực.
Cứ
chiếu
theo
các
quy
tắc
của
họ
mà
nhất
nhất
làm
theo,
nếu
không
bị
gọi
là
đồ
ngốc
th́
chắc
chắn
cũng
sẽ
đi
đến
chỗ
bị
diệt
vong.
Vả
lại
họ
c̣n
nhất
quyết
cho
rằng
"
nếu
không
thành
thánh
hiền,
thà
làm
cầm
thú
"
(Bất
vi
thánh
hiền,
tiện
tác
cầm
thú).
Thánh
hiền
trong
đền
miếu
chỉ
là
những
thứ
thần
tượng
làm
bằng
đất,
gỗ ;
cầm
thú
với
con
người
thực
ra
có
nhiều
sự
khác
nhau.
Người
vẫn
là
người,
tuy
rằng
có
khuynh
hướng
muốn
trở
thành
thánh
hiền,
nhưng
xét
cho
cùng
vẫn
không
phải
là
thánh
hiền.
Người
là
loại
động
vật
có
thất
t́nh
và
lục
dục.
Mục
đích
tối
hậu
của
cuộc
đời
là
sống
c̣n.
Mấy
ngh́n
năm
gian
khổ
đă
tôi
luyện
cho
người
Trung
Quốc
tinh
khôn
ra.
Cứ
cái
nguyên
tắc
nào,
cái
lư
tưởng
nào
giúp
cho
họ
sống
c̣n
được
tức
là
những
thứ
cao
nhất,
lớn
nhất,
hay
nhất.
Người
Trung
Quốc
đều
hy
vọng
mọi
người
nhiệt
tâm
v́
công
ích,
ham
làm
việc
nghĩa,
xem
việc
thiên
hạ
cũng
như
việc
ḿnh,
ít
nhất
có
thể
thấy
bất
b́nh
th́
tuốt
gươm
tương
trợ,
bênh
vực
lẽ
phải,
ủng
hộ
chính
nghĩa.
Nhưng
mấy
ngh́n
năm
đó
lại
dạy
cho
con
người
tuyệt
đối
chớ
chuốc
lấy
những
việc
không
đâu,
v́
kết
quả
của
nó,
nếu
nặng
có
thể
đưa
đến
chuyện
mất
mạng
như
chơi,
nếu
nhẹ
cũng
đưa
đến
những
chuyện
hết
sức
phiền
toái.
Để
sống
c̣n,
phương
pháp
duy
nhất
là
sống
như
con
rùa,
lúc
phải
rụt
đầu
th́
rụt
đầu.
"
Tuyết
trước
nhà
ai
người
nấy
quét,
chớ
có
lo
đến
sương
trên
mái
ngói
nhà
người
khác
"
(Các
nhân
tự
tảo
môn
tiền
tuyết,
hưu
quản
tha
nhân
ngơa
thượng
sương),
"
nghề
có
thể
nuôi
thân
th́
theo,
việc
không
dính
đến
ḿnh
chớ
mó "
(Nghiệp
khả
dưỡng
thân
tu
trước
kỷ,
sự
vô
can
kỷ
mạc
lao
tâm).
Trừ
phi
chán
sống
mới
đi
bắt
chước
Kinh
Kha,
Nhiếp
Chính
(Hai
người
hiệp
khách
đời
Chiến
Quốc,
Kinh
Kha
đâm
Tần
Thủy
Hoàng,
Nhiếp
Chính
đâm
Hàn
Tường
-
ND).
Tôi
lại
xin
kể
ra
đây
vài
chuyện
khác
để
nói
về
quy
tắc
sống
đó :
Tại
ngă
tư,
một
người
cưỡi
xe
máy
bị
xe
đâm
ngă
lăn
quay
ra
giữa
đường,
máu
chảy
lênh
láng,
nguy
cấp
trăm
phần.
Kẻ
gây
tai
nạn
đă
cao
chạy
xa
bay.
Những
xe
qua
lại
đều
ṿng
sang
một
bên
mà
đi
thật
nhanh,
chẳng
ai
muốn
rước
phiền
phức
vào
thân.
Đột
nhiên
có
một
anh
tài
xế
tắc-xi
tốt
bụng
đi
qua
thấy
không
đành
ḷng
mới
vội
vàng
dừng
xe
lại,
ôm
người
bị
thương
lên
xe
đưa
ngay
đến
nhà
thương,
đồng
thời
nộp
hộ
cả
tiền
nhập
viện,
chỉ
cốt
làm
sao
có
thể
cứu
được
một
mạng
người.
