|
Nguyễn Quốc Trụ
B Ụ I
Những người từng ở Trại Cấm Sikiew, Thái Lan,
chắc khó quên được Giáng Sinh 1991. "Đây có thể sẽ là Giáng Sinh cuối cùng của các con tại Sikiew...", Cha người Thái cai quản địa phận nói với đám người tị nạn. Trại sẽ đóng cửa vào cuối năm tới theo như tin tức báo chí. Và ông cho tiền làm một lễ Giáng Sinh như ở ngoài đời tại nhà thờ ở khu C trong Trại.
Phía trước nhà thờ là một khu đất trống với
những mỏm đá. Chiều chiều, dân tị nạn thường ra ngồi hóng mát. Bệnh
viện "Y sĩ không biên giới" ở sát bên.
Gần cổng gác phía trong, có một tảng đá, lởm
chởm những chữ: "Khu C không có vấn đề gì".
Sikiew gồm ba khu, chia cách nhau, và chia
cách với thế giới bên ngoài bởi những hàng rào kẽm gai, những cổng
gác, những tường cao. Nhà tù ở khoảng đất chũng, ngay dưới khu nhà
dành cho nhân viên Bộ Nội Vụ Thái. Trước có những vòng kẽm gai bao
quanh, sau được gỡ bỏ. Em không nhớ đâu, lần đầu chúng ta gặp, những ngày dài ở Trại.
Đúng ra là lần đầu anh nhìn thấy em.
Khi được biết cơ quan ARC (American Refugee
Committee) cần một thiện nguyện viên cho chương trình Sức khoẻ Tâm
thần, vì muốn kiểm tra mớ tiếng Anh còn sót lại, anh đến gặp ông K.
Trưởng Toán. Em và mấy người bạn ngồi quanh một chiếc bàn dài gần
bên. Chắc anh nói tiếng Anh quá dở vì anh thấy em bĩu môi, quay đi,
mắt thờ thẫn nhìn ra phía bên ngoài cửa sổ.
Chẳng phải cái bĩu môi, cái nhìn thờ thẫn, vẻ
dửng dưng chẳng chờ mong bất cứ điều gì, nhưng dung nhan tàn tạ ở em
làm anh giật mình. Anh tự nhủ thầm, đây là một thiếu nữ ngày xưa
chắc chắn xinh đẹp lắm. Cái bĩu môi kia ngày nào chúa láu lỉnh, bây
giờ thêm một chút chua chát, chán chường... Đây cũng là một con
người vừa thoát ra khỏi quá khứ và chắc chắn không làm sao quên nổi.
Viết như thế chỉ là miêu tả?
Proust nói, những gì đã sống đều mong được
sống lại. Miêu tả là làm sự vật sống lại, theo sự "sắp xếp" của
người viết. Như vậy "cách" miêu tả rất quan trọng? Đó là quan niệm của Kafka, kỹ thuật chính là linh hồn của văn chương. Anh như nhìn thấy chính anh.
Không, chẳng bao giờ anh muốn coi anh, em và
tất cả chúng ta là những nạn nhân. Đó là niềm tự kiêu cuối cùng
chúng ta còn giữ được để sống sót.
"Không phải như vậy đâu. Cái chế độ đó chẳng
làm gì nổi em. Có khi em còn phải cám ơn nó, nhờ nó mà em gặp anh H.
Ảnh trước là cảnh sát đặc biệt, sau 75 đi cải tạo, vợ bỏ. Rồi chúng
em gặp nhau". "Hồi nhỏ em mong ước trở thành ca sĩ, nhưng căn bệnh xóa sạch mọi ước mơ, kể cả ước mơ sẽ có người yêu, có chồng có con như tất cả những người đàn bà bình thường khác. Thầy biết không, anh H. có một đứa con với người vợ trước".
