Thiếu Khanh

 

VĂN VIỆT PHỎNG VẤN

 

NGƯỜI VIỆT – MỘT CÂU HỎI LỚN
BÀI 7: NHÀ THƠ- DỊCH GIẢ THIẾU KHANH

 

"Năm 2020 mở ra với một biến cố chấn động: cuộc tấn công vào xă Đồng Tâm của lực lượng vũ trang Hà Nội vào rạng sáng ngày 9 tháng 1. Nó đă giết chết người nông dân/cựu binh Lê Đ́nh Ḱnh, khi cụ đang ở trong nhà ḿnh.
Đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam sẽ đi về đâu? Đâu là con đường đúng để cả trăm triệu người Việt tự cứu lấy ḿnh?
Văn Việt xin mời các anh chị tham gia cuộc tṛ chuyện về Người Việt, như cách giúp chúng ta nh́n/hiểu rơ hơn về chính ḿnh, để có được lựa chọn đúng đắn/phù hợp cho đất nước, dân tộc trong tương lai.
Chúng tôi xin lần lượt đăng tải những câu trả lời đă nhận được.
Dưới đây là trả lời của nhà thơ – dịch giả Thiếu Khanh".

 

*Kư ức tuổi thơ nào đă ảnh hưởng lên cuộc đời của anh/chị?

- Kư ức tuổi thơ đă ảnh hưởng lên cuộc đời tôi là sự tàn bạo của thực dân Pháp với làng quê tôi. Dưới tay của bọn chỉ huy người Pháp là những tên lính lê-dương (Légion étrangère). Đa số chúng là da đen rạch mặt, được tuyển mộ từ các thuộc địa Pháp ở Châu Phi, và một số lính Miên, Thái.

Có thể thái độ sợ sệt khúm núm của những người dân quê mùa ở những ngôi làng hẻo lánh đă khiến chúng tha hồ có những hành động tàn bạo mà không phải e ngại ǵ. Từ thuở năm, bảy tuổi tôi đă chứng kiến nhiều tội ác man rợ của chúng. Chúng hành quân (hồi đó gọi là đi pa-trui/patrouille) đến làng B́nh Thạnh quê tôi, một ngôi làng cổ rất trù phú ở ven biển (thuộc xă B́nh Thạnh, huyện Tuy Phong – B́nh Thuận), và sau đó đến các xóm ấp G̣ Xanh và Cát Bay do người làng tôi tản cư lập nên để truy quét Việt Minh (VM). Chúng thẳng tay tàn sát, đốt phá, và hăm hiếp phụ nữ. Không chỉ bắn người, chúng c̣n cắt cổ những người chúng nghi là cán bộ VM.

Với tuổi c̣n non nớt, tôi đă phải chứng kiến việc chúng đốt nhà trong đó có nhà tôi, chứng kiến những xác người bị giết bằng súng hay bị cắt cổ với hai cánh tay bị trói quặt đàng sau, và biết những phụ nữ bị hăm hiếp.

Tôi từng cầm hai bàn tay của bố tôi với hai ngón cái bầm đen như mực vị bị tra điện. Bố tôi tham gia Việt Minh, là xă đội trưởng, bị giặc bắt chung với nhiều dân làng. Bố tôi kể lại với với mẹ tôi, ông và những người cùng bị bắt bị đánh đập, tra điện, đổ nước mắm, nước xà bông vào mũi… Sau thời gian bị giam cầm, bố tôi vượt ngục. Vài năm sau, khi mặt trận làng B́nh Thạnh tan vỡ, bố tôi bị chúng truy giết.

Tuổi thơ tôi chứng kiến những điều khủng khiếp như thế nên trong tâm hồn non nớt tôi từ đó đă kết đọng sự căm hờn và u uất.

 

*Ngày nhỏ anh/chị từng mơ lớn lên sẽ làm ǵ? Ở tuổi thành niên, anh/chị đă thực hiện được bao nhiêu % mong muốn? Con người hiện nay của anh/chị khác biệt với h́nh ảnh mong muốn ra sao, cả về mặt cá nhân và mặt xă hội? Anh/chị có muốn “thay đổi” ǵ trong những việc đă làm?