Người
bị
thương
sau
khi
từ
cửa
địa
ngục
trở
về
(tai
qua
nạn
khỏi)
liền
tố
ngược
lại,
vu
oan
cho
ân
nhân
cứu
mạng
chính
là
hung
thủ
đă
làm
ḿnh
bị
thương.
Lư
do
anh
ta
đưa
ra
rất
đơn
giản
:
nếu
không
phải
là
người
đă
gây
ra
tai
nạn
th́
có
lư
ǵ
mà
vốn
không
quen
biết
bỗng
nhiên
đem
một
người
bê
bết
máu
lên
xe
ḿnh
đưa
đến
nhà
thương,
lại
c̣n
trả
dùm
cả
tiền
nhập
viện
nữa
?
Quan
ṭa
cũng
coi
đó
là
lư
do
đầy
đủ.
Thế
là
vị
lái
xe
tốt
bụng
ấy
cuối
cùng
bị
mắc
vào
ác
báo,
phải
bán
cả
xe
đi
để
bồi
thường
cho
cái
lỗi
lầm
đă
cứu
người
của
ḿnh,
lại
c̣n
bị
xử
ngồi
tù
thêm
một
năm
trời
nữa.
C̣n
chuyện
kiểu
thế
này
có
lẽ
nhiều
người
cũng
đă
từng
chứng
kiến
:
một
hôm
trời
mưa,
trên
chuyến
xe
buưt
chật
ních
người,
các
cửa
xe
đều
đóng
kín
mít.
Lúc
ấy
lại
có
một
đứa
du
côn
dở
thuốc
ra
hút
trong
xe,
khói
thuốc
cay
xè.
Mọi
người
trong
xe
chẩy
cả
nước
mắt
nước
mũi,
người
th́
ho,
người
th́
nghẹt
cả
thở,
thế
mà
không
một
ai
dám
đứng
ra
bảo
cái
đứa
kia
tắt
thuốc
đi.
Tại
Trung
Quốc,
chỉ
cần
sự
việc
xúc
phạm
một
lúc
đến
hai
người
trở
lên
th́
tuyệt
đối
chẳng
ai
có
thể
đứng
ra
phản
đối
cả.
Ai
cũng
nghĩ
kẻ
bị
thiệt
hại
không
phải
chỉ
có
mỗi
một
ḿnh
ta.
Nếu
mọi
người
đều
có
thể
chịu
đựng
được,
không
có
lư
do
ǵ
ḿnh
lại
xuất
đầu
lộ
diện
để
đối
phó.
Nếu
phải
thi
sự
nhẫn
nại,
chịu
đựng
th́
trong
trường
hợp
này,
không
loại
người
nào
có
thể
so
với
người
Trung
Quốc.
Đối
với
việc
xâm
phạm
vào
quyền
lợi
của
bản
thân,
chỉ
cần
có
người
khác
cũng
bị
như
họ
th́
người
Trung
Quốc
nuốt
giận
nín
thinh,
rút
lui
không
dám
đương
đầu,
không
dám
làm
mếch
ḷng
kẻ
đang
gây
thiệt
hại
cho
mọi
người,
không
muốn
cho
ai
khác
có
thể
được
hưởng
lợi
lây
nhờ
hành
động
hoặc
sự
can
thiệp
của
ḿnh.
C̣n
đối
với
những
việc
không
liên
quan
đến
quyền
lợi
bản
thân,
người
Trung
Quốc
luôn
luôn
bo
bo
giữ
ḿnh,
đứng
ngoài
cuộc,
làm
kẻ
bàng
quan
đứng
xem
bên
ngoài,
không
bao
giờ
nhúng
tay
vào.
-
Người
giỏi
dại
ǵ
đi
ngửi
cứt
chó
?
Anh
bảo
tôi
là
loại
máu
lạnh
ư ?
Máu
không
lạnh
th́
làm
sao
tôi
có
thể
sống
lâu
trăm
tuổi
được
?
Bất
cứ
vào
thời
đại
nào,
làm
người
Trung
Quốc
măi
măi
c̣n
là
một
thứ
tai
họa.
Từ
5.000
năm
nay,
người
Trung
Quốc
luôn
luôn
giẫy
dụa
trong
đói
khát,
luôn
luôn
vật
vờ
trước
cửa
địa
ngục,
dở
sống
dở
chết.
- "
Ăn
uống
no
đủ
rồi
mới
biết
đến
vinh
nhục;
kho
đụn
có
đầy
th́
mới
biết
được
đến
lễ
nghi
" (Y
thực
túc
nhi
hậu
tri
vinh
nhục,
thương
lẫm
thực
nhi
hậu
tri
lễ
tiết).
