Thân Trọng Sơn

 

Muốn ngưng nhạc, xin bấm vào h́nh dưới đây:

 

HĂY ĐỢI ANH 

 

Đợi anh em nhé, anh về,

Vững ḷng chờ đợi, em nhé,

Hăy đợi, khi mưa thu vàng

Gợi ḷng người buồn tái tê.

Hăy đợi, khi đông tuyết giá,

Hăy đợi, khi hạ nắng thiêu,

Hăy đợi, khi qua ngày tháng,

Không c̣n ai chờ đợi ai.

Hăy đợi, khi từ xa lắc

Thư tin chẳng mấy khi về

Hăy đợi, khi người cùng cảnh

Chán chê, chẳng thiết đợi chờ.

 

Đợi anh em nhé, anh về,

Những điều tốt đẹp đừng chúc

Cho ai vẫn tâm niệm rằng

Đến nay quên là phải lúc.

Cho dù cả con và mẹ

Đều tin là anh không c̣n.

Cho dù bằng hữu bỏ cuộc

Ngồi bên bếp lửa quây quần

Cùng nhau uống ly rượu đắng

Tưởng niệm linh hồn bạn thân

Th́ em cũng hăy cứ chờ

Đừng vội cùng người nâng cốc !

 

Đợi anh em nhé, anh về,

Kiêu hănh nhạo cười cái chết

Cứ để ai không chờ đợi

Buông lời : Chỉ may đấy thôi !

Không đợi, làm sao họ biết

Giữa làn đạn lửa bom mưa

Việc em trông ngóng đợi chờ

Đă cứu cho anh khỏi chết.

Em ạ, chỉ đôi ta thôi

Hiểu nhờ đâu anh sống sót :

Đơn giản v́ em biết đợi

Không như bao nhiêu người khác.

 

 KONSTANTIN SIMONOV, 1941

 

THÂN TRỌNG SƠN dịch

( Theo bản tiếng Anh : Wait for me.   Tham khảo bản tiếng Pháp : Attends-moi )

 

Wait For Me –

Konstantin Simonov, 1941

Wait for me, and I will return.
Only truly wait.
Wait while bringing sorrow
The autumn rains come late.
Wait while snow is blowing,
Wait while heat burns haze,
Wait while others cease to wait,
Forgetting yesterdays.
Wait when letters cease to come
From places far away,
Wait, while others tire of waiting
Together day after day.

Wait for me, and I will return.
Wish no good to those you’ve met
Who tell you, without thinking,
That it is time to forget.
Let my son and mother believe
That I have met my doom,
Let my friends all quit their hopes,
In the fire-lit gloom
Let them drink their bitter wine,
In memoriam…
Wait. Oh, do not hasten
To sit and drink with them.

Wait for me, and I will return,
Despite all death can do.
Let those who didn’t wait for me
Say “Just lucky he came through.”
Those who didn’t wait can’t know
How, while battle blazed,
Just by waiting for your own
Me you truly saved.
We will know how I survived
Only just us two:
Simply, you knew how to wait
As no one else could do

 

~~000~~

 

Attends-moi

(Simonov, 1941)

Si tu m'attends, je reviendrai,
Mais attends-moi très fort.
Attends, quand la pluie jaune
Apporte la tristesse,
Attends quand la neige tournoie,
Attends quand triomphe l'été
Attends quand le passé s'oublie
Et qu'on attend plus les autres.
Attends quand des pays lointains
Il ne viendra plus de courrier,
Attends, lorsque seront lassés
Ceux qui avec toi attendaient.

Si tu m'attends, je reviendrai.
Ne leur pardonne pas, à ceux
Qui vont trouver les mots pour dire
Qu'est venu le temps de l'oubli.
Et s'ils croient, mon fils et ma mère,
S'ils croient, que je ne suis plus,
Si les amis las de m'attendre
Viennent s'asseoir auprès du feu,
Et s'ils portent un toast funèbre
A la mémoire de mon âme..
Attends. Attends et avec eux
refuse de lever ton verre.

Si tu m'attends, je reviendrai
En dépit de toutes les morts.
Et qui ne m'a pas attendu
Peut bien dire : "C'est de la veine".
Ceux qui ne m'ont pas attendu
D'où le comprendraient-ils, comment
En plein milieu du feu,
Ton attente
M'a sauvé.
Comment j'ai survécu, seuls toi et moi
Nous le saurons,
C'est bien simple, tu auras su m'attendre,
comme personne.
 