-Tôi mồ côi cha khi mới lên chín. Bố tôi đi kháng chiến và chết trong chiến tranh, không để lại tài sản ǵ. Dưới tôi có ba đứa em, mà em gái út mới sinh, cuộc sống của một mẹ với bốn con và hai bàn tay trắng trong thời nhiễu nhương đó cực kỳ khó khăn. Mẹ tôi làm lụng rất vất vả, chủ yếu là làm thuê, giật gấu vá vai vẫn không đủ sống, thế mà mẹ tôi lại cho hai đứa con trai lớn đi học!

Sau năm 1954, người dân tản cư khắp nơi lũ lượt trở về, ngôi làng cổ B́nh Thạnh bề thế ngày xưa chỉ c̣n đống gạch đá hoang tàn. Đối với một số người trong làng, học hành là chuyện phù phiếm. Điều cấp bách là lấy ǵ ăn để sống. Cho nên việc anh em tôi đi học xa nhà ở trường quận rồi trường tỉnh (trường Phan Bội Châu – Phan Thiết, trường Trung học công lập duy nhất ở B́nh Thuận) là điều khiến nhiều người trong làng đàm tiếu. Người ta nói thẳng: Để chúng ở nhà đi câu đi lưới, kiếm con tôm con cá mà ăn, chớ đi học rồi lỡ thầy lỡ thợ làm được tṛ trống ǵ!

Cho con đi học, mẹ tôi chỉ thực hiện mong muốn của bố tôi khi c̣n sống. Một hôm nào đó ông ngồi khoanh tay buồn rầu nói: “Đa số dân ḿnh nghèo khổ quá. Nghèo khổ v́ dốt nát, và dốt nát nên sinh ra nghèo khổ. Phải làm sao cho con ḿnh được đi học để thoát khỏi nghèo khổ dốt nát mà ngẩng mặt với đời”.

Bố tôi có bằng Sơ học Yếu lược (Certificat Élémentaire), c̣n mẹ tôi là con gái đầu ḷng của ông bà ngoại, năm mười hai tuổi đă sớm mồ côi mẹ, và phải giúp cha trông nom chăm sóc hai người em, nên học hành không nhiều.

Có lẽ mẹ tôi không biết cụ thể sự học sẽ giúp các con thoát nghèo thoát khổ bằng cách nào, nhưng mẹ tôi bất chấp mọi khó khăn mọi lời dè bỉu, quyết cho chúng tôi đi học, để thực hiện điều mong muốn của bố tôi.

Tôi c̣n nhỏ tuổi, ham chơi và ngu ngốc, không nhận thức hết sự hy sinh lớn lao của mẹ, chưa biết nuôi dưỡng một mơ ước nào đáng kể, nên tôi làm… thơ!

Ông ngoại tôi là nhà nho, sớm bị mù ḷa sau một cơn bệnh. Tôi là đứa cháu lớn nhất nên được ông ngoại sai làm người ghi chép gần như tất cả thơ văn phú đối của ông. Do đó tôi học được vần điệu và bắt chước ông làm thơ… Đường luật. Nhưng ông ngoại tôi nhận xét thơ tôi không có khí phách, nếu tiếp tục như thế, cuộc đời sẽ không thành đạt ǵ.

Có lần tôi nói với mẹ khi lớn lên tôi sẽ viết văn. Không ngờ mẹ tôi buồn rầu hỏi: “Rồi con sẽ bán văn mà sống hả con!?”.

Tôi giật ḿnh ngơ ngác. Câu hỏi của mẹ tôi khiến tôi hụt hẫng. Tôi nhớ đến anh Y, anh lớn hơn tôi khoảng mươi tuổi. Nhà anh rất khá giả, anh Y được gia đ́nh cho đi “du học” tận Sài G̣n. Không biết anh ấy học những ǵ, nghe nói anh ở lại Sài G̣n để làm báo. Cha mẹ anh hết sức thất vọng về sự “hư hỏng” của đứa con trai duy nhất. Nghề viết văn làm báo bị nhiều người cho là thứ nghề lông bông, không đáng coi là một công việc nghiêm túc.

Gia đ́nh anh Y giàu có, anh “hư hỏng” vẫn không sao. Gia đ́nh tôi nghèo quá, tôi không được phép “hư hỏng”. Tôi rất hoang mang.