Trong
lúc
c̣n
đang
sống
chết,
mất
c̣n
chưa
biết
thế
nào
th́
làm
sao
có
thể
ung
dung
vái
chào
ai
được.
Nếu
bốn,
năm
ngày
chưa
có
một
hột
cơm
vào
bụng,
mắt
mũi
tối
sầm,
th́
bất
kể
thịt
chó,
thịt
ḅ,
mà
thậm
chí
ngay
cả
đến
thịt
người
anh
cũng
vẫn
cứ
phải
ăn
để
mà
sống.
Các
ông
thánh
Trung
Quốc
c̣n
phán
thế
này
:
"
Đừng
lo
ít,
chỉ
lo
không
đồng
đều;
đừng
lo
nghèo,
chỉ
lo
không
được
an
thân!
" (Bất
hoạn
quả
nhi
hoạn
bất
quân,
bất
hoạn
bần
nhi
hoạn
bất
an)
Đây
là
hai
câu
rất
hồ
đồ.
Đă
ít
th́
làm
sao
mà
đồng
đều
cho
được
?
Một
quả
táo
nếu
đem
chia
cho
một
vạn
người
ăn
th́
làm
sao
mỗi
người
có
được
một
phần
bằng
nhau
?
Đă
nghèo
th́
làm
sao
mà
yên
thân
được
?
Nếu
một
người
năm,
sáu
ngày
không
có
một
tư
ǵ
vào
mồm
th́
làm
sao
anh
ta
có
thể
vui
vẻ
vái
chào
mọi
người?
Để
rồi
lui
vào
chờ
chết
chăng?
"
Đừng
lo
ít,
chỉ
lo
không
đồng
đều
" là
câu
dùng
để
dạy
mọi
người
phải
cố
gắng
chịu
đói
chịu
khổ
như
nhau.
"
Đừng
lo
nghèo,
chỉ
lo
không
được
an
thân
" là
để
yêu
cầu
mọi
người
Trung
Quốc
từ
nơi
đói
khổ
xin
được
tiến
vào
Ngục
Môn
Quan
(Cửa
Địa
Ngục)
một
cách
ngoan
ngoăn.
Người
giàu
có
chưa
chắc
đă
rộng
răi,
nhưng
kẻ
bần
cùng
và
người
keo
kiệt
nhất
định
là
hai
anh
em
sinh
đôi,
cả
hai
trạng
thái
này
đều
đưa
con
người
ta
đến
chỗ
trở
thành
ích
kỷ.
Người
Trung
Quốc
có
ích
kỷ
không
th́
tôi
không
biết.
Nhưng
tôi
nhớ
một
chuyện
thế
này.
Năm
1949,
tại
một
công
xưởng
quốc
doanh,
một
viên
chức
có
đôi
giầy
đế
bị
thủng
muốn
t́m
miếng
da
để
chữa.
Anh
thấy
ở
trong
một
cỗ
máy,
chỗ
bộ
phận
khởi
động,
có
cái
dây
đai
bằng
da
dài
hơn
10
thước,
khả
dĩ
có
thể
dùng
được
cho
việc
chữa
giầy.
Thừa
lúc
đêm
đến
máy
ngưng
chạy,
anh
lén
cắt
lấy
khoảng
3
tấc.
Kết
quả
là
giầy
anh
sửa
rất
tốt,
nhưng
cỗ
máy
ở
phân
xưởng
lại
không
chạy
nữa.
Nó
nằm
bất
động
trong
một
thời
gian
hơn
hai
tháng,
v́
thuở
đó
những
dây
đai
da
như
loại
ấy
c̣n
phải
nhập
từ
nước
ngoài
vào.
Chuyện
anh
chàng
này
-
chỉ
v́
cắt
một
miếng
da
nhỏ
nhưng
làm
hại
cho
cả
một
công
xưởng
-
c̣n
có
thể
có
nguyên
do :
một
phần
v́
giầy
hỏng
cần
sửa
gấp
mà
lại
không
biết
cách
nào
làm
tốt
hơn,
một
phần
v́
bản
thân
vốn
là
thợ
thuyền
không
được
giáo
dục
đến
nơi
đến
chốn,
việc
này
c̣n
có
thể
hiểu
được.
Nhưng
một
giáo
sư
đại
học
chắc
chắn
phải
được
giáo
dục
tốt
hơn
chứ?
!
Năm
đó,
một
phái
đoàn
giáo
sư
đến
tham
quan
một
cơ
sở,
thấy
trên
một
ngôi
đ́nh
trong
hoa
viên
nơi
đây,
hoa
đậu
tía
(Wistaria,
Glycine)
đang
nở
rất
tươi
đẹp.