"Nhưng nếu không vì dung nhan tàn tạ, chắc gì
Thầy đã nhận ra em?" Em ở bên C, anh bên A. Khu A gần hàng rào. Phía ngoài là trại tù giam giữ người Việt ở Thái nhưng không chịu sinh sống tại những địa phương do chính quyền chỉ định. Tuy là tù nhưng họ được tự do, thong thả hơn so với đám người tị nạn trong trại cấm. Nhờ vậy mà có chuyện mua đồ hàng rào. Trong ném tiền ra, ngoài ném đồ vô. Những vật dụng cho đời sống hàng ngày. Và rượu. Ma túy. Anh còn nhớ có lần em nhờ anh mua giùm một đôi guốc. Mua được rồi, anh nhét kỹ trong người, đi qua trạm gác phân chia hai khu vực.
Bây giờ ở đây, khi gió, tuyết, và nỗi cô đơn
lạnh cứng người, anh vẫn cảm thấy chút ấm áp của đôi guốc ngày nào.
Và anh thèm sống lại cảm giác hoang mang, lo sợ khi đi ngang trạm
gác.
Rồi những lần bên ngoài thương tình ném trái
cây vào trong trại.
Có một truyền thuyết được truyền tụng bằng "kỹ
thuật" rỉ tai giữa đám người tị nạn ở Sikiew. Vào những đêm trước
khi xổ thanh lọc, những linh hồn người chết lang thang trên những
mỏm đá phía trước giáo đường, nơi được dùng để công bố kết quả. Có
người nói đó là linh hồn cô gái treo cổ tự tử sau khi rớt thanh lọc.
Và cũng giống như những kẻ sát nhân không thể quên nơi xảy ra án
mạng, cô vẫn quanh quẩn nơi chốn xưa, chờ đón những hồn ma mới. Một
số khác dựa vào khoa học, coi đó là hồn ma của chính họ, ngày đêm bị
tù túng, bèn tìm cách xuất khỏi xác. "Thôi mà...", một người ra vẻ hiểu biết, "chỉ là mấy ông mãnh vô công rồi nghề, đêm mò ra kẽ đá bắt dế, ngày xúm nhau chơi trò con nít, thay vì ôm cái máy điện tử bấm liên hồi..." Sau cùng có hai tay rủ nhau thức suốt đêm. Câu chuyện họ kể lại nghe cũng có lý...
"Hình như cái số của em là cứ bị mấy ông thầy
thương. Anh H. cũng là thầy dậy em học đờn. Em đã chọn anh H., chính
em chọn" .
Vậy mà đã trên ba năm trời. Điều anh lo lắng
nhất vẫn là căn bệnh của em. Những ngày cuối cùng ở Trại Cấm, chờ
đợi kết quả thanh lọc, có mấy ai chắc chắn qua được, đó là những
ngày anh thấy em bệnh nhất. Và cũng thấy em đẹp nhất. Cơn đau làm má
em ửng đỏ, làm em đẹp một cách lười biếng, không thèm che đậy, buông
thả trong cách ngồi, cách lơ đãng nhìn bài học, nhìn ông thầy. Khi
em nghĩ, có thể em đang làm phiền bạn đồng học, hoặc cơn đau làm em
hết chịu đựng nổi, em bỏ ra ngoài. Hình như anh thương em từ ngày
đó. Thương theo nghĩa muốn chia sẻ cùng em một chút cơn đau. Khi em
rời Trại Cấm, lên khu chuyển tiếp, chờ gặp phái đoàn, chờ ngày đi
định cư, chỉ tới phút đó, anh mới nhìn rõ tình cảm của mình. Anh
mừng thầm, vì chẳng bao giờ em biết được, và khi anh chạy theo em,
chắc chắn là em đã đi rồi. Anh mặc cả cùng số mệnh, nếu anh qua
được, em còn ở đó, anh sẽ nói...