Về sau, đọc thấy câu: “Nhà văn An Nam khổ như chó” trong bài thơ Gửi Trương Tửu của Nguyễn Vỹ, tôi giấu biệt, không kể cho mẹ biết. Kể cả chuyện ông Tản Đà “gánh văn lên bán chợ trời” tuy là cường điệu, “nói điêu,” nhưng cũng làm đậm thêm ấn tượng trong tôi: nhà văn/nghề văn là nghèo khổ.

Dù sao, không phải ai mang mộng trở thành nhà văn từ nhỏ chỉ v́ sợ mang tội nghèo mà đều vỡ mộng như tôi. Trên thế giới không những có vô số nhà văn, mà nhiều nhà văn vĩ đại nữa là khác, họ có tài năng và cái chí trở thành nhà văn. Và họ… không sợ nghèo.

 

*Nhân sinh quan/thế giới quan của người Việt là ǵ, theo anh/chị? Nó đă chuyển biến thế nào theo t́nh h́nh đất nước trong từng giai đoạn?

-Lịch sử của dân tộc Việt gắn với nền văn minh nông nghiệp từ xa xưa, dù hiện tại có tiếp thu một số tư tưởng mới từ phương Tây, nhưng quan niệm về cuộc sống của người Việt vẫn nặng sự ḥa trộn triết lư nhân sinh của tam giáo cổ truyền: một chút yếm thế của Lăo, một phần tính nhân đạo và quan niệm nhân quả của Phật, và tính tôn ti trật tự của Nho giáo. Có lẽ cái phần Nho giáo (nhất là Tống Nho) gây nhiều tai hại hơn hết.

Người Việt sống bằng tinh thần và t́nh cảm nhiều hơn bằng lư trí. Tinh thần vô vi Lăo giáo khiến người ta không muốn tranh đua, làm ǵ cũng phiên phiến thôi, không cần phải triệt để, rốt ráo; “biết đủ là đủ”.

Tuy không tranh đua nhưng người ta lại rất ganh tỵ trong cuộc sống. Thấy người hàng xóm có thứ ǵ đó, ta sẽ cố gắng sắm một cái tốt hơn, sang chảnh hơn. Hàng xóm khoe đứa con học giỏi, ta khoe đứa con kiếm được nhiều tiền hơn… Cái đó không phải là tranh đua mà là ganh tỵ. Tính ganh tỵ không xuất phát từ giáo thuyết Lăo Trang, nhưng kết hợp với tính không muốn tranh đua dễ chừng khiến cho tinh thần người Việt có phần bạc nhược, chậm tiến.

Trong khi tính nhân hậu và quan niệm nhân quả từ Phật giáo làm cho người ta khoan dung thân thiện, sống có t́nh với môi trường, người và vật chung quanh hơn, th́ quan niệm về trật tự xă hội từ Tống Nho làm hại người Việt rất nặng nề.

Người Việt thời nguyên thủy vốn theo chế độ mẫu hệ; đứng đầu là một Hùng Vương, tức pháp sư trưởng, một bậc minh triết, một đấng thánh nhân, chớ không phải vua, càng không phải hoàng đế con trời! [1]. Đấng thánh nhân minh triết đó không cai trị con người, mà nối kết con người với trời đất, tức nâng con người lên ngang hàng với hai Tài lớn trong vũ trụ để có Tam Tài Thiên-Địa-Nhân.

Trong gia đ́nh của người Việt nguyên thủy, người phụ nữ được coi là nội tướng, cai quản bên trong, ngang hàng với người đàn ông phụ trách việc săn bắn (kinh tế) bên ngoài. Có khi việc “nội trị” quan trọng hơn việc kiếm ăn bên ngoài, khiến vai tṛ phụ nữ có nhiều ảnh hưởng hơn. Điều này thấy rơ ở các cuộc khởi nghĩa của người Việt vào các thế kỷ đầu công nguyên đều do phụ nữ lănh đạo. Một thiếu nữ chưa chồng, mới mười chín tuổi là Triệu Thị Trinh đă đứng lên phất cờ khởi nghĩa, lănh đạo hàng vạn người đánh lại quân đô hộ.

Con cái trong gia đ́nh ở xă hội đó không bị coi là thấp kém, phụ thuộc, và phải nhất nhất tuân lệnh người trên. Với quan niệm “Con hơn cha nhà có phúc”, người ta đặt vào con cái sự kỳ vọng sẽ tài năng hơn thế hệ đi trước, làm cho gia đ́nh phát triển tốt đẹp hơn.