Cái
loại
hoa
này
từ
dưới
đất
chỉ
có
một
thân
gốc
ḅ
lên
đến
trên
nóc
đ́nh
mới
tỏa
ra
làm
nhiều
nhánh
nhỏ,
lan
đi
khắp
nơi,
rũ
xuống
thành
một
cái
tàn
hoa
lớn.
Một
giáo
sư
nh́n
thấy
loại
hoa
đẹp
này
rất
lấy
làm
ưa
thích,
nhân
lúc
không
ai
chú
ư,
lấy
kéo
sắc
ra,
bụp
một
cái,
anh
ta
cắt
ngay
một
đoạn
thân
chính
để
đem
về
nhà
ươm
trồng.
Người
Trung
Quốc,
nếu
thấy
một
việc
ǵ
mang
đến
thuận
tiện
hay
lợi
ích
cho
ḿnh,
th́
cứ
làm
chứ
không
cần
biết
đến
những
tai
hại
mà
nó
có
thể
gây
ra
cho
những
người
khác.
Con
đê
pḥng
lụt
là
một
thứ
hệ
trọng
đến
sinh
mệnh
và
tài
sản
biết
bao
ngh́n,
vạn
người.
Thế
mà
có
kẻ
chỉ
v́
vài
đồng
bạc
đă
không
ngần
ngại
cắt
những
giây
thép
trên
cửa
đê
để
đem
đi
bán
cho
đồng
nát.
Đến
lúc
lụt
lội
xảy
ra
làm
hàng
ngh́n
người
chết,
tổn
thất
ức
triệu
tài
sản
th́
người
đó
chỉ
nghĩ
rằng
" đó
là
việc
của
các
người,
chẳng
can
dự
ǵ
đến
tôi
".
Trận
thủy
tai
năm
1959
là
một
chứng
cứ
rành
rành
của
việc
ấy.
Chắc
nhiều
người
hẳn
vẫn
c̣n
nhớ
câu
chuyện
xảy
ra
cách
đây
mấy
năm.
Có
công
ty
nọ
bán
ra
một
lô
thuốc
kháng
(trụ)
sinh
pê-ni-ci-lin
dùng
cho
thú
vật
đă
bị
hư.
Sau
đó
một
nhà
buôn
mua
được,
đóng
bao
b́
lại
thành
loại
pê-ni-ci-lin
cho
người
dùng,
rồi
đem
bán
ra
thị
trường.
Người
mua
tiêm
vào
bị
chết
liên
tục.
Thế
mà
việc
này
rồi
cũng
"
ch́m
xuồng
"
luôn,
không
ai
biết
được
kẻ
nào
là
thủ
phạm
!
Hiện
tại
ở
Đài
Loan
chẳng
vẫn
c̣n
thấy
có
nhiều
ống
tiêm
nhựa
đă
dùng
ở
nhà
thương
xong
lại
được
đem
ra
bán
trên
thị
trường
hay
sao
?
Một
bộ
máy
cơ
khí
trị
giá
hàng
ngh́n,
hàng
vạn
đô-la
Mỹ
là
đồ
công
cộng,
tài
sản
chung
của
mọi
người,
song
nếu
tôi
cưa
được
một
ống
sắt
từ
trong
đó
ra
để
làm
một
cái
gậy,
dù
cái
gậy
ấy
không
đáng
giá
tới
vài
chục
đô
nhưng
nó
là
của
tôi,
th́
tôi
cứ
làm.
Nếu
anh
không
thấy
rơ
chuyện
này,
anh
không
xứng
đáng
là
người
Trung
Quốc
chút
nào
hết.
Rất
may
thay
ở
các
nơi
công
cộng
bây
giờ
đều
dùng
cửa
tự
động.
Việc
này
làm
cho
cơ
hội
mất
mặt
của
người
Trung
Quốc
đă
bớt
đi
nhiều.
Trước
kia
khi
c̣n
dùng
cửa
ḷ-xo,
người
Trung
Quốc
mỗi
khi
đi
ngang
chỉ
cần
lấy
chân
đạp
một
cái
để
mở
cửa
rồi
bước
phắt
qua,
mặc
kệ
không
cần
biết
đằng
sau
có
ai
không,
cứ
thả
cho
cửa
buông
ra
làm
nhiều
người
đến
sau
dập
mày,
dập
mặt.
Đó
cũng
là
một
trong
những
"
đức
tính
"
của
người
Trung
Quốc.
