Thiếu Khanh

 

MẤY HỒI ỨC LẨN THẨN

VỀ NHỮNG NGÀY THƠ ẤU SỐNG TRONG CHÙA

 

 

           Trong comment dưới bài viết về ngôi Chùa Tập Thành Cổ Tự của tôi, Hoang Kim Oanh có nhắc đến ngôi chùa Long Vân Tự bên Bà Chiểu, thuộc Gia Định xưa.

Chùa Long Vân hiện nay nằm trên đường Bạch Đằng, bên tay trái hướng chợ Bà Chiểu lên Hàng Sanh, và sâu vào phía trong. Hơn 60 năm trước, khu vực này trống trải nên thấy ngôi chùa nằm rất chơ vơ vắng vẻ. Phía bên nay đường, đối diện ngôi chùa là một băi rác mênh mông như thể... chạy xa tận chân trời, và ăn lan qua bên kia đường, và bị không gian khuôn viên ngôi chùa (lúc bấy giờ chưa có khuôn viên rơ rệt) chận lại xa xa. Ngôi chùa thật là cô đơn và quạnh quẽ.

Hồi đó rác chủ yếu là rác thải sinh hoạt, hữu cơ, có lẽ không độc hại như rác bây giờ. Tuy vậy khi người ta đốt rác, và cái băi rác mênh mông ấy cháy, cả một khu vực rộng lớn ch́m trong biển khói. Ai đang đi trên con đường này chắc là chết ngộp v́ khói. Nhưng hồi đó đường vắng lắm. Nhiều chục năm sau khu vực này đă trở thành khu đô thị sầm uất và rất lạ lẫm.

Vài mươi năm trước, ngồi trên xe bus trên đường Bạch Đằng, tôi bỡ ngỡ và xúc động bắt gặp cái cổng chùa Long Vân Tự bên mé đường, bị kẹp giữa các dăy nhà lầu đúc (chắc là ngôi chùa bị nhà cửa người dân bao vây ở trong xa!), nhớ lại đường Bạch Đằng này chính là con "đường rác" năm xưa! Nhưng không nhớ con đường Hàng SANH hồi đó nằm ở đâu, và có phải là đường Hàng XANH bây giờ không.

Tiếc khung cảnh những ngôi chùa vắng vẻ thanh tịnh ngày xưa. Chùa chiền bây giờ nằm lọt thỏm giữa phố xá đô thị ồn ào náo nhiệt. Cũng là một cách "Phật giáo nhập thế," “Đạo Phật đi vào cuộc sống" chăng?

Hoang Kim Oanh nói Chùa Tập Thành nằm giữa khu Đồng Ông Cộ chắc là nhớ nhầm. Ngôi chùa ở giữa Đồng Ông Cộ có lẽ là Chùa Minh Quang Tự, (hay Quang Minh Tự? lâu quá quên mất!) chớ không phải chùa Tập Thành. Có lẽ chùa Minh Quang chỉ mới được xây dựng vào đầu thập niên 50 thế kỷ 20, hay trước đó không lâu, không cổ như chùa Tập Thành. Trong khi chùa Tập Thành Tự nằm ngoài ŕa Đồng Ông Cộ, rất vắng vẻ, tiếp giáp với vùng nước và dừa nước mênh mông của rạch Bến Nghé, chùa Minh Quang nằm giữa Đồng Ông Cộ. Khu vực này có nhiều dân cư và nổi tiếng với khu nghĩa địa “rùng rợn” cùng tên.

Pháp tự của thầy trụ tŕ chùa Minh Quang là thượng Ngộ hạ Chơn. Thầy Thích Ngộ Chơn là sư đệ của thầy tôi (Thích Chơn Giác). V́ chùa mới xây dựng, thầy mới đến trụ tŕ, chưa có đệ tử, mà chỉ có vài bà cụ già nua công quả giúp chuyện quét dọn và nấu ăn cho thầy. Mỗi khi thầy có việc cần vắng mặt ở chùa, tôi được thầy tôi sai đến chùa Minh Quang ngủ qua đêm để khoảng 4 giờ sáng dậy làm lễ “công phu.”