Với Nho giáo, người Việt không c̣n gần gũi với bậc thánh nhân minh triết của ḿnh, mà bị cai trị bởi một hoàng đế con trời có toàn quyền sinh sát. Người cha cũng không c̣n kỳ vọng những điều tốt lành ở con ḿnh mà cũng có quyền sinh sát với con. Cái tiêu chí “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung; phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu” đă lấn át tinh thần văn minh rực rỡ độc đáo của người Việt. Cũng trong Nho giáo, vị trí của người phụ nữ sa sút tệ hại hơn. Các bà không c̣n là nội tướng mà gần như nô lệ, phục ṭng quyền lực của ba người đàn ông: “Tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử”!

Những điều đó thật thảm hại, nhưng chưa bằng hại của tinh thần tôn quân của Nho giáo.

Dù kinh Xuân Thu được Khổng tử soạn ra với mục đích dùng lời khen chê đế trấn áp những người làm tôi mà giết vua, làm con mà giết cha, và để ngăn chặn những ông vua tàn bạo, nhưng người ta lại căn cứ vào “nghĩa Xuân Thu” để tôn quân, trung quân một cách mù quáng, xuất hiện những kẻ ngu trung, một mực theo vua dù là ông vua tàn bạo, hủ bại. Tinh thần ngu trung của Nho giáo đầu độc nặng nề trí óc của nhiều người Việt, tạo nên trong đầu họ quán tính trung quân kiểu mới một cách tăm tối, khiến đất nước khó bề phát triển. Ngoài nguyên do truyền thống, đó là một di chứng của lịch sử.

Phần đất nước từ sông Bến Hải trở ra, chưa một ngày nào được hưởng không khí tự do dân chủ. Miền Bắc vừa ra khỏi đêm trường của toàn trị quân chủ, đă chịu ngay sự bảo hộ của thực dân Pháp. Người Pháp ra đi th́ lại chịu sự cai trị của chế độ cộng sản toàn trị. Với tinh thần trung quân Nho giáo, sau khi bị tuyên truyền tẩy năo, người ta dễ dàng tiếp nhận và trung thành vô điều kiện với nhà nước cai trị. Những người vốn chưa sống một ngày nào dưới chế độ tự do dân chủ, không thể nào quan niệm được rằng ở những đất nước tự do, chính phủ chỉ là những người được người dân thuê mướn làm việc cho ḿnh, để phục vụ ḿnh, và được trả lương. Người dân trả lương để thuê anh, th́ anh phải làm theo ư dân. Anh không làm được th́ dân cho anh nghỉ việc để thuê người khác, chớ anh – chánh phủ – không phải thần thánh hay cha mẹ dân, có quyền hành hạ dân. Nếu anh phạm pháp, th́ dù anh đang giữ cương vị tổng thống, người dân cũng có quyền lôi cổ anh xuống và bỏ tù anh, thậm chí người dân Hàn Quốc đă tuyên án tử h́nh tổng thống tham nhũng của họ.

Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln từng nói về nước Mỹ: “This country, with its institutions, belongs to the people who inhabit it. Whenever they shall grow weary of the existing government, they can exercise their constitutional right of amending it, or exercise their revolutionary right to overthrow it.” (Đất nước này, theo các thể chế của nó, thuộc về những người dân đang sinh sống trên nó. Bất kỳ khi nào những người dân này cảm thấy mệt mỏi với chính phủ hiện tại, họ có thể thực thi quyền hiến định của ḿnh để sửa đổi chính phủ, hoặc thực hiện quyền cách mạng để lật đổ cái chính phủ đó).

Có lẽ có một số rất lớn người dân chưa có cơ hội nếm trải chế độ tự do dân chủ, rất xa lạ với những ư tưởng này. Họ có thể lạnh ḿnh v́ chuyện lật đổ chính phủ. Họ luôn gán “tội” phản động cho bất cứ ai tố cáo chính phủ độc tài và quan chức tham nhũng. Thậm chí biểu t́nh chống Tàu cộng xâm lược biển đảo quê hương cũng là “phản động”. Năo trạng của họ chuyển từ trung quân sang “trung với đảng” và chỉ biết “c̣n đảng c̣n ḿnh”, như ngày xưa “quân sử thần tử thần bất tử bất trung”. Họ vui ḷng ăn thức ăn, uống nước, thở không khí ô nhiễm, và ra rả chửi bới những ai chống lại các tác nhân gây ô nhiễm.

