|
NGHĨ VỀ PHÊ BÌNH
~~000~~ Từ trước đến nay người ta vẫn thường coi những phê bình gia như những người làm công việc chú thích, cắt nghĩa cho đám đông thưởng ngoạn những ý nghĩa của một tác phẩm nghệ thuật. Vai trò của phê bình gia thu gọn trong việc giải thích, soi sáng, tìm kiếm trong tác phầm những ý định, những tâm sự, những toan tính hoặc những tư tưởng cao xa, thâm trầm của mỗi tác giả. Kiều là tâm sự của Nguyễn Du, một cựu thần của nhà Lê vẫn chưa quên vua cũ. Từ Hải là giấc mộng hồ hải của một chàng thư sinh đất Tiên-điền... Từ vai trò cắt nghĩa giải thích một tác phẩm nghệ thuật, những phê bình gia còn bước thêm một bước nữa và trở thành những quan tòa chuyên việc phán đoán, thẩm định giá trị của một tác phẩm, trở thành những kẻ dẫn dắt, chỉ bảo nghệ thuật. Họ đặt ra những quy luật mà nghệ thuật, muốn xứng đáng với tên gọi nghệ thuật, bắt buộc phải noi theo. Chúng ta có thể kể ra một vài quy luật từ bao lâu nay đã trở thành những gông cùm, những nhà tù giam giữ nghệ thuật, chẳng hạn những quy luật về cái đẹp, về một Thẩm Mỹ học. Nghệ thuật phải thờ phụng cái Đẹp, phải coi Thẩm Mỹ học như cùng đích của nghệ thuật. Khi đã thôi không đòi hỏi nghệ thuật phải đuổi theo cái đẹp muôn đời, người ta lại muốn bắt buộc nghệ thuật phải có những tác dụng có tính cách lịch sử hoặc xã hội. Nghệ-thuật phải là Tiếng Nói của đám đông. Nghệ-thuật không được là tiếng nói của một người. Một vài nhà phê bình có khuynh hướng xã hội lại còn đi đến việc phủ nhận ngay cái tên của tác giả viết trên đầu mỗi tác phẩm. Đối với họ, tác phẩm luôn luôn là công trình của một toàn thể, của đám đông chứ không phải của một cá nhân nào. Theo ý hướng đó, Nguyễn Du không phải là tác giả của cuốn truyện Kiều. Kiều là một tác phẩm được ký tên bởi một đám đông vô danh, bởi toàn thể những con người đã sống cùng thời với Nguyễn Du. Ngoài ra còn có những hệ thống triết học, những ý thức hệ đầy những giáo điều muốn chi phối, thao túng nghệ thuật. Những đồ đệ của học thuyết Freud chẳng hạn đã chỉ nhìn thấy nàng Kiều như hình ảnh của một Nguyễn Du đầy những ẩn ức, những dồn nén sinh lý. Đối với họ Kiều được viết ra bởi Freud chứ không phải bởi Nguyễn Du. Những nhà phê bình thấm nhuần chủ nghĩa mác-xít như một Nguyễn Bách Khoa, một Trương Tửu lại chỉ coi tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh như một bằng chứng tố cáo sự sa đọa của đẳng cấp Tố Như. Rất ít phê bình gia coi tác phẩm như một công trình sáng tạo, coi nghệ thuật như một mặc khải, như một cái gì ở trên, ở ngoài tất cả những quy luật, những xác định, những cái nhìn có sẵn, đầy những thành kiến. Nghệ thuật, bởi yếu tính là sáng tạo, là mặc khải đã vượt ra ngoài tất cả những toan tính, những thao túng, muốn biến nó thành một công cụ, một phương tiện thông tin hoặc tuyên truyền. Hơn thế nữa nghệ thuật còn vượt lên trên tất cả những cái nhìn quy định nó như một sản phẩm văn hóa cố định.
Trở lại với vấn đề phê bình nghệ thuật, những câu hỏi được đặt ra đối với tất cả những phê bình gia là phê bình là gì ? Thế nào là phê bình một tác phẩm nghệ thuật ? Đâu là chỗ đứng của một phê bình gia bên cạnh tác phẩm, bên cạnh tác giả và bên cạnh đám đông thưởng ngoạn. Nếu phải khởi từ một định nghĩa, đã nói ở trên, theo đó, phê bình tức là soi sáng, cắt nghĩa, định giá một tác phẩm, là nói lên cái mà tác phẩm, tác giả muốn nói. Nếu thật sự như vậy, phê bình chỉ là nhắc lại một cái gì đã có sẵn. Phê bình trở nên một thừa thãi trước công trình sáng tạo. Còn gì vô ích hơn khi nhà phê bình tự hào đã khám phá ra chân lý của một tác phẩm trong khi chân lý đó đã hoàn toàn có sẵn trước và sau khi nhà phê bình tự hào tìm kiếm thấy. Tệ hơn nữa, nhiều khi phê bình gia lại còn hiểu nhầm, hiểu sai ý hướng một tác phẩm nghệ thuật cùng chủ đích của tác giả. Bởi vậy cho nên phần lớn những văn nghệ sĩ tỏ ra khó chịu khi nói đến phê bình. Họ cho rằng tác phẩm tự nó nói lên đủ, không cần đến những lời bàn thừa thãi, vô ích, Tác phẩm nghệ thuật xuất hiện như một món đồ mời mọc sự thưởng ngoạn. Nó phủ nhận hay nói đúng hơn, nó chạy trốn tất cả những cái nhìn soi sáng, cắt nghĩa nó.