Thường ngày ở chùa có ba khóa lễ: 8 giờ tối là lễ “Tịnh độ,” 4 giờ sáng là lễ “Công phu”, và 12 giờ trưa là lễ “Cúng ngọ.” Tôi vào chùa lúc 9 hay 10 tuổi, và nhanh chóng chiếm được vị trí học tṛ út cưng nhất của thầy, nhờ “sáng dạ.” Thầy đi đâu cũng dẫn tôi theo (để khoe một môn đồ nhỏ tuổi “thông minh” (!). Tôi nhanh thuộc kinh sách, nhớ nhiều lời giảng (thuyết pháp) của thầy, nhất là, chỉ trong khoảng một năm sau, tôi có thể học thuộc ḷng 5 “biến” kinh Lăng Nghiêm chỉ trong năm ngày, một điều mà hồi đó có người mất hàng nhiều tháng để thuộc, thậm chí có người mất gần một năm ṛng đọc vẫn c̣n ú tớ, v́ toàn là những âm thanh (phiên âm tiếng Phạn) trúc trắc và vô nghĩa. Chú Đại Bi không hề làm khó tôi. Ngoài ra tôi thuộc và thực hành thông suốt các khóa lễ hàng ngày trong chùa. Cho nên khi thầy trụ tŕ chùa Minh Quang đi vắng, tôi được sai đến đó tụng kinh khuya để chùa không vắng tiếng kinh kệ chuông mơ.

Tôi không biết ai làm lễ “Tịnh độ” ở chùa Minh Quang khi thầy vắng mặt, mà chỉ sau lễ “Tịnh độ” ở chùa Tập Thành, đến khoảng 9 giờ tối tôi mới bắt đầu rời chùa để tới chùa Minh Quang. Tôi một ḿnh lầm lũi đi giữa một con đường quê tối đen như một ḷng suối cạn đầy cát, mà ban ngày th́ mát rượi v́ được tre hai bên đường che phủ.

Để đến chùa Minh Quang, tôi phải đi qua nghĩa địa Đồng Ông Cộ âm u với những ngọn đèn leo lét đó đây chập chờn rất ma quái. Đó là đèn người ta đặt rải rác trước những ngôi mộ để cầu hồn người chết trong nghĩa điạ giúp họ... trúng số đề. Hồi đó người ta chơi đề 40 con. Tức chỉ đánh số từ 1 đến 40. (số 30 là “ông” Cọp, số 35 là con dê... là xuất phát từ loại số đề này.)

Hồi đó chưa có “Xổ số Kiến Thiết Quốc Gia giúp đồng bào ta mua lấy cái nhà giàu sang mấy hồi” như về sau nghệ sĩ “quái kiệt” Trần Văn Trạch hát vào mỗi chiều Thứ Ba trước giờ xổ số. Buổi sáng chủ đề bí mật viết một con số trong một mảnh giấy, bỏ vào trong một chiếc nồi gọ (gốm) nhỏ và treo trên đầu một cành tre như cây nêu, để ai cũng nh́n thấy. Buổi chiều, nhà chủ “hạ nêu” mở nắp chiếc nồi gọ, có người đập vỡ gọ trước mắt các nhà con tụ tập chứng kiến; người trúng được một số tiền không biết là bao nhiêu.

Do chuyện số đề này mà nghĩa địa Đồng Ông Cộ lúc nào cũng khói nhang nghi ngút, và đêm th́ ánh đèn leo lét thoắt ẩn thắt hiện đây đó như ma trơi; ai có việc cực chẳng đă đi qua đây ban đêm cũng lạnh ḿnh nổi da gà.

Chỉ v́ ban đêm phải đi qua nghĩa địa Đồng Ông Cộ rất nổi tiếng này mà tôi “được” chọn sai đi, v́ trong đám đệ tử nhỏ, tôi là đứa chẳng biết sợ hăi ma quỷ ǵ cả. (Tôi tin lời giảng dạy của Thầy: “chúng ta, con nhà Phật, luôn được chư thiên hộ pháp bảo vệ,” sao các sư huynh của tôi lại không an ḷng tin vào lời thầy dạy nhỉ?) Có hôm, giữa nghĩa địa tối đen, tôi bước vào ngôi mộ có ngọn đèn gần nhất xem thử người ta đặt món đồ cúng ǵ. Thường chỉ là một năi chuối, hoặc chén chè xôi, hay một dĩa trái cây tầm thường ǵ đó. Ở chùa luôn có vô vàn thức ngon vật lạ do các tín đồ và đệ tử tục gia của Thầy cúng dường, nên tôi thấy những thứ đồ cúng ngoài nghĩa địa này thật là rẻ rúng. Hồi đó tôi c̣n nhỏ, nên chưa thấy buồn cười về sự tham lam vô lư của con người: họ cầu được trúng số, chắc là nhiều lắm, vậy mà món quà cúng quá đỗi tầm thường.