Hiện
nay
Đài
Loan
đă
có
tiền
rồi,
ngành
du
lịch
cũng
được
mở
mang,
người
Trung
Quốc
lại
càng
có
nhiều
cơ
hội
để
biểu
diễn
những
truyền
thống
ưu
việt
của
họ ở
những
nơi
ăn
uống
đông
du
khách.
Người
Trung
Quốc
lúc
nào
cũng
luôn
mồm
bảo
" bị
thiệt
tḥi
là
được
phúc
".
(Ngật
khuy
thị
phúc).
Nhưng
trên
thực
tế
họ
lại
rất
sợ
bị
thiệt
tḥi.
Tại
những
bàn
tiệc
ăn
thả
cửa,
lúc
lấy
thức
ăn,
bất
kể
mặn
ngọt
chua
cay,
lại
cũng
không
hề
ước
lượng
xem
ḿnh
ăn
được
chừng
nào
; cứ
thấy
có
thứ
nào
bày
trên
bàn
là
nhồi
cho
thật
đầy
vào
bát
đến
độ
có
thể
làm
bội
thực
được
một
con
voi.
Nhưng
rồi
lại
không
thể
ăn
nhiều
hơn
người
khác,
cuối
cùng
phải
bỏ
lại
thừa
mứa
phí
phạm
biết
bao
nhiêu.
"
Trời
đất
là
quán
trọ
của
muôn
loài
"
(Thiên
địa
giả,
vạn
vật
chi
nghịch
lữ);
nhưng
người
Trung
Quốc
lại
xem
đất
nước
ḿnh
là
một
quán
trọ,
chỉ
là
chỗ
để
trú
chân
tạm
thời,
không
có ư
định
ở
lâu
dài.
Họ
chỉ
thích
những
việc
nhanh
được
lợi
của
một
thứ
"
chụp
giật
chủ
nghĩa
"
nhỏ
nhen.
Câu
"
Quan
không
sửa
chữa
công
đường
"
(Quan
bất
tu
nha)
là ư
nói
không
ai
muốn
làm
việc
ǵ
để
kẻ
khác
có
thể
trục
lợi.
"
Trẻ
tuổi
không
trồng
cây
hồ
đào
"
(Thiếu
bất
chủng
hồ
đào),
bởi
v́
cây
này
(walnut,
noyer)
phải
trồng
mười
mấy
năm
mới
ra
quả.
Vật
liệu
mà
người
Trung
Quốc
dùng
để
xây
nhà
thường
là
đất,
gỗ
mặc
dầu
vẫn
có
những
thứ
bền
bỉ
hơn
như
gạch,
ngói,
đá,
thép.
Lịch
sử
Trung
Quốc
cả
mấy
ngh́n
năm
nhưng
chỉ
thấy
c̣n
lại
rất
ít
những
nhà
cửa
cổ
kính,
cái
cổ
nhất
nhiều
lắm
may
ra
được
vài
trăm
năm.
Trong
khi
đó,
nhà
cửa
của
người
Tây
phương
ở
khắp
nơi
đều
xưa
cũ
như
lịch
sử
của
họ.
Người
Trung
Quốc
không
yêu
mến
một
tư
nào
cái
"
quán
trọ
lớn
" họ
đang
ở
tạm
trên
trái
đất
này,
cũng
chẳng
nghĩ
ǵ
đến
những
lữ
khách
sẽ
đến
đó
một
khi
họ
đă
ra
đi.
Nguyên
do
cũng
chỉ
v́
quá
nghèo
khổ,
nghèo
khổ
nên
ở
đâu,
lúc
nào
cũng
gần
kề
sự
chết
đói,
chẳng
thể
nào
nghĩ
được
đến
một
việc
ǵ
khác
ngoài
sự
sống
c̣n.
Người
Trung
Quốc
đối
với
những
tài
nguyên
có
tầm
quan
trọng
sống
c̣n
của
con
người
trên
trái
đất
vẫn
có
thái
độ "
giết
gà
lấy
trứng,
tát
đầm
bắt
cá
",
chỉ
cần
có
được
cái
lợi
ngay
trước
mắt,
không
bao
giờ
nghĩ
đến
chuyện
trường
kỳ
như
kiểu
nuôi
cừu
để
lấy
len.
Hễ
chỗ
nào
có
người
Trung
Quốc
ở
qua,
đất
đai
thường
bị
khai
thác
đến
kiệt
quệ,
rừng
bị
tàn
phá
một
cách
vô
tội
vạ,
cầm
thú
bị
săn
bắn
đến
tuyệt
chủng,
cá
tôm
bị
đánh
bắt
đến
không
c̣n
sinh
sản
kịp.