Như trên đã nói, tác phẩm nghệ thuật, bởi yếu tính của nó là sáng tạo, mặc khải, bởi sự xuất hiện của nó là một cái gì hoàn toàn bất ngờ, chứa đầy bí ẩn, huyền hoặc cho nên nó luôn luôn vượt lên trên mọi giải đáp về chính nó. Theo một cách nói riêng, tác phẩm không là tác phẩm, không ở trong tác phẩm, luôn luôn ở ngoài, không khép kín nhưng mà là mở rộng ra tất cả mọi chân trời thông cảm. Tác phẩm nghệ thuật xuất hiện như là một thách đố tất cả những giải đáp, những thắc mắc, những cái nhìn soi sáng. Người ta không thể nói hết về một tác phẩm nghệ thuật. Ý nghĩa một tác phẩm vượt ra ngoài mọi giam giữ của tất cả mọi hình thức. Chúng ta đã nói về tác phẩm Kiều. Bao nhiêu mực đã chẩy chung quanh sáng tác đó. Nhưng chúng ta cũng sẽ còn nói nữa, nói rất nhiều về tác phẩm đó. Bởi vì tác phẩm là một cái gì không hết. Không một phê bình gia nào có thể tự dành cho mình cái đặc quyền nói lời nói cuối cùng về một tác phẩm nghệ thuật. Nếu phải coi một tác phẩm nghệ thuật, xuất hiện trong một thời điểm nhất định của lịch sử, thí dụ như cuốn Kiều đã xuất hiện trong thời kỳ Nguyễn-Sơ, Chinh-phụ-ngâm trong thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, và trong giai đoạn nghiêng ngả của thời đại lịch sử đó, cuốn Kiều, cuốn Chinh-phụ Ngâm-khúc là những chứng tích còn lại cho đến bây giờ, nếu phải chấp nhận sự kiện những tác phẩm đó gần như đã trở lên những huyền thoại tiêu biểu cho giai đoạn lịch sử đó, nhiệm vụ của phê bình gia phải là giải hoặc, tức là phải bỏ bức màn huyền hoặc che kín tác phẩm. Trường hợp cuốn Kiều chẳng hạn, nếu Nguyễn Bách Khoa bằng những lý thuyết duy vật sử quan của thời đại ông đã nhìn thấy sự vong thân, sự sa đọa của lớp quan lại thời Nguyễn-Sơ, tiêu biểu cho lớp quan lại đó là Nguyễn Du, công việc quan trọng còn lại của Nguyễn Bách Khoa là phải cắt nghĩa tại sao, và bằng cách nào tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh đã vượt khỏi sự vong thân đó và tồn tại đến tận bây giờ. Chính cái tác động vượt ra khỏi sự vong thân, chính cái bước nhảy vọt chứng tỏ Kiều là một công trình sáng tạo của thiên tài Nguyễn Du. Nói cách khác đẳng cấp Nguyễn Du có thể sa đọa theo như lập luận của những phê bình gia thấm nhuần chủ nghĩa mác-xít, nhưng cuốn tiểu thuyết-thơ Đoạn Trường Tân Thanh thì không. Cũng vậy, nếu những đồ lệ của thuyết phân tâm học đã tìm kiếm thấy những triệu chứng bệnh hoạn của Nguyễn Du qua hình ảnh một nàng Kiều, của Ôn Như Hầu Qua hình ảnh một nàng cung nữ thất sủng bị những ám ảnh vật chất, những dồn ép sinh lý, công việc quan trọng còn lại của nhóm đồ đệ của Freud là phải giải thích được sự lành bệnh, sự trong sạch của tác phẩm Kiều và Cung Oán.