Người ta cúng xin số và đă ra về từ hồi sớm, giờ này nghĩa địa không có ai, hoàn toàn vắng vẻ; tôi lẩn thẩn xem qua vài ngôi mộ có đèn, cắm thẳng lại vài cây nhang xiêu vẹo chỉ c̣n cháy khoảng vài đốt ngón tay, trước khi trở ra đường đi tiếp mà không sợ bị ai nh́n thấy. Ở chùa tôi được dạy cắm cây nhang thẳng đứng. Cho nên tôi rất “mếch ḷng” thấy kẻ nào xin xỏ sự giúp đỡ của người khuất mặt mà tỏ ra thiếu thành tâm qua việc cắm cây nhang xiên xẹo. (Về sau, thằng con út của tôi, nay đă qua đời, cũng bạo dạn như ba nó, thường nói với anh chị: “người chết th́ hồn họ đă lên thiên đường, c̣n thân thể bị chôn sâu dưới đất, và bị đè lên bằng một ngôi mộ đúc rất nặng, họ đâu có thoát ra được để làm ǵ ḿnh mà sợ!” Có lẽ đó là lời các soeurs dạy nó hồi nó c̣n nhỏ, chúng tôi bận làm ăn, gởi con trong chỗ nội trú của các soeurs Thiên Chúa giáo.)

Trong kư ức của ḿnh tôi c̣n nhớ được nhiều kỷ niệm về Đồng Ông Cộ “rùng rợn và linh thiêng bí ẩn,” và những giấc mơ "tráng sĩ phiêu bạt giang hồ" do những tráng sĩ thực ngoài đời thỉnh thoảng ẩn thân trong chùa tránh sự truy ruồng của mật thám Pháp, gieo vào ḷng chú tiểu trẻ con qua những chuyện phiêu lưu của họ. V́ Chùa Tập Thành ở một nơi rất quạnh quẽ, nên thỉnh thoảng có những người tung tích bí mật xuất hiện ở lại trong vài ngày rôi lặng lẽ biến mất. Những nhân vật tráng sĩ thần bí này không biết "đột nhập” vào chùa từ bao giờ, sáng ra bỗng thấy họ có mặt. Rồi đến một hôm, sáng ra bỗng không thấy họ ở đâu nữa! Thầy không hề đề cập lời nào về sự xuất hiện và biến mất của họ.

Trong những chuyện bọn chú tiểu trẻ con chúng tôi say mê nghe họ kể, có lẽ không ít chuyện là hư cấu. Nhưng ấn tượng nhất là có người truyền kinh nghiệm cho chúng tôi: Nếu rủi bị... voi rượt th́ nhớ t́m một cái dốc mà lao xuống. Dốc càng cao càng tốt. Dốc cát hoặc đồi cát là tốt nhất. Voi chạy lên dốc rất giỏi, nhưng chạy xuống dốc th́ nó thua. Phải nhớ lấy, v́ bị voi rượt th́ ít có cơ hội thoát thân được với chúng! Chúng ta có thể chạy nhanh hơn voi trong khoảng vài trăm thước, nhưng voi chạy suốt ngày không mệt, ta không chạy thoát được chúng đâu!

Và có lẽ sự có mặt của những con người bí mật này trong chùa không qua mắt được mật thám Pháp, hoặc vị trí cách biệt và u tịch của ngôi chùa khiến bọn mật thám Pháp để ư, nên thỉnh thoảng xuất hiện một toán lính Tây đi vào chùa. Thầy tôi và các sư huynh mời họ ăn trái cây (cúng Phật) của nhà chùa và uống trà, và tiếp họ tử tế. Thầy tôi và các đại sư huynh Trí Minh, Tịnh Đức nói chuyện với họ bằng tiếng Pháp, và bảo các sư huynh Tâm Thuận, Tâm Phát đọc các sách báo trên bàn cho họ nghe. Các sư huỵnh mở sách ra, đọc rào rào bằng tiếng Pháp tiểu sử đức Phật, và nhiều chuyện kể Phật giáo. Họ có vẻ lắng nghe, và hỏi han trao đổi. Sau khi “khách” vui vẻ ra về, chúng tôi lén giở những cuốn sách trên bàn ra xem: Chỉ là những cuốn sách tiếng Việt b́nh thường chúng tôi vẫn học và được các sư huynh đọc và giảng cho nghe hàng ngày, chẳng có một từ tiếng Pháp nào cả! Năm đó các sư huynh Tâm Thuận và Tâm Phát đang học Đệ Tam và Đệ Tứ Niên (tức các lớp Đệ Tam và Đệ Tứ Trung học sau này.) Chúng tôi “mắt tṛn mắt dẹt” kính nễ các sư huynh quá!