Nhà văn, nhà điện ảnh kiêm tâm lư học người Tây Ban Nha Alejandro Jodorowsky đă nói “Birds born in a cage think flying is an illness”. (Những con chim sinh ra trong lồng cho rằng sự bay là bệnh hoạn).

 

*Theo anh/chị, lịch sử Việt Nam có ǵ đáng tự hào và có ǵ đáng hối tiếc?

-Có lẽ sự tồn tại của đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam hiện nay là điều tự hào lớn nhất trong lịch sử nước nhà. Từ sau thời đại Hùng Vương đến nay, trải qua hơn hai ngàn năm, trong đó có hơn một ngàn năm bị Tàu đô hộ, và một ngàn năm độc lập tự chủ th́ vẫn phải liên miên chinh chiến, vừa để tự vệ vừa để mở rộng giang sơn, trải qua vô số t́nh huống hiểm nguy, mà đất nước vẫn c̣n, dân tộc Việt Nam vẫn c̣n, thậm chí tiếng nói của dân tộc và nhiều giá trị tinh thần của dân tộc vẫn c̣n tồn tại. Thật đáng tự hào.

Nhưng bên cạnh đó lịch sử vẫn có không ít điều đáng hối tiếc.

Do hoàn cảnh lịch sử, dân tộc ta chịu ảnh hưởng văn hóa của Tàu là điều không tránh khỏi được. Nhưng ảnh hưởng văn hóa nặng nề nhất từ học thuyết Nho giáo đă buộc ta phải chịu sự ràng buộc chính trị với Tàu. Chính Nho giáo với tinh thần tôn quân đă luôn đặt các vị hoàng đế, kể cả những hoàng đế anh hùng kiệt hiệt của ta, sau khi đánh bại các cuộc xâm lăng của chúng, phải chịu hạ ḿnh cầu ḥa và triều cống, chịu để chúng phong vương – tức là nhận lệ thuộc vào chúng.

Winston Churchill, vị Thủ tướng lừng danh của Anh Quốc từng bảo: “Study history, study history. In history lie all the secrets of statecraft”. (Hăy học lịch sử, học lịch sử đi. Trong lịch sử chứa đựng tất cả các bí quyết điều hành một nhà nước). Cụ Đào Duy Anh cũng cho rằng nguyên liệu lịch sử then chốt là tri thức, chớ không phải ư chí. Có lẽ những nhà điều hành đất nước ngày nay quá duy ư chí, đă không đọc hay đọc mà không lănh hội những bài học lịch sử.

Lịch sử của thế kỷ 20, 21 đă không c̣n giống ǵ với hoàn cảnh lịch sử đất nước nhiều thế kỷ trước. Sau khi “đánh thắng đế quốc Mỹ”, “giải phóng Miền Nam” thống nhất đất nước, thay v́ “đốt tráp”[2] tha tội, ḥa giải hận thù, đoàn kết ḷng dân để phát triển đất nước, những người chiến thắng đă đày ải những người đồng chủng chiến bại, cào vét hết của cải của nhân dân miền Nam, xua đẩy nhiều gia đ́nh lên vùng kinh tế mới… Rồi lại sợ “ḷng dân c̣n nhớ tiên vương”, nên phải xun xoe xưng thần với Trung cộng, nhờ chúng che chở, khiến chúng hỗn láo coi ta là “đứa con hoang” và kêu gọi ta trở về với thiên triều. Thật nhục nhă, đáng tiếc.

 

*Cái ǵ hay nhất và dở nhất trong tính cách người Việt? Cái cần nhứt cho con người Việt hiện nay là ǵ? Làm sao để thay đổi theo chiều hướng tốt hơn?

-Qua những biến cố thăng trầm của lịch sử người ta thấy rơ một điều là trong hoạn nạn hay bị xâm lăng th́ người Việt đoàn kết để có được một sức mạnh chiến thắng giặc thù, vượt lên hoàn cảnh khó khăn.