Em nhớ lần đầu anh xin hôn em? Bữa đó, em đang
ngồi ăn. Anh H. xong trước, bỏ ra ngoài tụ tập với đám bạn bè cũng
lính tráng, sĩ quan ngày xưa. Em vừa ăn, vừa cười, vừa nói... Môi em
bóng nhẫy, anh không thể dằn được, hỏi xin. Em láu lỉnh trả lời: Trời đánh còn tránh bữa ăn!
Chính cái tính tình thông minh, cái bĩu môi
đầy gợi cảm, cái lối nói như buộc lấy nhau đó làm anh khốn khổ, khốn
nạn vì em. Ngay cả lá thư đầu em viết, anh cũng không thể ngờ được. Bữa đó, anh qua nhà, em nghiêm trang nói: "Thầy ngồi xuống đây, sửa giùm em bài tiếng Anh". Đâu có ngờ đó là những tình cảm, sự hối hận, cơn hoảng sợ vì trò đùa biến thành sự thật:
What we are doing is not good... Cái điều
chúng ta đang làm không tốt. Thầy đừng qua nhà em nhiều. Khi em đi
rồi Thầy sẽ khổ. Em cũng nhớ Thầy vậy. Họ nói, họ thấy hai ông tiên, râu tóc bạc trắng, mỗi ông cầm một cuốn sổ, ngồi đối diện trên hai mỏm đá. Bên dưới là những hồn ma, kẻ khóc lóc, kẻ năn nỉ... "Sự thật" nổ bùng ra, như thuốc súng. Mọi người đổ xô ra mân mê, khẩn cầu hai mỏm đá vô tri. Có thể vì quá bực mình, hoặc ái ngại, hoặc muốn cho cuộc phán xét tử sinh được công tâm, hai vị tiên đã cho xây những bức tường cao, che kín mọi bí ẩn. Bây giờ nếu bạn không tin, xin mời tới Sikiew. Những bức tường giờ này vẫn còn, và được dùng vào việc giam tù, đóng dấu ấn Địa Ngục.
Trong những điều được nói về Sikiew, tất cả
chỉ là bịa đặt, hoặc tô điểm. Duy có điều này: Nó thực sự là một địa
ngục.
-Nước mắt cũng có hạn. Nơi này đổ ra nhiều thì
nơi khác dè xẻn lại.
-Bạn muốn nói, đừng lạm dụng cảm xúc?
-Người ta chỉ đọc khi xúc động. Nhưng chớ bao
giờ lạm dụng cảm xúc của độc giả cũng như của chính mình.
12 giờ đêm.
Không ai ngủ được. Có chăng chỉ là vật vờ,
khắc khoải. Cứ như áy náy, xót xa một điều gì. Trời không nóng.
Sikiew vào độ cuối năm thường se lạnh về đêm. Một số người ngày
thường vốn dễ ngủ, vậy mà đêm nay cũng làm như bực mình vô cớ. Họ
kéo nhau ra sau căn lều bầy một bàn trà, nhỏ to trò chuyện. Đám an
ninh, vốn rất nghiêm với những vụ vi phạm 48 điều nội qui, đêm nay
sao cũng như chùng xuống. Trong căn lều đèn đã tắt. Đám người quanh
bàn trà thỉnh thoảng khum tay che ngọn đèn cầy chập choạng trước
gió. Ngoài kia trăng lưỡi liềm treo chếch, ngược ngạo một bên trời,
sau rặng cây. Trong căn lều có ai đó la ú ớ. Mọi người giật mình.