 

Nguyên tác bài thơ này là tiếng Nga, với nhan đề  “Жди меня”  của nhà thơ ( nhà văn, nhà biên kịch )  Константин Михайлович Симонов  ( Konstantin Mikhailovich Simonov , 1915 - 1979 ) sáng tác năm 1941, dành tặng cho người yêu là nghệ sĩ Valentina Serova. Bài thơ ra đời trong thời gian phát xít Đức dữ dội tấn công Liên Xô. Trong thời kỳ chiến tranh, bài thơ đă được phổ biến rộng răi và dịch ra nhiều thứ tiếng,  v́ tâm trạng của nhà thơ cũng là tâm trạng của bao nhiêu thanh niên ra mặt trận, với lời nhắn gởi về người yêu, người vợ ở hậu phương. 

Bản dịch tiếng Việt đầu tiên là của Tố Hữu, “ Đợi Anh về “ , dịch từ bản tiếng Pháp, ban đầu được phổ biến trên báo chí từ năm 1949, sau được đưa in vào trong tập thơ Việt Bắc.

Ở miền Nam ít người tiếp cận được bài thơ dịch này nhưng lại được nghe bài ca cùng tên do nhạc sĩ Văn Chung ( 1914-1984 ) phổ nhạc,  qua tiếng hát Elvis Phương : 

Em ơi ! Đợi anh về ! Đợi anh hoài em nhé,
mưa có rơi dầm dề, ngày có buồn lê thê
th́ em ơi em cứ đợi ...

Em ơi ! em cứ đợi dù tuyết rơi gió nổi, 
dù nắng cháy em ơi ...! (1)
Bạn cũ đă quên rồi, đợi anh hoài em nhé .
Tin anh dù vắng vẻ, ḷng ai dù tái tê,
chẳng mong chi ngày về
th́ em ơi em cứ đợi ...

Đợi anh, anh lại về trong tiếng cười ngạo nghễ 
đợi anh, anh lại về trong tiếng cười ngạo nghễ

Ai ngày xưa rơi lệ hẳn cho sự t́nh cờ
ai ngày xưa rơi lệ, nào có biết bao giờ
nào có biết bao giờ bởi v́ em ước mong,
nào có biết bao giờ bởi v́ em trông ngóng

Trông cho tan giặc bước đường quê (2)
anh của em lại về ...
Anh của em lại về
Anh của em lại về .

( Đợi Anh về - Nhạc : Văn Chung , Lời :  thơ Tố Hữu )

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=vuB3TbxIWU

 (1) Elvis Phương hát là  : “ dù gió lên băo nổi / dù nắng cháy sương rơi “

 (2) Elvis Phương :  “ … tan giặc phía đường xa “

Cả hai “cải biên” này đều không đúng.

 

http://www.youtube.com/user/phamjngocjlaan

http://www.art2all.net/nhac/phamngoclan/doianhve.htm

 

Sau này, khi có điều kiện đọc được toàn vẹn bài thơ dịch của Tố Hữu,  ta có thể nhận thấy rằng, cũng như nhiều nhạc sĩ khác đă làm khi phổ thơ, Văn Chung không lấy nguyên văn toàn bài thơ. Có lẽ v́ muốn nhấn mạnh ở cái tâm trạng lạc quan, tin tưởng của người chiến sĩ ở mặt trận - tin ở ngày chiến thắng sẽ đến, tin ở sự chờ đợi thủy chung của người yêu – nên nhạc sĩ đă chuyển đoạn nhạc cuối sang nhịp điệu hùng mạnh, dồn dập và kết thúc bằng cách lặp lại “ Anh của em lại về ”. Người nghe nhạc có thể thỏa măn, nhưng người đă đọc thơ lại tiếc v́ nhạc sĩ đă bỏ mất cái tứ rất đắt ở đoạn kết bài thơ. 

Ceux qui ne m'ont pas attendu
D'où le comprendraient-ils, comment
En plein milieu du feu,
Ton attente
M'a sauvé.
Comment j'ai survécu, seuls toi et moi
Nous le saurons,
C'est bien simple, tu auras su m'attendre,
comme personne.
 

Không đợi, làm sao họ biết

Giữa làn đạn lửa bom mưa

Việc em trông ngóng đợi chờ

Đă cứu cho anh khỏi chết.

Em ạ, chỉ đôi ta thôi

Hiểu nhờ đâu anh sống sót :

Đơn giản v́ em biết đợi

Không như bao nhiêu người khác.

( TTS )

                        

Bài thơ dịch của Tố Hữu :

Đợi Anh về.

Em ơi, đợi anh về
Đợi anh hoài em nhé,
Mưa cứ rơi dầm dề
Ngày cứ dài lê thê
Th́ em ơi cứ đợi.

 

Dù tuyết rơi gió nổi
Dù nắng cháy em ơi
Bạn cũ có quên rồi
Đợi anh hoài em nhé.

Tin anh dù vắng vẻ,
Ḷng ai dù tái tê
Chẳng mong chi ngày về
Th́ em ơi, cứ đợi.