Câu hỏi " thế nào là phê bình nghệ thuật ?" và câu hỏi " thế nào là văn chương nghệ thuật ? " thật ra chỉ là một. Đó là những câu hỏi đưa đến một thắc mắc liên quan đến sự hiện hữu cũng như vận mệnh của chính cái được gọi là văn chương, nghệ thuật. Đó là thắc mắc nền tảng về sự sáng tạo và những cái nhìn soi sáng sự sáng tạo. Nếu coi nghệ thuật và đặc biệt một ngành riêng biệt của nghệ thuật là văn chương, như một công trình sáng tạo, dựa trên ngôn ngữ, phê bình là một công trình sáng tạo cũng khởi từ một ngôn ngữ để nhằm nói tới một ngôn ngữ khác: văn chương là ngôn ngữ và phê bình là ngôn ngữ của ngôn ngữ. Và khi đã coi phê bình như một hình thức thứ nhì của văn chương, tất cả những câu hỏi liên quan đến văn chương như Viết là gì ? Tại sao Viết ? Viết cho ai ? và Viết thế nào ?... đều là những câu hỏi của phê bình. Phê bình cũng là sáng tạo, Trước một tác phẩm đang chịu đựng cái nhìn phê bình, phê bình gia chỉ có thể trả lời bằng một tác phẩm. Một sự viết kêu gọi một sự viết. Trong mỗi nhà văn đều ẩn náu một nhà phê bình, và phê bình gia là một nhà văn do nhu cầu đòi hỏi bởi một nhà văn. Tác phẩm, theo nghĩa nội tại, đều đã được đọc trước khi được viết ra. Trong số những tác phẩm hiện đại, kể từ Contre Sainte-Beuve của Proust, được coi như một version, một cắt nghĩa tác phẩm " Đi tìm thời gian đã mất" , đến Les Faux-Monnayeurs, và Journal của Gide, đến La Nausée của Sartre, tác phẩm nào cũng chứa đựng những suy tưởng của chính tác giả trên tác phẩm của mình. Những dòng chữ đầu của Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền là những phát giác của ông về chính tác phẩm Bếp Lửa. Đó là Thanh Tâm Tuyền nhìn bởi Thanh Tâm Tuyền. Cho nên văn chương luôn luôn viện dẫn tới người bạn đồng hành của nó, một kẻ đối thoại với nó. Bạn đồng hành của văn chương, đó là phê bình vậy.
Phê bình không hoàn toàn có nghĩa là khám phá một tác phẩm
mới, một tài năng mới, phê bình là mở rộng tác phẩm ra mọi ý
nghĩa khả hữu. Tác phẩm văn chương và tác phẩm phê bình đều
là những biến số của chung một hàm số ngôn ngữ.
Phê bình không là sáng tạo nên một ngôn ngữ khác hẳn cái
ngôn ngữ mà tác giả đã dùng để cấu tạo nên tác phẩm, phê
bình chỉ có thể sáng tạo nên một tác phẩm cũng bằng thứ ngôn
ngữ đó. Cái "ngôn ngữ của thứ ngôn ngữ " mà chúng ta
đã nói tới ở trên chỉ là một sự khép lại cũng bằng
một tác phẩm (của phê bình gia) trên một tác phẩm (của nhà
văn). ***
Trở lại với nhận định : Phê bình không là khám phá nhưng mà
là mở ra tất cả những ý nghĩa, phê bình là làm tác phẩm
nói lên, nếu thế, một phản đề, hay một phương pháp phê
bình thứ nhì cũng được đặt ra với chúng ta : Phê bình là đẩy
sâu tác phẩm vào vùng đất vô ngôn, xuống hố sâu của yên
lặng, là xua đuổi tất cả mọi ý nghĩa được gán ghép cho một
tác phẩm, là làm tác phẩm không nói. Đó là bề mặt và
bề trái của phê bình. Phương pháp phê bình thứ nhì hay là bề
trái của phê bình này xuất hiện như một thách đố, một thử
thách đối với tất cả những phê bình gia. Bởi vì tìm ra một ý
nghĩa ở nơi tác phẩm, mang nó ra ánh sáng của lý trí, điều
đó không đến nỗi khó khăn lắm, nhưng treo lửng, làm triệt
tiêu tất cả những ý nghĩ khá hữu của một tác phẩm, công việc
đó gần như là một dự phóng tuyệt vọng. Tạo nên một khoảng
trống ý nghĩa, một vùng đất không người, phê bình gia khi đó
trở nên người thứ nhất, một gã Adam có trước mọi ý nghĩa mọi
sáng tạo. (Những dòng tự phê bình, những dòng kiểm thảo:
Bởi vì một tác phẩm được viết ra để được đọc, để chịu đựng cái nhìn phê bình, để được cắt nghĩa, bởi vì chỉ có nhầm lẫn có chân lý trong những phán đoán, chỉ có cái một, trong cái hai, trong cái nhiều, cho nên phê bình một tác phẩm tức là chịu đựng cái nhìn của chính tác phẩm đó. Phê bình trước hết là đọc một tác phẩm, và đọc tức là ôm lấy những ám ảnh, những dằn vặt, những âu lo của tác giả, coi tác phẩm như là của mình. Khi tôi đọc Bếp Lửa, đọc L'Étranger, đọc Nausée, đọc Dostoievski, đọc Malraux .., khi tôi khám phá ra cái họa siêu hình, khám phá ra những cuộc phiêu lưu lỡ dở, hư hỏng của ý thức - ý thức như Pasternak đã nói, giống như chiếc đèn pha xe hơi, được đặt ra ở trước xe để soi sáng con đường, tìm tòi lối đi, chứ không phải được đặt ở phía sau, hay ngay trong lòng xe - đồng thời tôi cũng cởi bỏ vô số những ảo tưởng về văn chương. Tôi cảm thấy tôi khỏi bệnh. Văn chương chỉ là ngôn ngữ, không ở ngoài ngôn ngữ, ngôn ngữ được hiểu như một nhóm những ký hiệu kết hợp lại. Và ý thức không có ở ngoài ngôn ngữ, ý thức có cùng với ngôn ngữ, ý thức từ từ ló dạng theo những dòng chữ đang được viết ra. Viết là để hiểu tại sao viết. Làm gì có một nền văn chương được đặt tên trước là ý thức và tự do. Cần phải phân biệt văn hóa và văn chương. Văn chương là sáng tạo, văn hóa là chiếm hữu sự sáng tạo. Một nền văn hóa ý thức và tự do có thể như vậy được. Nhưng một nền văn chương tự do và ý thức, cái đó còn tùy. Ý nghĩ của một tác phẩm hoàn toàn ở trong những chữ của tác phẩm đó. Francis Ponge nói : « Chữ kỳ lạ lắm, nó cụ thể, nó có tai để nghe, mắt - để nhìn, và hình như nó còn có nghĩa nữa." Có bao nhiêu huyền thoại về những chiều sâu của tác phẩm, của con người, những ảo tưởng về những thế giới được giấu kín (les arrière-mondes), R. Grillet, F. Nietzsche. Và vô số những kẻ khác đã tố cáo, đã tiêu hủy tất cả rồi. Hiện tượng luận đã chỉ trích Descartes tại sao phải bước ra ngoài miếng sáp ong để bịa đặt ra cả một hệ thống triết học về trương độ. Tại sao lại bắt nhà văn bước ra ngoài mớ từ ngữ của hắn ?
Cho nên phê bình tức là khởi từ sự đọc, coi những băn khoăn, những thắc mắc của tác giả như là của mình, sống với những "mặc cảm văn chương" của tác giả, rồi cố gắng tiêu hủy những mặc cảm đó). *
R. Barthes, khởi từ bài học văn chương của Kafka, đã định nghĩa văn chương như là phương thế sử dụng những ký hiệu, không phải để đặt tên cho cái nghĩa (le sens) nhưng mà để treo lửng, để gạt gẫm, lừa phỉnh nó. Nghệ thuật khêu gợi, dẫn dụ chúng ta rằng thế giới, đời sống có nghĩa, nhưng nó không nói lên cái nghĩa của đời sống. Nghệ thuật là cái nhìn của Moïse trước Đất Hứa, là gã Orphée trong nỗi thấp thoảng, lo sợ không dám ngó lại phía sau. Văn chương trở nên một xác chết, (trở nên văn hóa) khi nó nằm ngủ yên trên đống ý nghĩa cũ, mòn, khô héo, già nua, bệnh tật. Người ta đã chẳng nói thi sĩ đã tự sát, và thơ bây giờ ốm đau, què quặt ? Nghệ thuật, bởi vì lòng tham lam của một số người ( những chính trị gia, những triết gia, những khoa học gia) tưởng nó là con gà đẻ trứng vàng, là cuốn sách ước, đôi đũa thần, họ đã giết chết nó, làm nó tan biến vào hư vô như thân thể nàng Eurydice khi chạm phải cái nhìn tò mò, hung bạo của chàng nhạc sĩ. *
Phê bình là một tác phẩm nói với một tác phẩm, một chủ thể nói với một chủ thể khác, một cái nhìn phán đoán bị nhìn lại.
Phê bình là xé rách, cởi tung tất cả mọi ý nghĩa để nhằm đưa
tới một chạm mặt, một đối chọi, một thông cảm...
NGUYỄN QUỐC TRỤ (Tạp chí Văn, Năm Thứ Nhất, 1967, Số 2, trang 48 - 55 )
~~oOo~~
(Nguồn : Tin Văn
|