Không phải. Báo động hoảng. 1 giờ sáng
Luồng gió lạnh tẩm đầy thứ sương sớm ẩm độc
của miền núi theo nhau ùa xuống thung lũng Sikiew. Bóng đen sẫm của
khối núi phía sau Trại đè nặng lên mớ lều lùn tịt. Ánh trăng mầu
huyết dụ rùng mình giữa đám lá cây. Một con cú từ họng núi xa, nhắm
căn lều vỗ cánh loạn xạ. Tiếng đập cánh làm một con chó hoang rướn
cổ tru dài. Con cú đảo một vòng quanh lều, rúc lên một hồi. Một con
mèo đen, từ một xó xỉnh nào, bỗng nhẩy xổ lên mặt bàn. Mấy chiếc ly
giật mình kêu loảng xoảng. Ngọn đèn cầy chao nghiêng, rỏ xuống mặt
bàn mấy giọt nến làm dấu.
Đột nhiên nhận ra sự hiện diện của đám người
ngồi quanh bàn, con cú đảo về phía núi, đầu ngoái lại như tiếc rẻ.
Câu chuyện đang từ đề tài muôn thuở, thanh lọc, bỗng chuyển qua điềm
triệu. Một anh chàng trung niên, cựu sĩ quan, quả quyết chính mắt
nhìn thấy một con cú khổng lồ trên nóc dinh Độc Lập, đúng đêm 30
tháng Tư năm nọ. Nó cứ rúc lên từng hồi. Mọi người rướn dài cổ, há
hốc mồm... "Hỡi các anh em binh sĩ, sĩ quan, hãy buông súng đầu
hàng!"
2 giờ sáng
Sương xuống nhiều hơn. Trời đất mù mù, ảo ảo,
nhuộm mầu máu bầm của lưỡi trăng ma quái móc một nửa vào mái bệnh
viện. Con cú trở lại. Sợ đám người, nó lựa một cành cây chết ngay
bên dưới lưỡi trăng, rúc lên từng hồi. Đám người không ai bảo ai,
lượm đá ném tới tấp. Không thèm để ý đến việc làm vô ích, con cú chờ
đám người hết lăng xăng, một lúc sau mới rời cành cây, theo hướng
núi bỏ đi.
3 giờ sáng
Anh chàng thanh niên chợt thức giấc, ngó lên
căn lều, ngạc nhiên lẩm bẩm: "Quần áo ai treo lủng lẳng...". Bỗng
anh giật bắn người, tỉnh hẳn.
Yêu tức là cầu chúc quên được nhau
Sikiew nổi tiếng trong đám người tị nạn vì bụi của nó.
Ngay những giấc mơ của họ cũng đầy bụi.
Chúng mình chỉ là hai hạt bụi lỡ thương nhau. Người xưa thèm nắm áo đề thơ. Có lần anh mơ thấy em. Và sau đây là bài thơ nắm áo:
(Khi chuyện cô gái treo cổ tự tử xẩy ra, anh
và em đã rời Sikiew. Chắc em còn nhớ Dũng, học trò Pháp văn, bạn cờ,
và cũng là người giúp đỡ anh rất nhiều trong những ngày ở Trại Cấm.
Dũng đã ghi lại, gửi lên trại Transit cho anh, nhờ sửa rồi gửi cho
các báo hải ngoại, hy vọng có chút tài liệu khi tái thanh lọc. Dũng
rất mê văn chương, rất phục Garcia Marquez. Chi tiết con cú đậu trên
nóc dinh Độc Lập là của Dũng. Cũng vậy, những đoạn tả cảnh địa ngục
trong lúc chờ đón linh hồn nạn nhân. Anh chỉ sửa lời văn, thêm thắt
một vài chi tiết. Chính chi tiết lý thú đặc chất Garcia Marquez về
con cú đã gợi hứng cho anh, và anh đã viết thành một truyện ngắn,
tác giả Nguyễn Anh Dũng, gởi đăng ở một tờ báo ở Úc, và một ở
Canada. Hồi ở trại Transit, hình như em đã có đọc.
Nguyễn Quốc Trụ Source : TIN VAN (tanvien.net)
----------------------
http://www.media.illinois.edu/journalism/yates/gallery/vietnam.html http://tynan1975.blogspot.com/2010/08/oi-ty-nan.html
|