Nhưng trong hoàn cảnh b́nh yên, nếu là một tập thể th́ hầu như luôn xảy ra cảnh “chín người mười ư”, kèn cựa ganh tỵ nhau, mỗi người là một đỉnh cao, không ai phục ai, không ai có tinh thần tập thể, dù từ xưa người Việt đă nhận ra “Một cây làm chẳng nên non” phải “ba cây chụm lại” th́ mới nên việc. Xu hướng trên thế giới ngày nay là hợp tác, và làm việc với tinh thần đồng đội, là một thách thức lớn với người Việt.

Thêm vào đó, dường như người Việt thích lư thuyết và làm thầy hơn là phát triển kỹ thuật và trực tiếp làm công nhân. T́nh trạng này được giáo dục làm cho trầm trọng thêm với hàng ngàn cử nhân thất nghiệp mỗi năm, trong khi công nghiệp trong nước thiếu công nhân lành nghề, một lực lượng lớn lao động trẻ hàng năm được xuất khẩu đi lao động phổ thông ở nước ngoài.

Mặc khác, dường như phần lớn người Việt ít chịu suy nghĩ độc lập, mà dễ chấp nhận ư kiến của những người có quyền thế. T́nh trạng này rất phổ biến với mức độ khác nhau, nhưng có lẽ phản ảnh rơ rệt nhất trong một số không nhỏ những người mà, theo họ, đất nước chỉ gồm các nhà lănh đạo ở trên, và ở dưới là “thần dân” có bổn phận phải vâng lời, mọi phản biện là phản động. Họ chửi bới bất cứ ai nói khác ư kiến của các lănh đạo của họ.

Từ đầu thế kỷ 20, cụ Phan Bội Châu đă loại bỏ khái niệm về nhà nước gồm hai thành phần là nhà cai trị và thần dân, và xác định đất nước bằng các khái niệm toàn dân, lănh thổ và chủ quyền. “Trong ba thành phần này, toàn thể công dân là nhân tố quan trọng nhất – những người đă thức tỉnh, ngày càng được giáo dục tốt và được vận động bằng chủ nghĩa yêu nước tổng quát hóa hơn là ḷng trung thành với một nhà lănh đạo”.[3]

Tuyệt đối trung thành với một nhà lănh đạo nhỏ hay lớn có thể đưa đến t́nh trạng nô lệ tư tưởng một cách lố bịch. Trong cuốn Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945, tác giả David G. Marr nêu một ví dụ vui: Ông Trần Hữu Độ, nhà cách mạng Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ 20 kể rằng: một viên chức người Pháp có thói quen thích một loại chuối rất b́nh thường làm món tráng miệng. Chẳng bao lâu sau đó, tất cả bọn người Việt dưới quyền ông ta cũng t́m ăn cùng loại chuối đó, và ca ngợi nó tận mây xanh, rồi nhạo báng các người xung quanh, những kẻ nh́n thấy quả chuối mà không biết đó là một món tráng miệng “văn minh”!

Nếu xác nhận những tính cách nào đó là tiêu cực, hẳn người ta tự t́m cách sửa chữa theo chiều hướng tốt hơn. Có lẽ khó ai có thể/dám chủ quan đưa ra một cái ǵ là cần nhất cho mọi người Việt hiện nay.
 

-------------------------------------------
[1] Đọc: Thiếu Khanh, The Birth of Vietnam – Dịch và ngẫm nghĩ:

http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/the-birth-of-vietnam-dich-v-ngam-nghi/

Thiếu Khanh, Vương đạo và vị Hùng vương thứ 19:

http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/vuong-dao-v-vi-hng-vuong-thu-19/

 

[2] Sử chép: sau khi đánh đuổi xong giặc Nguyên Mông, triều đ́nh nhà Trần họp lại thưởng công cho tướng sĩ. Có người đem tŕnh những “tráp” chứa đầy chứng cớ văn thư liên lạc hàng giặc của một số quan viên tướng lănh, vua Trần Nhân Tông không xem mà sai đốt hết, tha tội cho những kẻ hèn nhát đó để họ không c̣n sợ sệt mà từ nay dốc ḷng xây dựng đất nước.
 

[3] Theo David G. Marr, Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945, University of California Press.
(người phỏng vấn là nhà văn Ngô thị Kim Cúc)
http://vanviet.info/gap-go-va-tro-chuyen/nguoi-viet-mot-cu-hoi-lon-7/




 

art2all.net