Mảnh
đất
trên
đó
vốn
có
một
dây
chuyền
sinh
thái
của
vạn
vật
đều
bị
người
Trung
Quốc
bóc
xé
đến
trơ
trọi
chẳng
c̣n
ǵ
ngoài
một
vùng
cát
vàng
mênh
mông.
Tại
Vũ
Cống,
ở
Cửu
Châu
(Ung
Châu),
nơi
ngày
xưa
là "
ruộng
đồng
bát
ngát
";ngày
nay
"
chỉ
có
nước
mà
không
có
thuyền,
mười
quả
núi
th́
chín
quả
trọc
".
Phía
đông
bắc
Trung
Quốc
(Măn
Châu)
và
Đài
Loan
ngày
nay
c̣n
tương
đối
trù
phú,
bởi
v́
hai
miền
đất
này
là
nơi
người
Trung
Quốc
di
dân
đến
muộn,
v́
vậy
tài
nguyên
vẫn
c̣n
chưa
bị
tàn
phá
đến
cạn
kiệt.
"
Người
quân
tử
mà
thích
của
cải
th́
phải
kiếm
được
nó
bằng
cách
hợp
đạo
lư "
(Quân
tử
ái
tài,
thủ
chi
hữu
đạo).
Cái
câu
nói
của
người
xưa
này
xem
ra
vẫn
c̣n
có
giá
trị
đến
ngày
nay.
Con
người
phải
theo
đuổi
lợi
ích,
nhưng
không
khi
nào
được
quên
chính
nghĩa.
"
Nghĩa
" và
"
lợi
"
vốn
không
hề
xung
khắc
mà
c̣n
bổ
túc
cho
nhau
nữa.
Nhưng
xưa
nay
các
ông
thánh
Trung
Quốc
cứ
ra
rả
bảo
"
nghĩa
" và
"
lợi
"
không
thể
đi
đôi
với
nhau.
Nào
là "
hăy
giữ
t́nh
bạn
cho
trong
sáng,
không
được
mưu
lợi
;
hăy
làm
cho
đạo
lư
sáng
tỏ,
không
được
tính
toán
công
lao
" (Chính
kỳ
nghị
bất
mưu
kỳ
lợi,
minh
kỳ
đạo
bất
kế
kỳ
công).
Vẫn
cứ
cái
thói
đạo
đức
giả,
nào
là
trọng
nghĩa
khinh
tài,
không
màng
đến
chuyện
thành
công.
ở
đầu
lưỡi
lúc
nào
cũng
lớn
lối
nói
toàn
chuyện
trên
trời
dưới
biển,
hoàn
toàn
chẳng
giống
với
cái
ǵ
xảy
ra
trong
cuộc
sống
thực
tế
cả.
Mấy
thế
hệ
người
Trung
Quốc
được
giáo
dục
trong
tinh
thần
của
"
Nghĩa
Ḥa
Đoàn
" (tên
một
hiệp
hội
đời
Thanh,
1899
khởi
nghĩa
ở
Thiên
Tân,
chủ
trương
pḥ
Thanh
diệt
Tây
phương,
đưa
đến
việc
tám
cường
quốc
liên
quân
đánh
Trung
Quốc
-
Boxers
-
ND)
hễ
mở
mồm
ra
là
nói
: "
V́
cái
chủ
nghĩa
thực
dụng
của
Tây
phương
mù
mịt,
nên
cái
đạo
đức
của
Trung
Quốc
bị
đắm
ch́m
"
(Do
vu
Tây
phương
công
lợi
chủ
nghĩa
đích
di
mạn,
tài
sử
đắc
Trung
Quốc
nhân
đạo
đức
luân
táng).
Sự
thực
th́
lại
hoàn
toàn
trái
ngược.
V́
trên
thế
giới
này
không
có
loại
người
nào
lại
thực
dụng
bằng
người
Trung
Quốc.
Người
Trung
Quốc
làm
bất
cứ
việc
ǵ,
trước
tiên
bao
giờ
cũng
nghĩ
đến
một
vấn
đề :
"
Chuyện
này
có
chỗ
nào
ḿnh
lợi
dụng
được
không
? "
Ông
bác
học
người
Anh
Newton
trước
khi
t́m
ra "
Định
luật
vạn
vật
hấp
dẫn
" (c̣n
gọi
là "
Thuyết
trọng
lực
")
đi
đồng
th́
phân
rơi
vào
hố
xí,
sau
khi
phát
minh
định
luật
này,
lúc
đi
đồng
phân
vẫn
cứ
rơi
vào
hố
xí.