Ở Chùa chúng tôi được đại sư huynh Trí Minh dạy cả “chữ Nho” và chữ Pháp. Về chữ Nho, chúng tôi được dạy và học theo cách cổ điển mà có lẽ các sĩ tử nho học đă trải qua hàng thế kỷ trước. Học xong 214 bộ thủ - vừa học vừa tập viết, chúng tôi bắt đầu học chữ, cũng học chữ nào tập viết chữ nấy, tức là “đồ” theo chữ mẫu đă được đại sư huynh viết sẳn (phóng) trên một tờ giấy nhỏ hơn mặt giấy đóng trong tập. Đó là một cuốn tập tự đóng lấy bằng nhiều tờ giấy mỏng như giấy “pơ-luya” (papier pelure) gấp đôi. Bề mép trang giấy là phần lưng sách được đóng kẹp bằng chỉ. Người học ḷn trang giấy chữ mẫu vào giữa tờ pơ-luya để viết đồ theo chữ mẫu bên dưới. Số chữ “phóng” trên tờ mẫu ban đầu là 6 chữ trong hai hàng dọc, về sau chữ nhỏ dần và số chữ trên trang giấy mẫu tăng lên. Toàn là lời kinh sách trong chùa tụng đọc hàng ngày, cho nên chúng tôi nhanh chóng thuộc kết ḱnh nhật tụng bằng chữ nho – cả mặt chữ và nghĩa.

Ngoá việc học ở chùa, bọn huynh đệ chúng tôi đều được đi học trường nhà nước. Vào mỗi buổi sáng, ngoài hai sư huynh Tâm Thuận và Tâm Phát đi học bằng xe đạp (hồi đó như thế là “oách” lắm) sáu “chú tiểu lau nhau” chúng tôi cùng mặc áo nhật b́nh màu khói hương, đầu để vá phía trước, đội cùng một loại mũ mà về sau trở nên phổ biến trong giới Gia Đ́nh Phật Tử, mang cùng một loại sandale, tay xách cùng một loại “cặp táp” (cartable), đi bộ hàng dọc ra chợ Bà Chiểu, chú nhỏ đi trước, lớn đi sau. Ra tới chợ chúng tôi tỏa đi học các trường khác nhau. Có hai huynh học lớp Đệ Thất Niên.

Tôi học chữ nho rất nhanh, nhưng không nhớ đă học tiếng Pháp với đại sư huynh như thế nào, vậy mà vào năm cuối cùng ở chùa tôi đă học tới lớp Moyen Anné có lẽ tương đương với Lớp Nh́ trường Việt (tức bây giờ là Lớp 4) tại trường Tiểu học Pháp Việt Gia Định, dường như bây giờ là trường Tiểu học Hà Huy Tập, gần Trường cao đẳng Mỹ Thuật, ở đầu đường Nơ Trang Long, Bà Chiểu.

Cũng trong comment dưới bài viết nói trên, Nguyễn Văn nói: “Quen biết Thiếu Khanh gần 50 năm... nay mới nghe nói anh đă từng đi xuất gia ...! Không hiểu sao chuyện này cho tới bây giờ anh mới tiết lộ.”

Không phải “cho tới bây giờ” đâu. Vào một năm nào đó đầu thập niên 70, tôi có dịp kể lại một số kư ức này trong một bài viết dài dạng tùy bút + hồi kư có tựa “Ngôi Chùa Trong Trí Nhớ”. Bây giờ tôi không nhớ bài viết đă được đăng trên báo nào ở Sài G̣n. Vào năm, có lẽ 1972, Đỗ Văn Quản, một người bạn gốc Quảng nam là một Huynh trưởng gia đ́nh Phật tử ở Phan Thiết (sau năm 1975 dạy học và làm Hiệu trưởng một trường Trung học ở Daklak nay đă về hưu) đă có dịp trích một đoạn dài bài hồi kư ấy đăng vào một tạp chí Phật giáo hay giai phẩm Phật tử nào đó.

Và trong cái email hồi âm một người bạn năm 2011, tôi cũng có nhắc đến chuyện đi tu (Thầy Chùa)

Ngôi chùa Tập Thành vẫn nằm ở chỗ cũ từ hàng trăm năm trước, mà hơn 60 năm sau tôi mới t́nh cờ gặp lại. Những bài viết nhỏ nhoi lu lấp mất dấu trong biển văn học, Nguyễn Văn   không gặp nên không biết đó thôi.
 

Thiếu Khanh


 

art2all.net