Em ơi, em cứ đợi
Dù ai nhớ thương ai
Chẳng mong có ngày mai
Dù mẹ già con dại
Hết mong anh trở lại

Dù bạn viếng hồn anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén t́nh dốc cạn
Th́ em ơi mặc bạn
Đợi anh hoài em nghe
Tin rằng anh sắp về!

Đợi anh, anh lại về
Trông chết cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự t́nh cờ

Nào có biết bao giờ
Bởi v́ em ước vọng,
Bởi v́ em trông ngóng
Tan giặc, bước đường quê
Anh của em lại về.

V́ sao anh chẳng chết
Nào bao giờ ai biết
Có ǵ đâu em ơi
Chỉ v́ không ai người
Biết như em chờ đợi.

 

Tố Hữu dịch bài thơ này từ bản tiếng Pháp. Tra cứu trên mạng ta có thể t́m thấy nhiều bản dịch tiếng Anh khác nhau nhưng chỉ có một bản tiếng Pháp duy nhất, không ghi tên người dịch. Các bản dịch đều khá trung thành với nguyên tác, kể cả phần bố cục. Nhan đề các bài thơ dịch đều sát với nguyên tác  tiếng Nga  “ Жди меня ”  ( Attends-moi , Wait for me, Hăy đợi anh ). Жди меня được lặp lại ở câu đầu của cả ba khổ thơ : “ Жди меня, и я вернусь.” Hăy đợi anh, và anh sẽ trở về. Жди, thức mệnh lệnh của động từ  җдaть, sau đó c̣n được lặp lại sáu lần trong khổ thơ thứ nhất.  Hăy đợi anh, hăy đợi, hăy đợi, hăy đợi …  Đó là lời nhắn gởi, gần như là lời cầu khẩn thiết tha, của người chiến sĩ ngoài mặt trận với người vợ / người yêu ở hậu phương, với ḷng mong mỏi, niềm tin tưởng rằng sự chờ đợi kiên tŕ của người ở lại sẽ giúp anh vượt qua hiểm nguy, gian khổ để trở về. Điều đáng ngạc nhiên là bản dịch tiếng Pháp sau nhan đề Attends-moi dịch đúng nguyên tác Жди меня th́ các câu đầu của mỗi khổ đều đổi là “ Si tu m’attends ” Cái ư nhắn gởi, hứa hẹn, động viên … của Жди меня, Hăy đợi anh,  mà chuyển thành “ Si tu m’attends ” “ Nếu em đợi anh, … ”  e  có phần yếu đuối, bi quan quá chăng.

 

            Tuy không tham khảo nguyên tác tiếng Nga mà chỉ căn cứ vào bản tiếng Pháp để dịch, Tố Hữu đă không lệ thuộc vào mệnh đề “ Si tu  m’attends ”đó mà vẫn viết “ Đợi Anh về ”, “ Đợi anh hoài em nhé ...” Đó không phải là chi tiết duy nhất chứng tỏ tính độc lập của nhà thơ khi làm công việc chuyển ngữ. Nếu bản tiếng Pháp theo sát nguyên tác ở h́nh thức một bài thơ ba khổ, mỗi khổ mười hai câu, th́ “Đợi anh về” lại là một bài có tám khổ thơ với số câu mỗi khổ không đều nhau. Bài dịch, với thể thơ năm chữ, thoát ra hẳn văn bản gốc, nhất là với những lối diễn đạt, những  h́nh ảnh  quen  thuộc,  gần gũi với thơ Việt.


            -  Em ơi em cứ đợi

  Em ơi, đợi anh về

 

- Tan giặc, bước đường quê

Anh của em lại về.

 

Và đây nữa, chẳng ai nghĩ là thơ dịch :

Mưa cứ rơi dầm dề

Ngày cứ dài lê thê.

 

Hai câu này chuyển từ :

Attends, quand la pluie jaune

Apporte la tristesse.

 

La pluie jaune, cơn mưa vàng, h́nh ảnh này chưa thấy trong thơ Pháp, trong tiếng Pháp. Cũng phải thôi v́ dịch giả Pháp đă dịch sát từ nguyên tác tiếng Nga :

Жди, когда наводят грусть
           
Желтые дожди,

Pluie jaune, mưa vàng,  chính là желтые дожди đó.
           

Đọc tiếp những câu sau, ta có thể hiểu được, qua mạch văn, ư tứ của người chiến sĩ nhắn gởi người ở nhà hăy kiên tŕ chờ đợi bất chấp biến chuyển của thiên nhiên, qua ḍng chảy của thời gian, qua tuyết đông, nắng hạ. Vậy th́ mưa vàng chính là mưa mùa thu, khi cảnh vật âm u, vàng vọt, gợi nên nỗi sầu không dứt. Phải chăng với cách hiểu như thế mà một dịch giả tiếng Anh đă thêm vào tính từ « dreary » ( là thê lương, ảm đạm) không có trong nguyên tác ? :

( Wait for me, and I’ll come back !