Hoàn
toàn
không
phải
là
trước
khi
phát
minh
th́
đi
đại
tiện
cứt
bay
lên
đầy
trời.
V́
vậy
dân
tộc
Trung
Quốc
không
bao
giờ
"
phát
minh
" ra
được
một
"
thằng
ngốc
"
như
Newton
cả.
Ga-li-lê
t́m
được
"
Nguyên
lư
rơi
tự
do
của
vật
thể
",
đối
với
người
Trung
Quốc
đấy
chỉ
là
cái
tṛ
chơi
mất
th́
giờ,
chẳng
có
giá
trị
thực
dụng
ǵ
cả.
Những
người
"
hiền
"
chẳng
ai
chơi
cái
tṛ
đó !
Người
Trung
Quốc
khấn
Bồ-tát
phù
hộ
cho
họ
trúng
số
độc
đắc.
Nếu
họ
trúng
th́
họ
sẽ
diễn
ngay
cái
tuồng
đền
ơn,
trả
nghĩa.
Nếu
không
trúng
th́
họ
sẽ
rủa
Bồ-tát
là
đồ
tượng
gỗ,
tượng
đất.
Chỉ
cần
có
ǵ
hay
th́
thần
thánh
nào
họ
cũng
thờ.
Bằng
không
th́
họ
chẳng
tin
thánh
thần
nào
cả,
chỉ
tin
vào
chủ
nghĩa
thực
dụng
của
họ
mà
thôi.
Người
Trung
Quốc
không
có
cái
cuồng
tín
tôn
giáo,
không
hề
có
những
thánh
tử
v́
đạo,
lại
cũng
không
thể
để
xảy
ra
chiến
tranh
v́
tín
ngưỡng.
Người
Trung
Quốc
lại
càng
không
có
những
chuyện
t́nh
trong
đó
những
người
yêu
nhau
chết
v́
t́nh
yêu.
Người
Trung
Quốc
học
đạo
"
Trung
Dung
",
học
" sự
tự
kiềm
chế
",
học
cái
ǵ
cũng
phải
một
vừa
hai
phải.
Nói
trắng
ra
tất
cả
lại
vẫn
xuất
phát
từ
quan
điểm
thực
dụng.
Không
thể
buông
thả
cho
nhiệt
t́nh
bộc
lộ,
càng
không
thể
quả
quyết
về
một
việc
nhỏ
nhen
nào.
Bất
cứ
cái
ǵ
cũng
cân
nhắc
lợi
hại,
đắn
đo
xem
có
đáng
hay
không
đáng.
"
Cần
ǵ !
" (Hà
tất
!)
là
một
câu
đầu
lưỡi
nói
lên
cái
nguyên
tắc
chỉ
đạo
tất
yếu
của
người
Trung
Quốc
khi
buộc
phải
khuất
phục
một
thế
lực
xấu.
Anh
bị
người
ta
gài
bẫy,
bị
oan
tày
đ́nh,
tan
cửa
nát
nhà,
vợ
con
ly
tán.
Anh
phải
báo
thù,
phải
đ̣i
cho
được
lẽ
phải.
Lúc
đó
bạn
bè
sẽ
khuyên
anh
:
"
Cần
ǵ !
Sự
việc
đă
thế
rồi,
dĩ
nhiên
anh
phải
rửa
oan,
báo
thù.
Nhưng
người
đă
chết
rồi
có
sống
lại
được
nữa
đâu
? Kẻ
đă
ly
tán
rồi
làm
sao
có
thể
đoàn
tụ
được
?
Đối
với
anh
(hành
động
bây
giờ)
phỏng
có
ích
chi
? "
"
Cần
ǵ
phải
làm
như
thế!
", "
Có
ích
lợi
ǵ
đâu!
".
Hai
câu
này
khiến
cho
xă
hội
Trung
Quốc
vĩnh
viễn
không
có
chính
nghĩa,
làm
cho
người
Trung
Quốc
vĩnh
viễn
không
thể
giữ
vững
được
nguyên
tắc.
Bị
chủ
nghĩa
thực
dụng
chi
phối,
hễ
có
người
đụng
một
tư
vào
những
việc
khó
khăn
hay
mạo
hiểm
là
người
Trung
Quốc
liền
cho
rằng
đó
là
những
thằng
điên.
Châm
ngôn
của
người
Trung
Quốc
là :
"
Thân
ngh́n
vàng
(của
ta)
không
thể
ngồi
trong
ngôi
nhà
sắp
đổ "
(Thiên
kim
chi
tử,
tọa
bất
thùy
đường),
và "
Tay
không
đánh
nhau
với
cọp,
không
thuyền
mà
lội
bừa
qua
sông
lớn
th́
có
chết
cũng
không
ai
thương
tiếc,
nhưng
ta
th́
không
thể
nào
như
vậy
! "
(Bạo
hổ
bằng
hà,
tử
nhi
vô
hối
giả,
ngô
bất
dữ
giă
-lời
Khổng
Tử
khuyên
Tử
Lộ
là
học
tṛ
lỗ
măng).
Trên
thế
giới
này
biết
bao
việc
mạo
hiểm
như
nhảy
dù
từ
trên
không,
đi
thuyền
qua
thác
nước,
đi
mô-tô
qua
tường
lửa,v.v...
đó
chỉ
là
những
thứ
của
mấy
thằng
khờ
khạo,
kiến
thức
nông
cạn.
Người
Trung
Quốc
chân
chính
không
thể
nào
làm
những
thứ
đó.
Bởi
v́
theo
họ
nghĩ,
ngoài
việc
t́m
lấy
những
cảm
giác
mạnh
ra,
làm
những
thứ
đó
chẳng
đem
lại
được
một
lợi
ích
thực
tế
ǵ.
Người
Trung
Quốc
lúc
dự
hội
nghị
không
bao
giờ
dám
nói
ngay
ra
một
cách
thẳng
thắn
và
chính
xác
ư
kiến
của
ḿnh.
Hội
nghị
kết
thúc
rồi
cũng
tuyệt
đối
không
dám
bỏ
đi
những
ư
kiến
riêng
của
ḿnh.
Nói
chuyện
về
đạo
lư
với
người
Trung
Quốc
chỉ
là
chuyện
uổng
công.
Lúc
bắt
đầu
xin
góp
ư về
một
việc
nào
đó
th́
mọi
người
không
ai
có ư
kiến
ǵ
cả,
nhưng
khi
sự
việc
đă
được
quyết
định
rồi
th́
tất
cả
mọi
người
đều
muốn
có ư
kiến.
Nói
tóm
lại
một
câu
:
người
Trung
Quốc
măi
măi
không
thể
nào
một
ḷng
đoàn
kết,
vĩnh
viễn
không
thể
chủ
động
giữ
vững
được
các
quy
tắc,
cho
nên
chỗ
nào
có
người
Trung
Quốc
nhất
định
là
có
khả
năng
xảy
ra
hỗn
loạn.
Người
Trung
Quốc
không
bao
giờ
quư
trọng
t́nh
cảm
của
người
khác,
cũng
không
bao
giờ
quan
tâm
đến
sự
sống
chết
của
kẻ
khác.
Lúc
người
Trung
Quốc
nói,
họ
muốn
cả
thế
giới
nghe
được
lời
họ.
Lúc
đang
nói,
v́
muốn
toàn
thế
giới
lắng
nghe,
nên
họ
phải
gào
lên
thật
to
cho
tiếng
rền
mái
ngói,
cho
tất
cả
đối
phương
đều
khiếp
sợ
oai
ḿnh.
Chỉ
cần
có
hai
người
Trung
Quốc
ở
một
chỗ
là
có
thể
ồn
ào
đến
chết
người
được.
Nơi
nào
người
Trung
Quốc
đă
đặt
chân
đến
th́
không
thể
có
chỗ
nào
là
không
bẩn.
Có
hơn
một
tỷ
người
Trung
Quốc
trên
thế
giới
này,
làm
sao
mà
không
chật
chội
được
?
Ngoài
ồn,
chật,
bẩn,
loạn,
lại
c̣n
thêm
cái
tật
"
thích
xem
" (người
khác
đau
khổ),
hoặc
"
chỉ
quét
tuyết
trước
nhà
ḿnh
mà
không
động
tư
ǵ
đến
sương
trên
mái
ngói
nhà
người
khác
".
Họ
luôn
mồm
"
nhân
nghĩa
" mà
tâm
địa
ích
kỷ,
tham
lam.
Một
đằng
hô
to
khẩu
hiệu:
"
Phải
tử
tế
với
người
và
súc
vật!
",
trong
khi
đó
ngày
ngày
không
ngừng
xâu
xé
lẫn
nhau.
Tóm
lại,
người
Trung
Quốc
đúng
là
một
dân
tộc
vĩ
đại,
vĩ
đại
đến
độ
làm
cho
người
đời
nay
không
có
cách
nào
hiểu
nổi
tại
sao
họ
có
thể
tồn
tại
được
trên
quả
địa
cầu
này
những
5.000
năm
?
Người TQ Xấu Xí
|