Wait with all you’ve got )

Wait, when dreary yellow rains

Tell you, you should not.

 

            Tố Hữu đă thoát khỏi những h́nh ảnh xa lạ đó bằng hai câu “ Mưa cứ rơi dầm dề / Ngày cứ dài lê thê ”, đọc lên nghe như thơ sáng tác chứ không phải thơ dịch.

            Ở những ví dụ nêu trên, lối dịch thoát như thế có thể tạo được sự đồng cảm nơi người đọc v́ dù sao ư tưởng, tâm trạng của tác giả vẫn được tôn trọng, chỉ có cách diễn đạt là khác thôi. Tuy nhiên, khi đọc tiếp những khổ thơ sau th́ người đọc khó chia sẻ được với chủ ư  của dịch giả .

Dù bạn viếng hồn Anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén t́nh dốc cạn

Th́ Em ơi mặc bạn
Đợi anh hoài nghe em

Tin rằng anh sắp về.

 

            Đối chiếu với văn bản gốc dưới đây th́ sáu câu thơ dịch trên, do “ thoát ” quá xa nên có phần mất đi sự tinh tế, ư nhị, nhất là ở hai câu : “Yên nghỉ nấm mồ xanh / Nâng chén t́nh dốc cạn "

 

Si les amis las de m'attendre
Viennent s'asseoir auprès du feu,
Et s'ils portent un toast funèbre
A la mémoire de mon âme..
Attends. Attends et avec eux,
refuse de lever ton verre.

 

Cho dù bằng hữu bỏ cuộc

Ngồi bên bếp lửa quây quần

Cùng nhau uống ly rượu đắng

Tưởng niệm linh hồn bạn thân

Th́ em cũng hăy cứ chờ

Đừng vội cùng người nâng cốc !

   ( TTS )

 

            Hăy đọc thêm khổ thơ tiếp theo :

Đợi anh, anh lại về

Trông chết cười ngạo nghễ

Ai ngày xưa rơi lệ

Hẳn cho sự t́nh cờ.

 

            Dù ủng hộ mọi sáng tạo của nhà thơ khi chuyển ngữ, người đọc vẫn thấy có ǵ đó không ổn trong câu «  trông chết cười ngạo nghễ  » : trong tiếng Việt động từ « chết  » nếu dùng như danh từ phải nói là « cái chết, sự chết  »,  trông ( nh́n ) cái chết, chứ nói  « trông chết » nghe sao kỳ kỳ !. Chỗ này bản tiếng Pháp là «  en dépit de toutes les morts  » , và bản tiếng Anh «  despite all death can do  », gần sát với nguyên tác tiếng Nga « Всем смертям назло ” , trêu ngươi mọi cái chết. Có lẽ cũng v́ thấy điều này nên nhạc sĩ Văn Chung khi phổ nhạc bài thơ này đă sửa thành « trong tiếng cười ngạo nghễ  » để giữ được tiếng Việt trong sáng, nhưng tiếc thay lại làm mất đi cái ư trêu ngươi / xem thường / bất chấp mọi cái chết.

            Mạch cảm xúc đă đẩy người dịch đi quá xa ở hai câu tiếp theo « Ai ngày xưa rơi lệ / Hẳn cho sự t́nh cờ  » , cả t́nh lẫn ư không gắn với nội dung toàn bài, không hề có trong nguyên tác, cũng không thấy trong bất kỳ một bản dịch nào.

 

            Một vài từ, một vài câu, một vài ư đọc được trong bản dịch mà khi đối chiếu với nguyên bản thấy hoàn toàn xa lạ, điều này vẫn thường xảy ra bởi, suy cho cùng, trong  dịch thuật văn học, việc trung thành tuyệt đối với văn bản gốc là điều khó có thể thực hiện được. Người dịch quan tâm nhiều nhất đến việc chuyển tải nội dung, ư nghĩa của văn bản gốc bằng sự diễn đạt qua một ngôn ngữ khác với tất cả những đặc trưng về ngữ nghĩa, cú pháp, phong cách… của nó. Mỗi ngôn ngữ lại có cách thể hiện riêng cho nên thử thách lớn nhất – nếu không nói là rủi ro lớn nhất – của người dịch là việc không trung thành với nguyên tác về nội dung hay h́nh thức, về văn phong hay ư nghĩa, về tư duy hay t́nh cảm. Có vẻ như phần lớn dịch giả chuộng một bản dịch «  đẹp  » hơn một bản dịch « sát  » bởi ai cũng muốn bản dịch của ḿnh cũng là một tác phẩm nghệ thuật đích thực.

            

THÂN TRỌNG SƠN

8/2010

 

 

art2all.net